Tìm hiểu về tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương cấp xã ở tỉnh quảng bình - Pdf 45

TRNG I HC NI V H NI
KHOA HNH CHNH HC

TÊN Đề TàI: Tìm hiểu về tổ CHứC Và HOạT

động của chính quyền địa phơng cấp xã
ở tỉnh quảng bình

BàI TậP TIểU LUậN KếT THúC HọC PHầN

Hc phn: Phỏp lut chớnh quyn a phng
Ging viờn ging dy: TS.T Quang Ngc
Mó phỏch:

Hà nội - Năm 2017

1


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, trên đây là đề tài do tôi thực hiện. Đề tài không
trùng lặp, sao chép bất kỳ công trình khoa học nào, nếu sao chép, trùng lặp
tôi xin chịu trách nhiệm.
Hµ Néi, ngµy 11 th¸ng 01 n¨m 2017
Ngêi thùc hiÖn

2


LỜI CẢM ƠN
Qua thời gian nghiên cứu, tìm hiểu được sự giúp đỡ tận tình của thầy

Từ đầy đủ
Hội đồng nhân dân
Ủy ban nhân dân
Mặt trận Tổ quốc
Ủy Ban Mặt trận Tổi quốc

4


MỤC LỤC

5


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chính quyền cấp xã là đơn vị hành chính ở cơ sở, trực tiếp tổ chức đưa
đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào
cuộc sống. Đây cũng là nơi gần dân nhất, tiếp thu những ý kiến của nhân dân
để phản ánh cho Đảng và Nhà nước hoàn thiện chính sách, pháp luật.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: "Cấp xã là gần gũi dân nhất, là nền
tảng của hành chính. Cấp xã làm được việc thì mọi công việc đều xong xuôi"1.
Thực tiễn lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam đã cho thấy rằng:
Tình hình chính trị - xã hội Việt Nam ở mỗi thời kỳ và giai đoạn phát triển ổn
định hay không, tuỳ thuộc một phần không nhỏ vào sự ổn định của cấp xã.
Trong những năm gần đây, chính quyền cấp xã đã có những mặt tiến bộ
rõ nét, có sự chuyển biến rõ rệt, nhất là sự chuyển biến cả về tổ chức và hoạt
động. Tuy vậy, so với yêu cầu cải tiến nền hành chính nhà nước thì tổ chức và
hoạt động của chính quyền cấp xã còn bộc lộ nhiều vấn đề cần quan tâm giải
quyết. Tình hình trên đã và đang đặt ra cho Đảng, Nhà nước ta nhiều vấn đề

Các bài viết về vấn đề chính quyền địa phương trên các tạp chí,

website của các cơ quan chức năng liên quan.
Từ các công trình nghiên cứu, các tài liệu trên và những hiểu biết của
bản thân về tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương nói chung và
chính quyền cấp xã nói riêng mà đã được tích lũy qua quá trình học tập, em
nhận thấy rằng đây là đề tài có tính cấp thiết trong giai đoạn hiện nay, em có
thể nghiên cứu thành công đề tài mà em đã chọn.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu, phân tích tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã,
đánh giá thực trạng và nêu ra phương hướng, giải pháp đổi mới tổ chức, hoạt
động của chính quyền cấp xã ở tỉnh Quảng Bình.
4. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là tổ chức và hoạt động của chính
quyền địa phương cấp xã ở tỉnh Quảng Bình.
5. Phạm vi nghiên cứu
Thời gian: Từ khi đất nước đổi mới (năm 1986) đến nay).
Đề tài nghiên cứu một số vấn đề cơ bản về tổ chức và hoạt động của
chính quyền cấp xã ở tỉnh Quảng Bình.
6. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp thực tiễn
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp đối chiếu, so sánh

7


- Phương pháp phân tích, tổng hợp


b) Chính quyền địa phương cấp xã
Theo Điều 4 Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 77/2013/QH13,
ngày 19/6/2015 của Quốc Hội, quy định cấp chính quyền địa phương được tổ
chức ở các đơn vị hành chính gồm có HĐND và UBND. Chính quyền địa
phương ở nông thôn gồm chính quyền địa phương ở tỉnh, huyện, xã.
Điều 30, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định:
Chính quyền địa phương ở xã là cấp chính quyền địa phương gồm có Hội
đồng nhân dân xã và Ủy ban nhân dân xã.
* Đặc điểm của chính quyền cấp xã:
Một là, chính quyền cấp xã là cấp cơ sở tiếp xúc trực tiếp với nhân dân.
Cán bộ cấp xã hàng ngày sinh hoạt với dân trong mối quan hệ không chỉ là
giữa chính quyền với dân mà còn là quan hệ gia tộc và xóm làng lâu đời với
cả những tập quán tốt đẹp cơ bản cũng như một số tập quán lạc hậu; là người
giải quyết trực tiếp hàng ngày không qua chính quyền trung gian nào khác
những vấn đề dân quyền, dân sinh, dân trí, dân tâm, làm sao một mặt phải

9


theo đúng chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; mặt khác phải sát
hợp với tình hình thực tế trong xã hội và thấu tình đạt lý trong quan hệ xóm
làng.
Hai là, tổ chức bộ máy ở xã không giống như ở các đơn vị hành chính
cấp trên, ở xã chỉ có HĐND và UBND thực hiện việc quản lý địa phương. Vì
thế chính quyền cấp xã phải quản lý nhà nước về chính trị, kinh tế - xã hội, an
ninh trật tự, an toàn xã hội, văn hoá, y tế, giáo dục, thi hành pháp luật... theo
thẩm quyền do pháp luật quy định. Nó có một vị trí quan trọng trong hệ thống
chính quyền nhà nước, nối liền trực tiếp chính quyền với quần chúng nhân
dân. Cho nên HĐND xã phải thực sự là đại biểu cho nhân dân ở cơ sở; UBND
là cơ quan chấp hành của HĐND xã và là cơ quan hành chính nhà nước ở cơ

trách nhiệm trước nhân dân địa phương, vừa chịu trách nhiệm trước chính
quyền cấp trên về mọi mặt kinh tế - xã hội, bảo đảm thực hiện pháp lụât, các
quyết định của các cơ quan Nhà nước cấp trên. Trong tổ chức và hoạt động
của mình, vai trò của HĐND được biểu hiện:
Trước hết, với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương,
HĐND được nhân dân giao quyền thay mặt thực hiện quyền lực Nhà nước,
quyết định những vấn đề quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phương,
xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội; biến ý chí của nhân dân địa phương
trở thành bắt buộc đối với dân cư trên lãnh thổ địa phương, giám sát hoạt
động của UBND cùng cấp; giám sát việc tuân theo pháp luật của các cơ
quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân ở
địa phương.
Mặt khác, với tư cách là cơ quan đại diện, HĐND là cơ quan do cử tri
bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, trực tiếp và bỏ phiếu kín. HĐND là đại
diện tiêu biểu cho tiếng nói của các tầng lớp nhân dân địa phương, đại diện
cho trí tuệ tập thể của nhân dân.
b) Vị trí vai trò của UBND
Vị trí pháp lý và vai trò của UBND được quy định rõ trong Hiến pháp
và Luật Tổ chức HĐND và UBND.
Điều 123 Hiến pháp 1992, Điều 2 Luật Tổ chức HĐND và UBND sửa
đổi quy định: “UBND do HĐND cùng cấp bầu ra, là cơ quan chấp hành của
HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm chấp
hành Hiến pháp, luật, các văn bản của các cơ quan Nhà nước cấp trên và Nghị

11


quyết của HĐND cùng cấp”.
Điều 8, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 nêu rõ:
“UBND do HĐND cùng cấp bầu, là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan

báo cáo để thường vụ Đảng uỷ thông qua trước khi trình HĐND xem xét quyết
định, 6 tháng 1 lần, UBND xã báo cáo với ban chấp hành Đảng bộ cơ sở về
tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và việc tổ chức thực
hiện những chủ trương mà Đảng bộ đề ra.
1.2.2. Mối quan hệ giữa HĐND với MTTQ và các đoàn thể nhân dân
HĐND các cấp phối hợp chặt chẽ với MTTQ và các tổ chức thành viên,
tổ chức xã hội khác ở địa phương xây dựng mối quan hệ làm việc để hoàn
thành tốt nhiệm vụ của mình.
Mỗi năm 2 lần vào giữa năm và cuối năm, chủ tịch HĐND thông báo
bằng văn bản đến UBMTTQ cùng cấp về tình hình hoạt động của HĐND
cấp mình và nêu những kiến nghị của HĐND với UBMTTQ.
Trong kỳ họp thường lệ của HĐND, UBMTTQ cùng cấp báo cáo về
hoạt động của Mặt trận tham gia xây dựng chính quyền, về những ý kiến, kiến
nghị của UBMTTQ đối với HĐND, UBND và đại biểu HĐND cùng cấp.
Chủ tịch HĐND phối hợp với Ban Thường trực UBMTTQ và các đoàn
thể nhân dân cùng cấp theo dõi hoạt động và giúp đỡ đại biểu HĐND làm
nhiệm vụ đại biểu, tổ chức cho đại biểu tiếp xúc cử tri, thu thập ý kiến nguyện
vọng của nhân dân để báo cáo với HĐND.
UBMTTQ và các đoàn thể nhân dân thường xuyên giám sát việc thực
hiện nhiệm vụ của đại biểu HĐND, đề nghị khen thưởng những đại biểu có
thành tích xuất sắc, đề nghị bãi miễn những đại biểu không còn xứng đáng với
sự tín nhiệm của nhân dân theo quy định của pháp luật.
Chủ tịch HĐND tổ chức để đại biểu UBMTTQ cùng cấp tham gia các
hoạt động giám sát, kiểm tra phù hợp với Ban Thường trực UBMTTQ cùng
cấp trong việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân về các dự thảo văn bản pháp luật
và những vấn đề quan trọng ở cơ sở.
1.2.3. Mối quan hệ giữa UBND với UBMTTQ và các đoàn thể nhân
dân
Chủ tịch UBMTTQ và người đứng đầu các đoàn thể nhân dân ở cơ sở


- HĐND cấp xã gồm các đại biểu HĐND do cử tri ở xã bầu ra.

14


Việc xác định tổng số đại biểu HĐND xã được thực hiện theo nguyên
tắc sau đây:
+ Xã miền núi, vùng cao và hải đảo có từ 1000 dân trở xuống được bầu
15 đại biểu;
+ Xã miền núi, vùng cao và hải đảo có trên 1000 dân đến hai nghìn dân
được bầu 20 đại biểu;
+ Xã miền núi, vùng cao và hải đảo có trên 2000 dân đến 3000 dân
được bầu 25 đại biểu; có trên 3000 thì cứ thêm 1000 dân được bầu thêm 01,
nhưng tổng số không quá 35 đại biểu;
+ Xã không thuộc quy định trong ba trường hợp trên có từ 4000 dân trở
xuống được bầu 25 đại biểu; có trên 4000 dân thì cứ thêm 2000 dân được bầu
thêm 01 đại biểu, nhưng tổng số không quá 35 đại biểu.
- Thường trực HĐND xã gồm Chủ tịch HĐND, một Phó Chủ tịch
HĐND.
- HĐND xã thành lập Ban pháp chế, Ban Kinh tế - xã hội, Ban của
HĐND xã gồm có Trưởng Ban, một Phó Trưởng Ban và các Ủy viên. Số
lượng ủy viên của các Ban của HĐND xã HĐND xã quyết định. Trưởng Ban,
Phó trưởng Ban và các ủy viên của các Ban của HĐND xã hoạt động kiêm
nhiệm.
b) Nhiệm vụ, quyền hạn và hoạt động của HĐND cấp xã
* Nhiệm vụ, quyền hạn:
Điều 33, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định:
- Ban hành nghị quyết về những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của
Hội đồng nhân dân xã.
- Quyết định biện pháp bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh,

xã họp thường lệ mỗi năm 2 kỳ. Trong trường hợp cần thiết, theo yêu cầu của
UBND hoặc ít nhất 1/3 số đại biểu HĐND yêu cầu thì chủ tịch HĐND quyết
định triệu tập kỳ họp bất thường.
Kỳ họp HĐND được tiến hành khi có ít nhất 2/3 tổng số đại biểu tham
dự. Trong trường hợp không thể triệu tập kỳ họp HĐND đúng kỳ hạn theo
quy định của pháp luật, chủ tịch HĐND cấp xã báo cáo để thường trực HĐND
cấp trên trực tiếp xem xét và chuẩn y.
Kỳ họp HĐND cấp xã là hình thức hoạt động rất quan trọng của

16


HĐND, vì thông qua kỳ họp, nhân dân địa phương thực hiện ý chí, nguyện
vọng, quyền làm chủ của mình.
* Hoạt động của Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND cấp xã:
- Chủ tịch HĐND cấp xã có trách nhiệm: Phối hợp với UBND cùng cấp
chuẩn bị dự kiến chương trình làm việc, báo cáo đề án trình HĐND, triệu tập
kỳ họp HĐND; Đôn đốc kiểm tra việc thực hiện các Nghị quyết của HĐND;
Tổ chức việc tiếp dân, đôn đốc kiểm tra việc giải quyết các kiến nghị, khiếu
nại, tố cáo của công dân; Giữ mối liên hệ với các đại biểu HĐND và các tổ
đại biểu HĐND, báo cáo tình hình hoạt động của HĐND cấp mình lên HĐND
và UBND cấp trên trực tiếp.
* Hoạt động của đại biểu HĐND cấp xã:
Đại biểu HĐND cấp xã là người đại diện cho ý chí nguyện vọng của
nhân dân địa phương, gương mẫu chấp hành pháp luật, chính sách của Nhà
nước, tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện pháp luật chính sách và tham
gia vào việc quản lý nhà nước.
Trong kỳ họp HĐND, đại biểu HĐND có trách nhiệm tham gia thảo
luận và quyết định chương trình làm việc của kỳ họp HĐND; thảo luận các
vấn đề thuộc nội dung chương trình kỳ họp; biểu quyết những vấn đề thuộc

c) Nhiệm vụ, quyền hạn của UBND cấp xã
* Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân xã
Điều 35, luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định
UBND cấp xã có các nhiệm vụ, quyền hạn sau:
- Xây dựng, trình HĐND xã quyết định các nội dung quy định tại các
khoản 1, 2 và 4 Điều 33 của Luật này và tổ chức thực hiện các nghị quyết của
HĐND xã.
- Tổ chức thực hiện ngân sách địa phương.
- Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan nhà nước cấp trên phân
cấp, ủy quyền cho UBND xã.
* Nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch UBND xã
Điều 36, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định:

18


Chủ tịch UBND xã là người đứng đầu UBND xã và có các nhiệm vụ,
quyền hạn sau đây:
- Lãnh đạo và điều hành công việc của UBND, các thành viên UBND
xã;
- Lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ về tổ chức và bảo đảm việc
thi hành Hiến pháp, pháp luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên,
của HĐND và UBND xã; thực hiện các nhiệm vụ về quốc phòng, an ninh,
bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh, phòng, chống tội phạm và các hành
vi vi phạm pháp luật khác, phòng, chống quan liêu, tham nhũng; tổ chức thực
hiện các biện pháp bảo vệ tài sản của cơ quan, tổ chức, bảo hộ tính mạng, tự
do, danh dự, nhân phẩm, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công
dân; thực hiện các biện pháp quản lý dân cư trên địa bàn xã theo quy định của
pháp luật;
- Quản lý và tổ chức sử dụng có hiệu quả công sở, tài sản, phương tiện

mà chủ yếu dựa vào bộ máy của UBND để soạn thảo các Nghị quyết.
Đối với các chức danh của HĐND và UBND, mức độ phân cấp phân
quyền chưa cụ thể, đặc biệt là chưa gắn trách nhiệm pháp lý rõ ràng. Vì thế
trong thực tiễn hoạt động của HĐND, UBND vẫn còn tình trạng khuyết điểm
thì có nhưng rất khó xác định trách nhiệm pháp lý thuộc về ai.

20


Chương 2
THỰC TRẠNG TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG
CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ Ở QUẢNG BÌNH
2.1. Một số nét về đặc điểm kinh tế xã hội ở Quảng Bình
2.1.1. Về địa lý
Tỉnh Quảng Bình nằm ở Bắc Trung Bộ, Việt Nam, với diện tích tự
nhiên khoảng 8.000km2.
Toạ độ địa lý ở phần đất liền là:
- Điểm cực Bắc: 18005’ 12” vĩ độ Bắc.
- Điểm cực Nam: 17005’ 02” vĩ độ Bắc.
- Điểm cực Đông: 106059’ 37” kinh độ Đông.
- Điểm cực Tây: 105036’ 55” kinh độ Đông.
Tỉnh có bờ biển dài 116,04 km ở phía Đông và có chung biên giới với
Lào 201,87km ở phía Tây, có cảng Hòn La, cảng Hàng không Đồng Hơi,
Quốc lộ 1A và đường Hồ Chí Minh, đường sắt Bắc Nam, quốc lộ 12 và tỉnh lộ
20, 16 chạy từ Đông sang Tây qua cửa khẩu Quốc tế Cha Lo và một số cửa
khẩu phụ khác nối liền với Nước CHDCND Lào.
Địa hình Quảng Bình hẹp và dốc từ phía Tây sang phía Đông. 85%
Tổng diện tích tự nhiên là đồi núi. Toàn bộ diện tích được chia thành vùng
sinh thái cơ bản: Vùng núi cao, vùng đồi và trung du, vùng đồng bằng, vùng
cát ven biển.

Bình cũ: huyện Lệ Ninh (Quảng Ninh và Lệ Thủy), huyện Tuyên Minh
(Tuyên Hóa và Minh Hóa).
Đáp ứng nguyện vọng của Đảng bộ và nhân dân Bình Trị Thiên, ngày
1-7-1989 Trung ương Đảng đã có quyết định tách 3 tỉnh về địa giới cũ. Quảng
Bình phục hồi lại vị trí các huyện như trước khi nhập tỉnh. Ngày 12-12-2004
thị xã Đồng Hới được Chính phủ ra Quyết định nâng cấp thành Thành phố
loại 3 trực thuộc tỉnh.
Hiện nay tỉnh Quảng Bình bao gồm thành phố Đồng Hới và các huyện:
Lệ Thuỷ, Quảng Ninh, Bố Trạch, Quảng Trạch, Tuyên Hoá, Minh Hoá, với
159 xã, phường, thị trấn. Dân số Quảng Bình năm 2015 có 872.925 người.
Phần lớn cư dân địa phương là người Kinh. Dân tộc ít người thuộc hai nhóm
chính là Chứt và Bru-Vân Kiều gồm những tộc người chính là: Khùa, Mã

22


Liềng, Rục, Sách, Vân Kiều, Mày, Arem, v.v... sống tập trung ở hai huyện
miền núi Tuyên Hoá và Minh Hoá và một số xã miền Tây Bố Trạch, Quảng
Ninh, Lệ Thuỷ. Dân cư phân bố không đều, 80,42% sống ở vùng nông thôn
và 19,58% sống ở thành thị.
Quảng Bình là vùng đất văn vật, có nhiều di chỉ văn hoá, nhiều địa
danh nổi tiếng trong hai cuộc kháng chiến chống xâm lược của dân tộc, nhiều
danh làm thắng cảnh nổi tiếng và nhiều danh nhân tiền bối học rộng, đỗ cao
và nổi tiếng xưa và nay trên nhiều lĩnh vực quân sự, văn hoă – xã hội như
Dương Văn An, Nguyễn Hữu Cảnh, Nguyễn Hàm Ninh, Hoàng Kế Viêm, Võ
Nguyên Giáp..., là vùng đất giàu truyền thống yêu nước, cách mạng.
2.2. Thực trạng tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã tỉnh
Quảng Bình
2.2.1. Thực trạng về tổ chức bộ máy chính quyền cấp xã tỉnh Quảng
Bình hiện nay

các khoản phụ cấp do ngân sách chi trả thì bình quân 1 xã vào khoảng trên
dưới 100 người, bao gồm cán bộ chủ chốt của Đảng, đoàn thể ở xã, đại biểu
HĐND, thành viên UBND, các chức danh chuyên môn của UBND, trưởng
xóm, công an viên, bí thư chi bộ thôn xóm, giáo viên mầm non, cán bộ y tế,
bưu tá, cán bộ khuyến nông, giao thông thuỷ lợi, văn hoá thông tin... Một số
xã, phường, thị trấn còn mở rộng phụ cấp cho tới uỷ viên thường vụ các đoàn
thể ở xã và trưởng các đoàn thể ở thôn xóm. Như vậy nếu tính cả tỉnh với 159
xã thì phải có tới khoảng 15.900 gọi là cán bộ xã.
Khác với công chức nhà nước, cán bộ cấp xã Quảng Bình có sự kết hợp
cả 4 yếu tố: người dân, người cùng họ, cùng làng, người đại diện cho Nhà
nước ở địa phương. 4 yếu tố này vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn xung đột
nhau trong con người cán bộ xã, chi phối các hoạt động của họ, nhất là trong
việc giải quyết những vấn đề liên quan đến mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân
và lợi ích cộng đồng.
Cán bộ cấp xã của tỉnh nói chung chưa được đào tạo cơ bản về chuyên
môn nghiệp vụ. Hầu hết trưởng thành trong số những thanh niên “không thoát
ly được” hoặc là bộ đội xuất ngũ và một số ít là cán bộ Nhà nước đã nghỉ hưu.
Trong thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước, đại hội Đảng nhiệm kỳ vừa
qua, đội ngũ cán bộ cấp xã Quảng Bình đã có những chuyển biến kịp thời,

24


bước đầu đáp ứng được yêu cầu của quá trình đổi mới; trong thực thi nhiệm
vụ đã năng động sáng tạo hơn; tư tưởng bao cấp, tác phong thụ động từng
bước được khắc phục, từ đó tạo ra sức làm việc mới, đóng vai trò tích cực
trong cải cách hành chính của tỉnh nói chung. Trong đó đáng kể là những tiến
bộ về tinh thần, thái độ phục vụ nhân dân, các thủ tục hành chính, đặc biệt
thực thi nhiệm vụ đã dần dần dựa trên cơ sở pháp luật.
Do tích cực học tập và trình độ được nâng cao, nên đội ngũ cán bộ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status