THỰC TRẠNG tổ CHỨC CHÍNH QUYỀN địa PHƯƠNG tại VIỆT NAM - Pdf 45

MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT
DANH MỤC VIẾT TẮT.................................................................................2
LỜI MỞ ĐẦU..................................................................................................1
Chương I..........................................................................................................2
CÁC MÔ HÌNH TỔ CHÚC CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG TRÊN
THẾ GIỚI........................................................................................................2
1. Khái niệm chung................................................................................................................................. 2
2.Một số mô hình tổ chức chính quyền địa phương trên thế giới.............................................................2
2.1 Mô hình chính quyền địa phương ở nước Anh.................................................................................. 2
2.2 Mô hình chính quyền đia phương ở Mỹ............................................................................................ 3
2.3 Mô hình chính quyền địa phương ở Pháp.......................................................................................... 4
2.4 Mô hình chính quyền địa phương ở Cộng hoà Liên bang Đức...........................................................5

CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN ĐỊA
PHƯƠNG TẠI VIỆT NAM............................................................................6
1 . Giới thiệu chung về việt Nam............................................................................................................ 6
2. Khái niệm về tổ chức chính quyền địa phương tại Việt Nam...............................................................6
2.1. Khái niệm chính quyền địa phưong trong các văn kiện, văn bản pháp luật:......................................7
3.Thực trạng tổ chức chính quyền địa phương ở Việt Nam......................................................................8
3.1 . Tổ chức chính quyền địa phương ở cấp Cấp xã:..............................................................................8
3.2 . Tổ chức chính quyền địa phương ở cấp Cấp huyện:......................................................................10
3. 3. Tổ chức chính quyền địa phương ở cấp tỉnh................................................................................. 13
4. VAI TRÒ VÀ MÔ HÌNH TỔ CHỨC CHÍNH QUYÈN ĐỊA PHƯƠNG VIỆT NAM........................15

CHƯƠNG 3 : MỘT SỐ ĐÁNH GIÁ VÀ GIẢI PHÁP ĐÓNG GÓP
NHẰM NẦNG CAO HIỆU QUẢ CỦA TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN ĐỊA
PHƯƠNG Ở VIỆT NAM..............................................................................18
3.1. Một số ưu điểm:............................................................................................................................. 18
3.2 Một số tồn tại trong tổ chức, hoạt động của chính quyền địa phương Việt Nam...............................18
3.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả, đổi mới phương thức hoạt động........................................................20

trên cơ sở các cơ quan quyền lực nhà nước này theo quy định của pháp luật
nhằm quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội ở địa phương, trên cơ sở
nguyên tắc tập trung dân chủ và kết hợp hài hoà giữa lợi ích nhân dân địa
phương với lợi ích chung của cả nước.
Với nội dung tiểu luận, tôi mong muốn góp phần làm rõ hơn về cơ cấu
chính quyền địa phương tại Việt Nam, từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao
hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương Việt Nam trong giai đoạn
hiện nay theo xu hướng chung và phù hợp với Hiến pháp 2013.

1


Chương I.
CÁC MÔ HÌNH TỔ CHÚC CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG TRÊN
THẾ GIỚI
1. Khái niệm chung
Khái niệm chính quyền địa phương là khái niệm phái sinh từ khái niệm
hệ thống các cơ quan nhà nước ở địa phương. Khái niệm này được sử dụng
khá phố biến trong nhiều văn bản pháp luật của nhà nước. Là một khái niệm
được sử dụng nhiều trong tổ chức và hoạt động của nhà nước vào đời sống
thực tế xã hội, tuy nhiên hiện nay vẫn chưa có một văn bản pháp luật nào định
nghĩa khái niệm chính quyền địa phương bao gồm những thiết chế nào, mối
quan hệ và cơ chế hoạt động cụ thể của các bộ phận cấu thành
Hiện nay, trong khoa học pháp lý thế giới có rất nhiều quan điểm khác
nhau về vị trí vai trò của CQĐP. Có quan điểm cho rằng, CQĐP được xem xét
“như là một cành quyền lực thứ tư, chỉ phụ thuộc vào pháp luật và chịu sự xét
xử của toà án, không trực thuộc chính phủ và các cơ quan của chính phủ kể cả
từ trung ương lẫn địa phương”. Ngược lại với quan điểm này, có tác giả cho
rằng, xây dựng “nhà nước thịnh vượng chung” đòi hỏi phải có sự can thiệp
ngày càng sâu rộng vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội của các cơ

2.2 Mô hình chính quyền đia phương ở Mỹ
Mô hình hành chính địa phương của Nhà nước Mỹ áp dụng nguyên tắc
phân quyền một cách đậm đặc nhất. Địa phương ở Mỹ quốc được toàn quyền
giải quyết các công việc của mình mà không cần thiết có sự bảo trợ từ trung
ương. Sự phục tùng trung ương, cũng như việc giám sát trung ương đối với
địa phương chủ yếu bằng pháp luật và thông qua hoạt động xét xử của toà án.
Việc phân quyền tuyệt đối được thể hiện trước hết bằng việc các địa phương
thoải mái trong việc lựa chọn các mô hình tổ chức và hoạt động của mình.
Hiện nay, nước Mỹ có tới 4 mô hình tổ chức: Hội đồng và Thị trưởng mạnh;
Hội đồng và thị trưởng yếu; Ban quản đốc cùng với Hội đồng do dân bầu ra;

3


và Uỷ ban và Hội đồng cùng do dân bầu ra.
Khi soạn thảo Hiến pháp năm 1787, các nhà lập hiến Mỹ đã không đả
động đến hệ thống chính quyền đa cấp và đa dạng này. Trong khi vẫn coi cơ
cấu quốc gia là quan trọng nhất, họ đã khôn khéo thừa nhận sự cần thiết của
một loạt các cấp chính quyền có quan hệ trực tiếp hơn đến dân chủ và thích
ứng một cách nhạy bén hơn với các nhu cầu của họ. Do vậy, các chức năng
như quốc phòng, quản lý tiền tệ và các quan hệ đối ngoại, chỉ có thể kiểm soát
bằng một chính quyền mạnh. Nhưng những vấn đề khác, như hệ thống vệ
sinh, giáo dục và giao thông vận tải địa phương, thì chủ yếu thuộc phạm vi
quyền hạn của địa phương
2.3 Mô hình chính quyền địa phương ở Pháp
Mô hình này có đặc điểm là CQĐP bị song trùng giám sát của đại diện
chính quyền trung ương và của chính quyền cấp trên. Mô hình này được hình
thành, phát triển từ chế độ quân chủ chuyên chế. Thuở ban đầu của chế độ
phong kiến, CQĐP chỉ là các quan cai trị do Nhà Vua cử về địa phương nhằm
mục đích thực hiện hay giám sát sự thực hiện các quyết định của Nhà Vua, mà

chính quyền liên bang, 16 chính quyền bang (trong đó có ba bang là thành
phố là Berlin, Hamburg, Bremen) và CQĐP (có hai cấp CQĐP cấp cơ sở và
CQĐP cấp hạt). Ba cấp hành chính này độc lập với nhau. Theo Hiến pháp
Đức, CQĐP các cấp là một thực thể rất quan trọng trong hệ thống chính trị

5


CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN ĐỊA
PHƯƠNG TẠI VIỆT NAM
1 . Giới thiệu chung về việt Nam
Nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một dải đất hình chữ S,
nằm ở trung tâm khu vực Đông Nam Á, ở phía đông bán đảo Đông Dương,
phía bắc giáp Trung Quốc, phía tây giáp Lào, Campuchia, phía đông nam
trông ra biển Đông và Thái Bình Dương. Bờ biển Việt Nam dài 3 260 km,
biên giới đất liền dài 4 510 km. Trên đất liền, từ điểm cực Bắc đến điểm cực
Nam (theo đường chim bay) dài 1 650km, từ điểm cực Đông sang điểm cực
Tây nơi rộng nhất 600km (Bắc bộ), 400 km (Nam bộ), nơi hẹp nhất 50km
(Quảng Bình).
Kinh tuyến:
102º08'-109º28'đông
Vĩ tuyến: 8º 02' - 23º 23' bắc
Việt Nam là đầu mối giao thông từ Ấn Độ Dương sang Thái Bình
Dương.
2. Khái niệm về tổ chức chính quyền địa phương tại Việt Nam
Khái niệm chính quyền địa phương là một khái niệm được sử dụng
nhiều trong tổ chức và hoạt động của nhà nước vào đời sống thực tế xã hội,
tuy nhiên hiện nay vẫn chưa có một văn bản pháp luật nào định nghĩa khái
niệm chính quyền địa phương bao gồm những thiết chế nào, mối quan hệ và
cơ chế hoạt động cụ thể của các bộ phận cấu thành. Xuất phát từ góc độ

đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông
thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do luật định và căn
cứ Luật Tố chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 chính
quyền địa phương được tổ chức ở ba cấp tương ứng đối với các đơn vị hành
chính sau đây:
- Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh);

7


- Huyện, Quận, Thị xã, Thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện);
- Xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã).
Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại
diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân
địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan
nhà nước cấp trên. Hội đồng nhân dân quyết định các vấn đề của địa phương
do luật định; giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và
việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân.
Uỷ ban nhân dân ở cấp chính quyền địa phương do Hội đồng nhân dân
cùng cấp bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành
chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân và
cơ quan hành chính nhà nước cấp trên. Uỷ ban nhân dân tổ chức việc thi hành
Hiến pháp và pháp luật ở địa phương; tổ chức thực hiện nghị quyết của Hội
đồng nhân dân và thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước cấp trên giao.
Ngoài ra, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân thực hiện chế độ thông
báo tình hình của địa phương cho Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể
nhân dân, lắng nghe ý kiến, kiến nghị của các tổ chức này về xây dựng chính
quyền và phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương; phối hợp với Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân động viên Nhân dân cùng Nhà nước
thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh ở địa phương.

của hội đồng nhân dân gồm :
1. Hội đồng nhân dân xã gồm các đại biểu Hội đồng nhân dân do cử tri
ở xã bầu ra.
Việc xác định tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân xã được thực hiện
theo nguyên tắc sau đây:
a) Xã miền núi, vùng cao và hải đảo có từ một nghìn dân trở xuống
được bầu mười lăm đại biểu;
b) Xã miền núi, vùng cao và hải đảo có trên một nghìn dân đến hai

9


nghìn dân được bầu hai mươi đại biểu;
c) Xã miền núi, vùng cao và hải đảo có trên hai nghìn dân đến ba nghìn
dân được bầu hai mươi lăm đại biểu; có trên ba nghìn dân thì cứ thêm một
nghìn dân được bầu thêm một đại biểu, nhưng tổng số không quá ba mươi
lăm đại biểu;
d) Xã không thuộc quy định tại các điểm a, b và c khoản này có từ bốn
nghìn dân trở xuống được bầu hai mươi lăm đại biểu; có trên bốn nghìn dân
thì cứ thêm hai nghìn dân được bầu thêm một đại biểu, nhưng tổng số không
quá ba mươi lăm đại biểu.
2. Thường trực Hội đồng nhân dân xã gồm Chủ tịch Hội đồng nhân
dân, một Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân. Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân
xã là đại biểu Hội đồng nhân dân hoạt động chuyên trách.
3. Hội đồng nhân dân xã thành lập Ban pháp chế, Ban kinh tế - xã hội.
Ban của Hội đồng nhân dân xã gồm có Trưởng ban, một Phó Trưởng ban và
các Ủy viên. Số lượng Ủy viên của các Ban của Hội đồng nhân dân xã do Hội
đồng nhân dân xã quyết định. Trưởng ban, Phó Trưởng ban và các Ủy viên
của các Ban của Hội đồng nhân dân xã hoạt động kiêm nhiệm.
Bộ máy giúp việc của Ủy ban nhân dân cấp xã có các công chức: Tư

a) Huyện miền núi, vùng cao, hải đảo có từ bốn mươi nghìn dân trở
xuống được bầu ba mươi đại biểu; có trên bốn mươi nghìn dân thì cứ thêm
năm nghìn dân được bầu thêm một đại biểu, nhưng tổng số không quá bốn
mươi đại biểu;
b) Huyện không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này có từ
tám mươi nghìn dân trở xuống được bầu ba mươi đại biểu; có trên tám mươi
nghìn dân thì cứ thêm mười nghìn dân được bầu thêm một đại biểu, nhưng
tổng số không quá bốn mươi đại biểu;
c) Số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân ở huyện có từ ba mươi đơn vị

11


hành chính cấp xã trực thuộc trở lên do Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết
định theo đề nghị của Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, nhưng tổng
số không quá bốn mươi lăm đại biểu.
2. Thường trực Hội đồng nhân dân huyện gồm Chủ tịch Hội đồng nhân
dân, hai Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân và các Ủy viên là Trưởng ban của
Hội đồng nhân dân huyện. Chủ tịch Hội đồng nhân dân huyện có thể là đại
biểu Hội đồng nhân dân hoạt động chuyên trách; Phó Chủ tịch Hội đồng nhân
dân huyện là đại biểu Hội đồng nhân dân hoạt động chuyên trách.
3. Hội đồng nhân dân huyện thành lập Ban pháp chế, Ban kinh tế - xã
hội; nơi nào có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số thì thành lập Ban dân tộc. Ủy
ban thường vụ Quốc hội quy định tiêu chuẩn, điều kiện thành lập Ban dân tộc
quy định tại khoản này.
Ban của Hội đồng nhân dân huyện gồm có Trưởng ban, một Phó
Trưởng ban và các Ủy viên. Số lượng Ủy viên của các Ban của Hội đồng
nhân dân huyện do Hội đồng nhân dân huyện quyết định. Trưởng ban của Hội
đồng nhân dân huyện có thể là đại biểu Hội đồng nhân dân hoạt động chuyên
trách; Phó Trưởng ban của Hội đồng nhân dân huyện là đại biểu Hội đồng

quan.
3. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan hành chính nhà nước ở
trung ương ủy quyền.
4. Kiểm tra, giám sát tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương
ở các đơn vị hành chính trên địa bàn.
5. Chịu trách nhiệm trước cơ quan nhà nước cấp trên về kết quả thực
hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở tỉnh.
6. Phối hợp với các cơ quan nhà nước ở trung ương, các địa phương

13


thúc đẩy liên kết kinh tế vùng, thực hiện quy hoạch vùng, bảo đảm tính thống
nhất của nền kinh tế quốc dân.
7. Quyết định và tổ chức thực hiện các biện pháp nhằm phát huy quyền
làm chủ của Nhân dân, huy động các nguồn lực xã hội để xây dựng và phát
triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn tỉnh.
Đây là chính quyền của các địa phương cấp tỉnh và thành phố trực
thuộc Trung ương, được phap luật quy định cơ cấu tổ chức gồm Ủy ban nhân
dân có từ 11 đến 17 thành viên, gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, 1 ủy viên thư
ký và các ủy viên khác. Thường trực ủy ban Nhân dân cấp tỉnh gồm Chủ tịch,
các Phó Chủ tịch, và ủy viên thư ký. Người đứng đầu chính quyền địa phương
cấp tỉnh là Chủ tịch úy ban Nhân dân. Trên danh nghĩa, vị trí này do Hội đồng
nhân dân tỉnh quyết định bằng bầu cử theo hình thức bỏ phiếu. Giúp việc cho
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là các Sở, ngành tỉnh.Theo luật tổ chức chính quyền
địa phương năm 2015 thì cơ cấu tổ chức của hội đồng nhân dân được quy
định như sau :
1. Hội đồng nhân dân tỉnh gồm các đại biểu Hội đồng nhân dân do cử
tri ở tỉnh bầu ra.
Việc xác định tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh được thực hiện

vị bầu cử hợp thành Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân. Số lượng Tổ đại biểu Hội
đồng nhân dân, Tổ trưởng và Tổ phó của Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân do
Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định.
Về cơ cấu tổ chức của Ủy ban nhân dân được quy định như cụ thể như
Ủy ban nhân dân tỉnh gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các Ủy viên.Ủy ban
nhân dân tỉnh loại I có không quá bốn Phó Chủ tịch; tỉnh loại II và loại III có
không quá ba Phó Chủ tịch.Ủy viên Ủy ban nhân dân tỉnh gồm các Ủy viên là
người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, Ủy viên
phụ trách quân sự, Ủy viên phụ trách công an.
4. VAI TRÒ VÀ MÔ HÌNH TỔ CHỨC CHÍNH QUYÈN ĐỊA

15


PHƯƠNG VIỆT NAM
* Vai trò
Chính quyền địa phương ở Việt Nam có vai trò hai mặt. Một mặt, với
tư cách là một bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước thống nhất, chính
quyền địa phương thay mặt nhà nước tổ chức quyền lực, thực thi nhiệm vụ
quản lý trên lãnh thố địa phương trong cơ cấu quyền lực nhà nước thống nhất
trên lãnh thổ Việt Nam. Mặt khác, chính quyền địa phương lại là cơ quan do
nhân dân địa phương lập ra (trực tiếp và gián tiếp) để thực hiện các nhiệm vụ
ở địa phương nhằm phục vụ nhu cầu của nhân dân địa phương trên cơ sở các
quy định của Hiến pháp, luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên.
Vai trò như vậy
của chính quyền địa phương được thể hiện tập trung về nguyên tắc tập
trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước, của bộ
máy nhà nước nói chung. Trong đó, tập trung thống nhất là yếu tố có tính chủ
đạo. Tư tưởng cơ bản trong tố chức chính quyền địa phương theo nguyên tắc
đó là vừa bảo đảm sự tập trung thống nhất, vừa phát huy vai trò chủ động tích

ương, xã, thị trấn; ở quận, phường tổ chức UBND mà không tổ chức HĐND,
chức năng đại diện, giám sát, quyết định các vấn đề ở địa phương do HĐND
thành phố, thị xã đảm nhiệm.
Phương án 2 là HĐND, UBND được tổ chức ở các đơn vị hành chính
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc
tỉnh, đơn vị hành chính tương đương thuộc thành phố trực thuộc trung ương,
xã, phường, thị trấn.

17


CHƯƠNG 3 : MỘT SỐ ĐÁNH GIÁ VÀ GIẢI PHÁP ĐÓNG GÓP
NHẰM NẦNG CAO HIỆU QUẢ CỦA TỔ CHỨC CHÍNH
QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG Ở VIỆT NAM
3.1. Một số ưu điểm:
- Từng bước sắp xếp, kiện toàn hợp lý hơn tổ chức, bộ máy theo hướng
tinh, gọn. số lượng đầu mối các bộ, ban, ngành giảm.
- Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ, lề lối làm việc được
quy định cụ thể hơn, đã có sự điều chỉnh, bổ sung hợp lý, phân định rõ ràng
hơn. Chức năng, nhiệm vụ các bộ, cơ quan ngang bộ tiếp tục được hoàn thiện,
khắc phục cơ bản sự trùng lắp, dẫm đạp; các bộ được tồ chức theo mô hình
quản lý đa ngành, đa lĩnh vực đã hoạt động ồn định, cơ chế phối hợp tốt hơn,
hiệu lực, hiệu quả được nâng lên, phân biệt rõ hơn chức năng quản lý nhà
nứơc và quản lý sản xuất kinh doanh, tách dần hoạt động hành chính với hoạt
động các đơn vị kinh tế, sự nghiệp và dịch vụ công.
- Chất lượng đội ngũ cán bộ công chức nhìn chung được nâng lên một
bước về trình độ lý luận chính trị, học vấn ,chuyên môn nghiệp vụ. Đa số cán
bộ công chức giữ gìn phẩm chất chính trị và đạo đức, lối sống, thích ứng dần
với cơ chế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế.
Những tiến bộ đó đã góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý

hướng “vượt rào” muốn giao nhiều thẩm quyền hơn song lại không thực sự
kiểm soát được UBND một cách chặt chẽ.
Nhìn tổng thể, cho đến nay, Việt Nam vẫn đang áp dụng mô hình chính
quyền địa phương là “cánh tay nối dài” của nhà nước trung ương. Mô hình
này bảo đảm được tính thống nhất cao độ nhưng không thực sự phát huy được
tính sáng tạo, chủ động của địa phương.

19


3.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả, đổi mới phương thức hoạt động
3.3.1 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả của
chính quyền địa phương
- Xuất phát từ vị trí, vai trò của chính quyền địa phương (tổ chức thực
hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước...) nâng cao
năng lực, hiệu lực, hiệu quả của chính quyền địa phương có ý nghĩa nâng cao
vai trò của Đảng, hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước nói chung.
- Do yêu cầu xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
- Do yêu cầu thực hiện dân chủ
- Do yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN
- Do yêu cầu mở rộng hội nhập quốc té
- Xuất phát từ thực trạng năng lực, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của
chính quyền địa phương
+ chức năng nhiệm vụ
+ Cơ cấu tổ chức
+ Đội ngũ cán bộ, công chức (năng lực, phẩm chất)
+ phương thức hoạt động
Nhìn chung, tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương còn ảnh
hưởng nặng mô hình hành chính truyền thống, nặng tính tập trung quan liêu,
hiệu lực, hiệu quả thấp

nhân dân lại thể hiện rõ tính tập trung về trung ương, về cấp trên. Thực tế là
trung ương và cấp trên không thể nắm, không thể quản được địa phương. Còn
địa phương và cấp dưới cũng không có được quyền chủ động, phát huy sự sáng
tạo, năng động trong việc giải quyết kịp thời những vấn đề bức xúc của mình
nên phải “xé rào” như một số địa phương đã làm trong thời gian vừa qua. Cần
nghiên cứu để giải quyết triệt để vấn đề này. Do đó, cần thực hiện phân cấp cho
chính quyền địa phương cần đồng bộ, thẩm quyền đi đôi với trách nhiệm,

21


phân cấp nhưng vẫn phải đảm bảo sự quản lý tập trung, thống nhất của chính
quyền Trung ương, phân cấp đi đôi với việc tăng cường kiểm tra, giám sát của
trung ương, với việc đề cao trách nhiệm của người đứng đầu các cấp chính
quyền địa phương.
- Cần có sự phân biệt Chính quyền địa phương giữa các vùng lãnh thổ,
nghiên cứu và giải quyết dứt điểm mô hình tổ chức chính quyền ở địa bàn
nông thôn và đô thị, chứ không thể tổ chức như nhau trong khi giữa hai địa
bàn này có nhiều khác nhau về điều kiện kinh tế, địa lý, dân cư, kết cấu hạ
tầng, nhất là thành phố trực thuộc trung ương còn có vị trí, vai trò của một
trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá, khoa học v.v.., có ảnh hưởng đối với cả
một vùng, cũng như đối với cả nước. Mạnh dạn phân cấp, phát huy vai trò
quyết định và khả năng chịu trách nhiệm trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội,
nguồn lực, ngân sách, biên chế cho chính quyền địa phương; giao đủ thẩm
quyền và tạo cơ chế bảo đảm thực quyền của HĐND các cấp nhưng đồng thời
tăng cường công tác kiểm tra, giám sát;
- Việc phân chia đơn vị hành chính lãnh thổ ở nước ta những năm vừa
qua chưa được giải quyết thoả đáng về lý luận và thực tế. Vì thế nên mới có
chuyện khi thì ồ ạt sáp nhập tỉnh (năm 1980 cả nước có 36 tỉnh, ba thành phố
trực thuộc trung ương và một đặc khu Vũng Tàu-Côn Đảo) để rồi sau đó lần

về số lượng, nâng cao chất lượng hoạt động; bố trí Trưởng ban, Phó Trưởng
ban HĐND cấp tỉnh và Trưởng ban HĐND cấp huyện hoạt động chuyên
trách.
- Đối mới, kiện toàn bộ máy hành chính nhà nước địa phương nói riêng
và bộ máy hành chính nói chung không chỉ là vẩn đề cơ cấu tố chức bộ máy,
mà còn là cơ chế hoạt động chế độ trách nhiệm, lề lối làm việc, các mối quan
hệ trên dưới, ngang dọc, đặc biệt hiện nay là tính công khai minh bạch, đảm
bảo chính quyền trong sạch. Có lẽ không một lĩnh vực nào mà bệnh quan liêu
hoá, lạm quyền lực có nhiều nguy cơ xuất hiện và phát triển như trong lĩnh

23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status