MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Chính quyền địa phương là bộ phận quan trọng trong việc cấu thành bộ
máy nhà nước hoàn chỉnh. Chính quyền địa phương trực tiếp giải quyết công
việc cụ thể của dân, bảo đảm khối đại đoàn kết toàn dân, góp phần vào sự ổn
định và phát triển đất nước. Thực tiễn cho thấy ở đâu chính quyền địa phương
mạnh, ở đó mọi chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước được chấp
hành nghiêm chỉnh, quyền làm chủ của nhân dân được phát huy, ở đâu chính
quyền địa phương yếu kém thì ở đó phong trào quần chúng kém phát triển,
đời sống của nhân dân gặp nhiều khó khăn.
Hiện nay, Đảng đã đề ra chủ chương thực hiện Chương trình tổng thể
cải cách hành chính giai đoạn 2011-2020, có đề cập đến nội dung đổi mới tổ
chức và hoạt động của chính quyền địa phương. Tuy nhiên trên thực tế việc
cải cách tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương diễn ra khá chậm,
thiếu đồng bộ và lúng túng, vướng mắc trong cả nhận thức và triển khai, chưa
đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa và xây dựng hoàn thiện nhà nước pháp quyền của dân, do dân,
vì dân trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa.
Đặc biệt chính quyền địa phương với vai trò là đại diện cho quyền lực
nhà nước địa phương, đại diện cho cấp hành chính – lãnh thổ trong mối quan
hệ với cấp trên, cần điều chỉnh cơ cấu chính quyền địa phương cho phù hợp
với những thay đổi chức năng, nhiệm vụ. Phân biệt rõ những khác biệt giữa
chính quyền nông thôn và chính quyền đô thị để tổ chức phù hợp.
Với những lí do trên, tôi lựa chọn đề tài: “Thực trạng tổ chức chính
quyền địa phương tỉnh Phú Thọ năm 2016 , giải pháp đổi mới và hoàn
thiện tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương tỉnh Phú Thọ” để
làm bài tiểu luận nhằm tìm hiểu thực trạng chính quyền địa phương của tỉnh
và đề xuất phương hướng và những giải pháp cụ thể để tiếp tục đổi mới tổ
thích theo 2 nghĩa: “1. Quyền điều khiển bộ máy Nhà nước. Nắm chính
quyền. Chính quyền trong tay nhân dân. 2. Bộ máy điều khiển, quản lý công
việc của Nhà nước. Chính quyền dân chủ. Các cấp chính quyền”.
Địa phương là một thuật ngữ để chỉ một vùng không gian lãnh thổ gắn
với những đặc điểm về địa lý, đất đai, con người, phong tục tập quán hay
những đặc điểm về kinh tế. Lịch sử hình thành địa phương là cơ sở cho việc
hình thành các cộng đồng lãnh thổ, các cấp quản lý hành chính và chính
quyền địa phương. Nếu hiểu theo cách giải thích chung về “chính quyền” như
ở từ điển này thì “chính quyền địa phương” có thể hiểu là tất cả các cơ quan
của Nhà nước được tổ chức ra ở địa phương để điều khiển, quản lý công việc
của Nhà nước ở địa phương.
Thực chất, để hiểu rõ về “chính quyền địa phương” cần phải đặt nó
trong mối quan hệ với “chính quyền trung ương”. Trên phương diện này, có 2
4
quan niệm mang tính phổ biến. Quan điểm thứ nhất cho rằng các cơ quan ở
địa phương là một dạng “quyền lực thứ tư” đặc biệt chỉ liên quan đến pháp
luật và kiểm tra tư pháp mà không trực thuộc cấp hành chính ở trung ương.
Theo đó, hành chính địa phương có nghĩa là người địa phương tự lo liệu công
việc của địa phương. Chính quyền địa phương bao gồm các nhà chức trách
xuất thân tại địa phận nơi họ đang thi hành công vụ vì họ hiểu hơn ai hết nhu
cầu của dân trong vùng. Chính quyền trung ương trong trường hợp này công
nhận tính tự quản của địa phương và giao cho họ quyền tự lo liệu các công
việc của địa phương.
Quan điểm thứ hai cho rằng chính quyền địa phương chỉ là một dạng tổ
chức của Nhà nước tại địa phương và là bộ phận cấu thành của hệ thống nhà
nước nói chung. Vì các cơ quan địa phương được Nhà nước giao thẩm quyền
nên điều đó có nghĩa là các thẩm quyền này có nguồn gốc từ quyền lực nhà
quan đại diện quyền lực nhà nước ở địa phương do nhân dân địa phương
trực tiếp bầu ra (HĐND) và các cơ quan, tổ chức nhà nước khác được thành
lập trên cơ sở các cơ quan đại diện quyền lực nhà nước này theo qui định của
pháp luật (UBND, các cơ quan chuyên môn thuộc UBND, Thường trực
HĐND, các ban của HĐND …), nhằm quản lý các lĩnh vực của đời sống xã
hội ở địa phương, trên cơ sở nguyên tắc tập trung dân chủ và kết hợp hài hòa
giữa lợi ích của nhân dân địa phương với lợi ích chung của cả nước”.
1.2 Vai trò của chính quyền địa phương
Chính quyền địa phương là một tổ chức hành chính có tư cách pháp
nhân được hiến pháp và pháp luật công nhận sự tồn tại vì mục đích quản lý
một khu vực nằm trong một quốc gia. Chính quyền địa phương ở Việt Nam có
vai trò hai mặt, một mặt với tư cách là một bộ phận cấu thành bộ máy nhà
nước thống nhất, chính quyền địa phương thay mặt nhà nước tổ chức quyền
lực, thực thi nhiệm vụ quản lý trên lãnh thổ Việt Nam. Mặt khác, chính quyền
địa phương lại là cơ quan do nhân dân dân địa phương lập ra ( trực tiếp hoặc
6
gián tiếp ) để thực hiện các nhiệm vụ ở địa phương nhằm phục vụ nhu cầu của
nhân dân địa phương trên cơ sở các quy định của Hiến pháp, luật và các văn
bản của cơ quan nhà nước cấp trên.
Trên cơ sở như vậy, chính quyền địa phương được thể hiện tập chung
về nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan
nhà nước, bộ máy nhà nước nói chung. Trong đó, tập trung thống nhất là yếu
tố có tính chủ đạo. Tư tưởng cơ bản trong tổ chức chính quyền địa phương
theo nguyên tắc đó là vừa đảm bảo sự tập trung thống nhất, vừa phát huy vai
trò chủ động tích cực của địa phương.
1.3 Mối quan hệ giữa trung ương và chính quyền địa phương
Hiến pháp năm 2013 quy định cụ thể:“Chính phủ là cơ quan hành chính
nhà nước cấp trên với các điều kiện bảo đảm thực hiện nhiệm vụ đó” (Khoản
3 Điều 111).
Về mặt tổ chức: Quan hệ về tổ chức giữa Chính phủ - Chính quyền địa
phương thể hiện qua việc thành lập các cơ quan địa phương, việc tồn tại các
cơ quan tản quyền của Chính phủ tại địa phương, trong quy chế công chức địa
phương.
Mối quan hệ giữa Chính phủ và chính quyền địa phương thể hiện trực
tiếp và rõ rệt nhất thông qua khâu cuối cùng: hoạt động giám sát của Chính
phủ đối với địa phương. Không có nền hành pháp nào hoàn toàn tách rời các
lãnh thổ hành chính của mình.
Như vậy nếu quan hệ của Chính phủ với chính quyền địa phương vẫn
tồn tại trong trục hoạt động hành chính, thì việc Chính phủ có chức năng thực
hiện quyền hành pháp sẽ thúc đẩy mạnh mẽ đến diễn tiến mối quan hệ này
trong tương lai. Khi mà địa vị của Chính phủ được đề cao, quyền hành pháp
được giao về Chính phủ, người ta có thể hình dung ra một Chính phủ cầm lái
chứ không chèo thuyền và mối quan hệ với địa phương sẽ không còn là “cầm
tay chỉ việc” mà dựa trên nền tảng tôn trọng quyền tự quản và định hướng
8
9
Chương 2
THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG Ở TỈNH
PHÚ THỌ
2.1 Khái quát chng về tỉnh Phú Thọ
Vị trí địa lí: Phú Thọ là tỉnh thuộc vùng đông bắc Việt Nam.
Phía Bắc giáp tỉnh Tuyên Quang và Yên Bái, phía đông giáp tỉnh Vĩnh Phúc,
Tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trên địa bàn
tỉnh.
Quyết định những vấn đề của tỉnh trong phạm vi được phân quyền,
phân cấp theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên
quan.
Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan hành chính nhà nước ở
trung ương ủy quyền.
Kiểm tra, giám sát tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương ở
các đơn vị hành chính trên địa bàn.
Chịu trách nhiệm trước cơ quan nhà nước cấp trên về kết quả thực hiện
các nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở tỉnh.
Phối hợp với các cơ quan nhà nước ở trung ương, các địa phương thúc
đẩy liên kết kinh tế vùng, thực hiện quy hoạch vùng, bảo đảm tính thống nhất
của nền kinh tế quốc dân.
Quyết định và tổ chức thực hiện các biện pháp nhằm phát huy quyền
11
làm chủ của Nhân dân, huy động các nguồn lực xã hội để xây dựng và phát
triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn tỉnh.
2.2.2. Cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ quyền hạn của Hội đồng nhân
dân tỉnh Phú Thọ
Cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ quyền hạn của Hội đồng nhân dân tỉnh Phú
Thọ được tổ chức và thực hiện theo Điều 18, 19 Luật tổ chức chính quyền địa
phương 2015, cụ thể như sau:
2.2.2.1. Cơ cấu tổ chức HĐND tỉnh Phú Thọ
Cơ cấu tổ chức Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh Phú Thọ
nhiệm kì 2016-2011:
Chủ tịch Hội đồng nhân dân: Đồng chí Hoàng Dân Mạc
kinh tế, tổ chức xã hội ở địa phương cung cấp những thông tin, tài liệu cần
thiết liên quan đến hoạt động giám sát. Các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm
đáp ứng yêu cầu của các Ban của Hội đồng nhân dân;
+ Báo cáo kết quả hoạt động giám sát với Thường trực Hội đồng nhân
dân khi cần thiết.
Đại biểu Hội đồng nhân dân
13
Tổng số đại biểu HĐND tỉnh Phú Thọ nhiệm kì 2016-2021 có 79 đại
biểu. Trong đó:
- Nữ là 21 người, chiếm tỷ lệ là 26.58%
- Trình độ văn hóa: trung học phổ thông: 56,52%; trung học cơ sở:
43,11%; tiểu học: 0,8%.
- Trình độ chuyên môn: từ đại học trở lên: 3,92%; trung cấp: 17,99%;
sơ cấp: 4,68%; chưa qua đào tạo: 74,41%.
- Cơ cấu ngành nghề: đại biểu là công chức, viên chức Nhà nước:
19,52%; đại biểu nông nghiệp: 44,61%; đại biểu chuyên trách đoàn thể:
11,65%; đại biểu đang công tác tại các doanh nghiệp: 0,43%.
- Đại biểu theo tôn giáo: 4,28%
Danh sách 79 đại biểu HĐND tỉnh Phú Thọ nhiệm kỳ 2016-2021 bao
gồm:
1. Vương Thị Bẩy, Giám đốc Kho bạc Nhà nước tỉnh Phú Thọ
2. Bùi Minh Châu, Chủ tịch UBND tỉnh
3. Nguyễn Kim Chi, Tổng Biên tập báo Phú Thọ
4. Nguyễn Tuấn Cường (Thượng tọa Thích Minh Nghiêm), Trưởng Ban
Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Phú Thọ
5. Hồ Đại Dũng, Giám đốc Sở KH&ĐT
6. Ngô Tố Dụng, Chán án TAND tỉnh
26. Nguyễn Thị Thanh Huyền, Trưởng Ban Dân vận Tỉnh ủy
27. Đinh Văn Huynh, Chánh Văn phòng Huyện ủy Tân Sơn
28. Nguyễn Trung Kiên, Chánh Văn phòng Tỉnh ủy
29. Phạm Xuân Khai, Trưởng Ban Nội chính Tỉnh ủy
30. Lê Kim Khánh, Bí thư Thị ủy Phú Thọ
31. Nguyễn Văn Khỏe, Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy
32. Hàn Trung Kết, Chủ tịch Liên đoàn Lao động huyện Phù Ninh
33. Nguyễn Quang Lâm, Giám đốc Công ty Điện lực Phú Thọ
34. Nguyễn Thị Hồng Lâm, Chủ tịch Liên đoàn Lao động tỉnh
35. Vi Trọng Lễ, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh
36. Nguyễn Thanh Loan, Đoàn Kịch nói tỉnh Phú Thọ
37. Phạm Thị Kim Loan, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Tuyên giáo
Tỉnh ủy
38. Hoàng Dân Mạc, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh
16
39. Phạm Thị Thanh Mai, Chủ tịch UBMTTQ thị xã Phú Thọ
40. Nguyễn Huy Ngọc, Phó Giám đốc Sở Y tế
41. Bùi Đức Nhẫn, Giám đốc Sở LĐTB&XH
42. Nguyễn Đức Nhất, Bí thư Huyện đoàn Hạ Hòa
43. Hồ Thị Nhung, Trung tâm Y tế huyện Thanh Sơn
44. Mai Thị Oanh, giáo viên Trường THCS Tiên Phong, huyện Đoan
Hùng
45. Đào Văn Phùng, Bí thư Huyện ủy Phù Ninh
46. Trần Thanh Phương, Giám đốc HTX Vận tải Hồng Đà, huyện Tam
Nông
47. Bùi Văn Quang, Phó Chủ tịch UBND tỉnh
48. Hà Đức Quảng, Bí thư Huyện ủy Yên Lập
18
69. Phạm Tú, Trưởng Phòng Tổng hợp Văn phòng Tỉnh ủy Phú Thọ
70. Nguyễn Minh Tuấn, Phó Chủ tịch UBND huyện Cẩm Khê
71. Trần Ngọc Tuấn, Chính ủy Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh
72. Phạm Thanh Tùng, Bí thư Tỉnh đoàn
73. Nguyễn Minh Tường, Giám đốc Sở GD&ĐT
74. Nguyễn Xuân Tường, Bí thư Huyện ủy Lâm Thao
75. Hoàng Văn Tuyến, Chủ tịch các Hội Liên hiệp KH&KT tỉnh
76. Phạm Quang Tuyến, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Supe phốt
phát và Hóa chât Lâm Thao
77. Dương Thị Thu Vân, Phó Trưởng Ban Dân vận Tỉnh ủy
78. Phan Thị Xuân, Chủ tịch UBND xã Hữu Đô, huyện Đoan Hùng
79. Nguyễn Xuân Yên, Chủ tịch Hội LHPN huyện Thanh Ba
2.2.2.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân tỉnh Phú Thọ
Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân tỉnh trong tổ chức và
bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật:
Ban hành nghị quyết về những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của
Hội đồng nhân dân tỉnh;
Quyết định biện pháp bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh, phòng,
chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác, phòng, chống quan
19
liêu, tham nhũng trong phạm vi được phân quyền; biện pháp bảo vệ tài sản
của cơ quan, tổ chức, bảo hộ tính mạng, tự do, danh dự, nhân phẩm, tài sản,
các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân trên địa bàn tỉnh;
Quyết định biện pháp để thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn do cơ
dân, Ủy ban nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập của Ủy ban nhân dân các
cấp trên địa bàn tỉnh theo chỉ tiêu biên chế được Chính phủ giao; quyết định
số lượng và mức phụ cấp đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp
xã, ở thôn, tổ dân phố và phê duyệt tổng số lượng người làm việc trong đơn vị
sự nghiệp công lập thuộc phạm vi quản lý của tỉnh theo quy định của Chính
phủ;
Quyết định thành lập, giải thể, nhập, chia thôn, tổ dân phố; đặt tên, đổi
tên thôn, tổ dân phố, đường, phố, quảng trường, công trình công cộng ở địa
phương theo quy định của pháp luật.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân tỉnh trong lĩnh vực
kinh tế, tài nguyên, môi trường:
Quyết định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội dài hạn, trung hạn và
hằng năm của tỉnh; quy hoạch, kế hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực trên
địa bàn tỉnh trong phạm vi được phân quyền;
Quyết định dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn; dự toán thu,
chi ngân sách địa phương và phân bổ dự toán ngân sách cấp mình; điều chỉnh
dự toán ngân sách địa phươngtrong trường hợp cần thiết; phê chuẩn quyết
21
toán ngân sách địa phương. Quyết định chủ trương đầu tư, chương trình dự án
của tỉnh theo quy định của pháp luật;
Quyết định các nội dung liên quan đến phí, lệ phí theo quy định của
pháp luật; các khoản đóng góp của Nhân dân; quyết định việc vay các nguồn
vốn trong nước thông qua phát hành trái phiếu địa phương, trái phiếu đô thị,
trái phiếu công trình và các hình thức huy động vốn khác theo quy định của
pháp luật;
Quyết định chủ trương, biện pháp cụ thể để khuyến khích, huy động
các thành phần kinh tế tham gia cung cấp các dịch vụ công trên địa bàn tỉnh
thể dục, thể thao trên địa bàn tỉnh trong phạm vi được phân quyền.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân tỉnh trong lĩnh vực y
tế, lao động và thực hiện chính sách xã hội:
Quyết định biện pháp phát triển hệ thống cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
thuộc tuyến tỉnh, tuyến huyện, tuyến xã;
Quyết định giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh đối với cơ sở khám
bệnh, chữa bệnh của Nhà nước thuộc phạm vi quản lý của địa phương theo
quy định của pháp luật;
Quyết định biện pháp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân; bảo vệ và
chăm sóc người mẹ, trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo, trẻ
mồ côi không nơi nương tựa và người có hoàn cảnh khó khăn khác. Quyết
23
định biện pháp phòng, chống dịch bệnh; biện pháp thực hiện chính sách dân
số và kế hoạch hóa gia đình trên địa bàn tỉnh;
Quyết định biện pháp quản lý, sử dụng và phát triển nguồn nhân lực ở
địa phương; biện pháp tạo việc làm, nâng cao năng suất lao động, tăng thu
nhập và cải thiện điều kiện làm việc, bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động;
Quyết định chính sách thu hút, khuyến khích đối với cán bộ, công chức,
viên chức, người lao động làm việc tại địa phương phù hợp với điều kiện, khả
năng ngân sách của địa phương và quy định của cơ quan nhà nước cấp trên;
Quyết định biện pháp thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có
công với cách mạng; biện pháp thực hiện chính sách an sinh xã hội và phúc
lợi xã hội, biện pháp xóa đói, giảm nghèo.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân tỉnh về công tác dân
tộc, tôn giáo:
Quyết định biện pháp thực hiện chính sách dân tộc, cải thiện đời sống
vật chất và tinh thần, nâng cao dân trí của đồng bào dân tộc thiểu số, bảo đảm
của Hội đồng nhân dân cấp huyện.
Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.
2.2.3. Cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ quyền hạn của Ủy ban nhân dân
tỉnh Phú Thọ
25