BÀI GIẢNG NHÀ nước và PHÁP LUẬT đổi mới tổ CHỨC và HOẠT ĐỘNG của CHÍNH QUYỀN địa PHƯƠNG ở nước TA CHUYÊN đề SAU đại học - Pdf 42

ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG Ở NƯỚC TA
Phần 1. Ý ĐỊNH BÀI GIẢNG
I. MỤC ĐÍCH YÊU CẦU
1. Mục đích:
Chủ đề nhằm trang bị cho người học những kiến thức cơ bản, chuyên sâu về
lịch sử ra đời và phát triển của bộ máy CQĐP; cơ cấu tổ chức cũng như cơ chế
hoạt động của hệ thống bộ máy hành chính quyền địa phương ở nước ta theo 4 bản
Hiến pháp; đồng thời thấy được cơ sở khách quan của việc đổi mới tổ chức và hoạt
động của CQĐP nước ta hiện nay, trên cơ sở đó góp phần tham gia vào việc tham
gia xây dựng địa phương nơi đóng quân, góp phần xây dựng và hoàn thiện Nhà
nước nói chung.
2. Yêu cầu:
- Người học nắm được khái lược quá trình tổ chức, phát triển bộ máy chính
quyền địa phương nước ta theo 4 bản Hiến pháp
- Nắm được cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của chính quyền địa phương
hiện nay
- Sự cần thiết và những yêu cầu đổi mới tổ chức và hoạt động của chính
quyền địa phương trong giai đoạn mới
II. NỘI DUNG gồm 3 phần:
1. Khái lược quá trình phát triển của chính quyền địa phương nước ta
2. Tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ quan chính quyền địa phương
3. Đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ quan chính quyền địa
phương hiện nay
Trọng tâm phẩn 3
III. Tài liệu nghiên cứu:
1. Học viện Chính trị - Tập bài giảng Nhà nước pháp quyền (dùng cho đào
tạo cao học xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước) – H. 12.2013


2



3
- Sắc lệnh số 77 ngày 21-12-1945 về tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban
hành chính thành phố, khu phố.
Ngày 9-11-1946, Quốc hội chính thức thông qua bản Hiến pháp đầu tiên
của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Hiến pháp đã kế thừa và khẳng định mô
hình tổ chức chính quyền địa phương được ghi nhận tại hai Sắc lệnh số 63 và số
77 năm 1945.
Trong 7 chương với 70 điều của Hiến pháp 1946, Hiến pháp đã dành một
chương riêng với 6 điều (Chương V “Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính”
từ Điều 57 đến Điều 62) để quy định về tổ chức chính quyền địa phương. Nghiên
cứu các quy định của Hiến pháp 1946 có thể khái quát về mô hình tổ chức chính
quyền địa phương như sau:
a) Về phân chia đơn vị hành chính theo Hiến pháp 1946
Khác với bốn bản Hiến pháp 1959, 1980, 1992 và 2013 sau này, Hiến pháp
1946 quy định về các đơn vị hành chính có những điểm độc đáo là:
Thứ nhất, Hiến pháp 1946, một mặt kiên quyết phủ nhận âm mưu chính trị thâm
độc “chia để trị” của thực dân Pháp (chia nước ta ra ba kỳ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ và
Nam Kỳ) nhằm chia rẽ khối đoàn kết của nhân dân Việt Nam để chúng dễ bề cai trị.
Nhưng mặt khác, “về phương diện hành chính”, nhà nước kiểu mới cũng cần kế thừa,
tiếp tục duy trì đơn vị hành chính này để quản lý đất nước cho hiệu quả và kịp thời.
Vì vậy, Hiến pháp 1946 khẳng định: “Đất nước Việt Nam là một khối thống nhất
Trung Nam Bắc không thể phân chia” (Điều 2), nhưng về phương diện hành chính,
nước Việt Nam “gồm có ba bộ: Bắc, Trung, Nam” (Điều 57). Bộ là loại đơn vị hành
chính có tính chất vùng, miền cần phải có ở những quốc gia có diện tích tương đối
rộng lớn và nhất là trải dài như nước ta. Sau này, để đáp ứng và phù hợp với điều kiện
kháng chiến chống thực dân Pháp, chúng ta đã chia các bộ thành các đơn vị hành
chính - kháng chiến là khu, rồi liên khu và thiết lập cơ quan hành chính ở các đơn vị
hành chính này bảo đảm cho Chính phủ chỉ đạo và kiểm soát kịp thời, sâu sát được

cấp tỉnh và chính quyền cấp thành phố, thị xã được xác định là cấp chính quyền cơ
bản và hoàn chỉnh, có cả Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính. Còn cấp bộ và


5
cấp huyện chỉ là cấp trung gian, đại diện cho chính quyền cấp trên trong mối quan
hệ với chính quyền cấp dưới nên không là cấp chính quyền hoàn chỉnh, không có
cơ quan dân cử là Hội đồng nhân dân, mà chỉ có Ủy ban hành chính.
Hiến pháp 1946 do phân biệt sự khác nhau giữa địa bàn nông thôn và địa bàn
đô thị nên quy định tỉnh tổ chức ba cấp chính quyền (tỉnh - huyện và xã), trong đó
có hai cấp chính quyền hoàn chỉnh là tỉnh và xã. Khác với tỉnh, thành phố là một
chỉnh thể thống nhất nên cả thành phố là một cấp chính quyền cơ bản và thống
nhất cho toàn thành phố, có cả Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính. Thành
phố tuy được chia thành các khu phố nhưng khu phố chỉ là địa hạt hành chính, chỉ
có Ủy ban hành chính để vừa đại diện cho chính quyền thành phố và vừa đại diện
cho nhân dân ở khu phố trong mối quan hệ với chính quyền thành phố.
Việc thành lập Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính các cấp cũng được
Điều 58 Hiến pháp 1946 quy định rất độc đáo và sáng tạo. Hội đồng nhân dân xã,
Hội đồng nhân dân tỉnh, Hội đồng nhân dân thị xã và Hội đồng nhân dân thành
phố “do đầu phiếu phổ thông và trực tiếp bầu ra”. Ủy ban hành chính ở những
cấp này do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu. Nhưng việc thành lập Ủy ban hành
chính bộ, Ủy ban hành chính huyện và Ủy ban hành chính khu phố nơi không có
Hội đồng nhân dân lại được Hiến pháp quy định rất khác nhau. Điều 58 Hiến
pháp 1946 quy định: “Ủy ban hành chính bộ do Hội đồng nhân dân các tỉnh và
thành phố bầu ra. Ủy ban hành chính huyện do Hội đồng nhân dân các xã bầu
ra”. Riêng Ủy ban hành chính khu phố, theo Sắc lệnh số 77 năm 1945, còn do cử
tri ở khu phố trực tiếp bầu để cơ quan này vừa đại diện cho chính quyền thành
phố, vừa đại diện trực tiếp cho nhân dân khu phố.
Mặc dù Hiến pháp không quy định cụ thể về số lượng đại biểu Hội đồng
nhân dân, số lượng và các chức danh của Ủy ban hành chính mỗi cấp..., nhưng

sự tuỳ tiện, vô chính phủ của các cơ quan chính quyền địa phương các cấp.
2. Mô hình tổ chức chính quyền địa phương theo Hiến pháp 1959
a) Về phân chia đơn vị hành chính theo Hiến pháp 1959
Theo quy định của Điều 78 và Điều 79 Hiến pháp 1959, các đơn vị hành chính
nước ta gồm:


7
- Nước chia thành tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương;
- Tỉnh chia thành huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;
- Huyện chia thành xã, thị trấn; thành phố trực thuộc trung ương chia thành
khu phố. Ở mỗi đơn vị hành chính nói trên đều tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy
ban hành chính. Ủy ban hành chính cấp nào do Hội đồng nhân dân cấp đó bầu ra.
Cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và
Ủy ban hành chính các cấp năm 1962 quy định: “Các thành phố có thể chia thành
khu phố ở nội thành và huyện ở ngoại thành”, “Các đơn vị hành chính kể trên đều
có Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính” (Điều 1 Luật Tổ chức Hội đồng
nhân dân và Uỷ ban hành chính năm 1962).
Từ năm 1974 theo Quyết định số 78-CP ngày 10-4-1974 của Hội đồng Chính
phủ, các khu phố của thành phố Hà Nội và Hải Phòng được chia ra nhiều khu nhỏ
gọi là tiểu khu, với quy mô từ 2.000 đến 5.000 nhân khẩu. Nhưng các tiểu khu
không được xem là đơn vị hành chính, không tổ chức cơ quan chính quyền, chỉ có
Ban đại diện tiểu khu là tổ chức mang tính tự quản của nhân dân tiểu khu, không
phải là một cấp chính quyền.
Từ các quy định trên của Hiến pháp 1959 và các văn bản pháp luật được ban
hành trên cơ sở Hiến pháp này có một số nhận xét sau:
Một là, Hiến pháp 1959 đã chính thức bãi bỏ đơn vị hành chính có tính chất
vùng, miền là các khu hoặc liên khu đã từng tồn tại một thời gian dài ở nước ta
trước đó.
Hai là, do vẫn phân biệt sự khác nhau giữa tỉnh và thành phố trực thuộc trung

b) Về cơ cấu tổ chức của các cấp chính quyền địa phương theo Hiến pháp
1959
- Do vẫn còn phân biệt sự khác nhau giữa quản lý và tổ chức bộ máy ở địa bàn
nông thôn khác với quản lý và tổ chức bộ máy ở địa bàn đô thị nên Hiến pháp
1959 và Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính các cấp năm 1962
quy định tổ chức các cấp chính quyền ở tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương là
khác nhau. Tỉnh tổ chức ba cấp chính quyền hoàn chỉnh là: cấp tỉnh - cấp huyện và
cấp xã; ở mỗi cấp đều có Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính. Khác với tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương chỉ tổ chức hai cấp chính quyền (ở nội thành) là:
cấp thành phố và cấp khu phố, ở mỗi cấp đều có Hội đồng nhân dân và Ủy ban
hành chính.
- Giai đoạn này tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính theo xu
hướng tăng cường số lượng các đại biểu Hội đồng nhân dân và các thành viên Ủy
ban hành chính với quan niệm càng nhiều đại biểu của nhân dân tham gia chính
quyền càng thể hiện chính quyền dân chủ. Vì vậy, các văn bản pháp luật về tổ
chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính các cấp, về bầu cử đại biểu Hội
đồng nhân dân các cấp được ban hành trên cơ sở Hiến pháp 1959 đã quy định số
đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp tăng lên nhiều so với trước đây (Hội đồng
nhân dân cấp xã từ 20 đến 40 đại biểu, cấp huyện, khu phố từ 30 đến 50 đại biểu,
cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương từ 50 đến 120 đại biểu). Số thành viên
Ủy ban hành chính các cấp và số Phó Chủ tịch Ủy ban hành chính ở mỗi cấp cũng
tăng (Ủy ban hành chính cấp xã: 5 – 9 người, Ủy ban hành chính cấp huyện, khu
phố: 7 – 9 người; Ủy ban hành chính cấp tỉnh, thành phố: 9 – 15 người).
c) Về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban
hành chính các cấp
Lần đầu tiên Hiến pháp 1959 và Luật năm 1962 xác định: “Hội đồng nhân
dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương”. Còn Uỷ ban hành chính được
xác định là “cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, đồng thời là cơ quan



11
Các đơn vị hành chính theo Điều 113 Hiến pháp 1980 có những điểm khác
biệt cơ bản so với các bản Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1959 là:
Thứ nhất, do không phân biệt sự khác nhau giữa địa bàn nông thôn và đô thị
nên Hiến pháp 1980 đã phân chia các đơn vị hành chính của các tỉnh và thành phố
trực thuộc trung ương là như nhau, đều có ba cấp là: tỉnh - huyện (thành phố, thị
xã thuộc tỉnh) - xã (phường, thị trấn); Thành phố trực thuộc trung ương - quận
(huyện, thị xã) - phường (xã, thị trấn).
Thứ hai, tất cả các đơn vị hành chính nói trên đều được xác định là đơn vị
hành chính cơ bản, đều là cấp tổ chức chính quyền hoàn chỉnh, có cả Hội đồng
nhân dân và Uỷ ban nhân dân ở mỗi đơn vị hành chính này. Nội thành thành phố
trực thuộc trung ương cũng có ba cấp đơn vị hành chính cơ bản như ở tỉnh.
Thứ ba, Hiến pháp 1980 chính thức đưa ra khái niệm về “đơn vị hành chính
tương đương”, và bắt đầu từ đây có xu hướng là các văn bản pháp luật liên quan
đến chính quyền địa phương ở các loại đơn vị hành chính khác nhau như thành phố
trực thuộc trung ương, quận, phường... đều được xác định “tương đương” với tỉnh,
với huyện, với xã và “gọi chung” là cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã, tức là lấy địa
bàn nông thôn làm chuẩn.
Thứ tư, từ những năm 1960 - 1970, nhất là năm 1976 trước khi thông qua Hiến
pháp 1980, chúng ta đã tiến hành hợp nhất các tỉnh, hợp nhất các huyện với quy
mô lớn, để cả nước còn 36 tỉnh, 3 thành phố trực thuộc trung ương và một đặc khu
Vũng Tàu - Côn Đảo.
b) Về cơ cấu tổ chức của các cấp chính quyền địa phương theo Hiến pháp
1980 (sửa đổi năm 1989)
Để thống nhất tổ chức chính quyền ở các thành phố trực thuộc trung ương trong
cả nước (Vì sau 1975, tổ chức chính quyền thành phố ở miền Bắc và miền Nam là
khác nhau) Hiến pháp 1980 đã quy định: các thành phố trực thuộc trung ương tổ
chức ba cấp chính quyền hoàn chỉnh, có Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân; ở
nội thành các cấp lấy tên gọi thống nhất là: thành phố, quận, phường.


mặt”, cũng như việc thành lập cơ quan thường trực của Hội đồng nhân dân từ cấp


13
huyện trở lên để chuyên bảo đảm công tác, hoạt động của Hội đồng nhân dân, nhằm
nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân - cơ quan quyền lực nhà nước
ở địa phương.
Quán triệt quan điểm chỉ đạo của Đảng về “quyền làm chủ tập thể của nhân
dân lao động”, được thể chế hóa trong Hiến pháp 1980 và được coi là “sợi chỉ
đỏ” xuyên suốt nội dung, tinh thần Hiến pháp 1980, Luật Tổ chức Hội đồng nhân
dân và Uỷ ban nhân dân năm 1983 (sửa đổi năm 1989) đều có những quy định
nhằm tăng cường chế độ làm việc tập thể của các cơ quan chính quyền địa
phương. Theo quy định của Hiến pháp và Luật, để phát huy trí tuệ của tập thể Uỷ
ban nhân dân, về nguyên tắc mọi vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban
nhân dân đều phải được thảo luận tập thể và quyết định theo đa số. Những quy
định này của Hiến pháp và Luật không phù hợp với tính chất hoạt động của Uỷ
ban nhân dân các cấp, các cơ quan chấp hành và điều hành đòi hỏi hoạt động
phải khẩn trương, nhạy bén trong việc xử lý, giải quyết những vấn đề nảy sinh ở
địa phương, đồng thời không xác định rõ được vai trò và trách nhiệm của Chủ
tịch Uỷ ban nhân dân cũng như các thành viên của Uỷ ban nhân dân các cấp.
Khác với Sắc lệnh số 63 và Sắc lệnh số 77 năm 1945 cũng như Luật Tổ chức
Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các cấp năm 1962, Luật Tổ chức Hội đồng
nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 1983 và năm 1989 (sửa đổi) không những
không có những quy định riêng về tổ chức chính quyền ở tỉnh và chính quyền ở
thành phố mà còn không có sự phân định nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân
dân và Uỷ ban nhân dân các cấp. Mặc dù theo Điều 17 Luật Tổ chức Hội đồng
nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 1989 (sửa đổi), Quốc hội giao cho Hội đồng
Nhà nước quy định “Nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Hội đồng nhân dân mỗi
cấp”, nhưng suốt từ năm 1989 đến năm 1994, khi Quốc hội thông qua Luật Tổ
chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 1994, Hội đồng Nhà nước vẫn

“Việc thành lập Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân ở các đơn vị hành chính
do luật định” (Điều 118). Mặc dù, đây là vấn đề quan trọng nhất, là cơ sở có tính
quyết định trong việc tổ chức hợp lý mô hình chính quyền địa phương nên rất cần
được quy định ở cấp độ Hiến pháp, chứ không nên ở cấp độ luật quy định. Nhưng


15
rồi khi xây dựng Luật năm 1994, cũng như Luật năm 2003 hiện hành, vấn đề này
vẫn chưa giải quyết được, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân vẫn được thành
lập ở tất cả các đơn vị hành chính.
Thứ ba, từ cuối những năm 1980, đầu những năm 1990 và kéo dài cho đến
hiện nay có xu hướng chia tách các tỉnh trở về hiện trạng như trước khi nhập tỉnh,
số lượng các đơn vị hành chính cấp tỉnh đã gần trở về như thời Pháp thuộc. Xu
hướng chia tách, thành lập mới các quận, huyện, phường, xã mấy năm gần đây
cũng gia tăng mạnh mẽ.
Mấy chục năm qua, địa giới hành chính các cấp tỉnh, huyện đã nhiều lần thay
đổi. Thời kỳ sau chiến tranh xu hướng chung là sát nhập thành các cấp hành chính
có quy mô lớn. Từ khi bước vào đổi mới đến nay có xu hướng ngược lại là tách ra
thành các đơn vị hành chính có quy mô nhỏ hơn. Năm 1986 nước ta có 44 tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương (đơn vị cấp tỉnh), 535 huyện, thị, thành phố trực
thuộc tỉnh (đơn vị cấp huyện); năm 1992 có 53 đơn vị cấp tỉnh, 553 đơn vị cấp
huyện; năm 1998 có 61 đơn vị cấp tỉnh, 604 đơn vị cấp huyện; năm 2004 có 64
đơn vị cấp tỉnh, 652 đơn vị cấp huyện và tính đến nay nước ta có 63 tỉnh, thành
với 700 đơn vị cấp huyện, 11.000 đơn vị cấp xã.
b) Về cơ cấu tổ chức các cấp chính quyền địa phương
Theo quy định của Hiến pháp 1992 (sửa đổi năm 2001), Luật Tổ chức Hội
đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 1994 và năm 2003 hiện hành, tất cả các
đơn vị hành chính nói trên đều được xác định là cấp chính quyền hoàn chỉnh, đều
tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân.
Hội đồng nhân dân vẫn được xác định là “cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa


1. Tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp
a. Vị trí của Hội đồng nhân dân


17
Điều 113 Hiến pháp năm 2013 xác định: “Hội đồng nhân dân là cơ quan
quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm
chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân
dân và cơ quan nhà nước cấp trên”.
- Là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, Hội đồng nhân dân quyết
định những vấn đề quan trọng ở địa phương.
- Là cơ quan đại diện cho nhân dân địa phương, Hội đồng nhân dân đại diện
cho ý chí, nguyện vọng, trí tuệ của các tầng lớp nhân dân ở địa phương.
b. Chức năng của Hội đồng nhân dân
Hội đồng nhân dân có hai chức năng:
- Chức năng quyết định: Hội đồng nhân dân quyết định các vấn đề của địa
phương do luật định.
Hội đồng nhân dân quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để
phát huy tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển địa phương về kinh
tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, không ngừng cải thiện đời sống vật
chất và tinh thần của nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ của địa phương
đối với cả nước.
- Chức năng giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và
việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân.
Hội đồng nhân dân thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của Thường
trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân
dân cùng cấp; giám sát việc thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân; giám
sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội,
đơn vị vũ trang nhân dân và của công dân ở địa phương.

Hội đồng nhân dân huyện có 2 ban: Ban kinh tế- xã hội và Ban pháp chế.
Theo quy định của pháp luật, thành viên các ban của Hội đồng nhân dân không
thể là thành viên của Ủy ban nhân dân các cấp.


19
Nhiệm kỳ mỗi khoá của Hội đồng nhân dân các cấp là năm năm, kể từ kỳ họp
thứ nhất của Hội đồng nhân dân khoá đó đến kỳ họp thứ nhất của Hội đồng nhân
dân khoá sau. Chủ tịch Hội đồng nhân dân ở mỗi đơn vị hành chính không giữ
chức vụ quá hai nhiệm kỳ liên tục.
- Về cơ chế hoạt động:
Hội đồng nhân dân hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, hoạt động
theo chế độ kì họp.
Hội đồng nhân dân chịu sự giám sát và hướng dẫn hoạt động của Uỷ ban
thường vụ Quốc hội, chịu sự hướng dẫn và kiểm tra của Chính phủ trong việc thực
hiện các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên theo quy định của Uỷ ban thường
vụ Quốc hội.
Hội đồng nhân dân thảo luận và ra nghị quyết về các vấn đề thuộc nhiệm vụ,
quyền hạn của mình tại các kỳ họp của Hội đồng nhân dân. Nghị quyết của Hội
đồng nhân dân phải được quá nửa tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân biểu quyết
tán thành, trừ trường hợp bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân được quy định tại
Điều 46 của Luật này. Hội đồng nhân dân quyết định việc biểu quyết bằng cách
giơ tay, bỏ phiếu kín hoặc bằng cách khác theo đề nghị của Chủ tọa phiên họp.
Hội đồng nhân dân các cấp họp thường lệ mỗi năm hai kỳ. Ngoài kỳ họp
thường lệ, Hội đồng nhân dân tổ chức các kỳ họp chuyên đề hoặc kỳ họp bất
thường theo đề nghị của Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân
cùng cấp hoặc khi có ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân cùng
cấp yêu cầu. Thường trực Hội đồng nhân dân quyết định triệu tập kỳ họp thường
lệ của Hội đồng nhân dân chậm nhất là hai mươi ngày, kỳ họp chuyên đề hoặc bất
thường chậm nhất là mười ngày trước ngày khai mạc kỳ họp.



21
Uỷ ban nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương, góp
phần bảo đảm sự chỉ đạo, quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính nhà nước từ
trung ương tới cơ sở.
Cơ cấu tổ chức của Ủy ban nhân dân:
Theo Luật tổ chức HĐND và UBND hiện hành, ở mỗi cấp, Uỷ ban nhân dân có
Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các uỷ viên. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân là đại biểu Hội
đồng nhân dân. Các thành viên khác của Uỷ ban nhân dân không nhất thiết phải là đại
biểu Hội đồng nhân dân. Theo Nghị định số 36/2011/NĐ-CP của Chính phủ, số
lượng thành viên của Uỷ ban nhân dân các cấp được quy định như sau:
- Cấp tỉnh: Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh
có 13 thành viên, trong đó có 1 Chủ tịch, Hà Nội có 6 Phó Chủ tịch, thành phố Hồ
Chí Minh có 5 Phó Chủ tịch; các tỉnh có trên 2 triệu dân hoặc có diện tích từ
10.000 km2 trở lên, thành phố loại I có 11 thành viên (4 cấp phó); các tỉnh còn lại
có 9 thành viên (3 cấp phó).
- Cấp huyện: Uỷ ban nhân dân các huyện có trên 30 vạn dân hoặc có diện tích
từ 1000 km2 trở lên, có 30 đơn vị cấp xã trở lên thì có 9 thành viên (3 cấp phó);
các huyện còn lại có 7 thành viên (2 cấp phó).
- Cấp xã: Uỷ ban nhân dân các xã miền núi, hải đảo có từ 5000 dân trở lên,
đồng bằng, trung du có 8000 dân trở lên, xã biên giới có 5 thành viên (2 cấp phó);
các xã còn lại có 3 thành viên (1 cấp phó); Uỷ ban nhân dân phường, thị trấn có 5
thành viên (2 cấp phó).
Các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân là cơ quan tham mưu, giúp
Uỷ ban nhân dân cùng cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương và
thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự uỷ quyền của Uỷ ban nhân dân
cùng cấp và theo quy định của pháp luật; góp phần bảo đảm sự thống nhất quản lý
của ngành hoặc lĩnh vực công tác từ trung ương đến cơ sở.
Các cơ quan chuyên môn chịu sự chỉ đạo, quản lý của Uỷ ban nhân dân cấp

- Quản lý nhà nước về xây dựng, quản lý và phát triển đô thị;


23
- Quản lý nhà nước về thương mại, dịch vụ và du lịch;
- Quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo;
- Quản lý nhà nước về văn hoá, thông tin, thể dục thể thao;
- Quản lý nhà nước về y tế và xã hội;
- Quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ, tài nguyên và môi trường;
- Quản lý nhà nước trong thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo;
- Quản lý nhà nước trong việc thi hành pháp luật ở địa phương;
- Quản lý nhà nước trong xây dựng chính quyền và quản lý địa giới hành
chính ở địa phương.
c. Chế độ làm việc
Ủy ban nhân dân là việc theo 2 hình thức: chế độ làm việc tập thể và theo chế
độ thủ trưởng. Khi quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương, Ủy ban
nhân dân phải thảo luận tập thể và quyết định theo đa số. Uỷ ban nhân dân thảo
luận tập thể và quyết định theo đa số các vấn đề sau đây:
- Chương trình làm việc của Uỷ ban nhân dân;
- Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, dự toán ngân sách, quyết toán ngân
sách hàng năm và quỹ dự trữ của địa phương trình Hội đồng nhân dân quyết định;
- Kế hoạch đầu tư, xây dựng các công trình trọng điểm ở địa phương trình
Hội đồng nhân dân quyết định;
- Kế hoạch huy động nhân lực, tài chính để giải quyết các vấn đề cấp bách
của địa phương trình Hội đồng nhân dân quyết định;
- Các biện pháp thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân về kinh tế - xã
hội; thông qua báo cáo của Uỷ ban nhân dân trước khi trình Hội đồng nhân dân;
- Đề án thành lập mới, sáp nhập, giải thể các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ
ban nhân dân và việc thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính ở
địa phương.

- Từ yêu cầu đổi mới thực hiện nền kinh tế thị trường, xây dựng Nhà nước
pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân.


25
Nước ta đang trong quá trình đổi mới mạnh mẽ, thực hiện nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN. Kinh tế thị trường muốn hoạt động thông suốt, hiệu
quả phải từ địa phương, từ cơ sở. Chính quyền địa phương là nơi trực tiếp cụ thể
hóa, xây dựng, hoàn thiện các thể chế và bảo đảm cho kinh tế thị trường vận hành
hiệu quả. Mặt khác, chúng ta đang ra sức xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp
quyền XHCN, một Nhà nước thực sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, bảo
đảm mọi quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân, điều đó đòi hỏi phải bảo đảm
quyền làm chủ của nhân dân trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội nơi họ đang sinh
sống và công tác. Chính quyền địa phương là công cụ chủ yếu để phát huy quyền
làm chủ của nhân dân.
- Từ thực trạng bất cập, hạn chế trong tổ chức, hoạt động của chính quyền
địa phương hiện nay.
Một là, bất cập trong mô hình tổ chức các cơ quan Hội đồng nhân dân và Ủy
ban nhân dân các cấp. Mô hình tổ chức chính quyền địa phương của nước ta hiện
nay được tổ chức theo nguyên tắc nào trong các mối quan hệ: giữa chính quyền
trung ương với chính quyền địa phương, giữa các cấp chính quyền địa phương với
nhau, giữa Ủy ban nhân dân với Hội đồng nhân dân cùng cấp và với cơ quan hành
chính nhà nước cấp trên (đối với cấp tỉnh là với Chính phủ) vẫn chưa được giải
quyết về lý luận và thực tiễn. Theo Điều 6 Hiến pháp hiện hành nước ta xác định thì
tất cả các cơ quan nhà nước đều “tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung
dân chủ”. Nhưng các quy định của Hiến pháp và Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân
và Ủy ban nhân dân lại thể hiện rõ tính tập trung về trung ương, về cấp trên. Thực tế
là trung ương và cấp trên không thể nắm, không thể quản được địa phương. Còn địa
phương và cấp dưới cũng không có được quyền chủ động, phát huy sự sáng tạo,
năng động trong việc giải quyết kịp thời những vấn đề bức xúc của mình nên phải


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status