Tìm hiểu về tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương ở xã tá bạ, huyện mường tè lai châu - Pdf 45

MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT


DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
STT
1
2
3
4
5

Chữ cái viết tắt
HĐND
UBND
UBMTTQ
Đ/c
ĐTN CSHCM

Chữ cái đầy đủ
Hội đồng nhân dân
Uỷ ban nhân dân
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc
Đồng chí
Đoàn Thanh Niên Cộng
Sản Hồ Chí Minh


MỞ ĐẦU
Vị trí và vai trò của chính quyền địa phương ở xã càng trở nên quan
trọng khi chúng ta xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nhà nước

Chính quyền địa phương ở xã có HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước
ở địa phương và UBND do HĐND bầu ra là cơ quan chấp hành của HĐND,
cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương. Vì thế, chính quyền cấp xã là cấp
trực tiếp thực hiện nhiệm vụ cụ thể về quản lý hành chính nhà nước trên các
lĩnh vực chính trị, kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng ở cơ sở, là cầu nối trực
tiếp giữa nhà nước và nhân dân, xử lý trực tiếp, kịp thời những yêu cầu hàng
ngày của nhân dân.
Cấp xã là cấp cuối cùng, gần dân nhất, sát dân nhất nên gọi là cấp cơ
sở.
Chính quyền cấp xã là cấp hành chính trực tiếp quan hệ với dân trong
hệ thống tổ chức bô máy hành chính.
Chính quyền địa phương cấp xã bao gồm HĐND và UBND là cấp thấp
nhất trong hệ thống chính quyền 4 cấp ở Việt Nam, thực hiện quyền lực nhà
nước ở địa phương, có chức năng thay mặt nhân dân địa phương, căn cứ vào
nguyện vọng của nhân dân địa phương, quyết định và tổ chức thực hiện
những vấn đề có liên quan đến phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh,
quốc phòng và đời sống của nhân dân địa phương, theo Hiến pháp, pháp luật
và các mệnh lệnh, quyết định của cấp trên.

4


Đặc điểm của chính quyền địa phương ở xã
Một là: Chính quyền địa phương cấp xã có HĐND là cơ quan quyền
lực nhà nước ở địa phương và UBND do HĐND bầu ra là cơ quan chấp hành
của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương. Vì thế, chính quyền
cấp xã là cấp trực tiếp thực hiện nhiệm vụ cụ thể về quản lý hành chính nhà
nước trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng ở cơ sở,
là cầu nối trực tiếp giữa nhà nước và nhân dân, xử lý trực tiếp, kịp thời những
yêu cầu hàng ngày của nhân dân.

diện tiêu biểu cho tiếng nói của các tầng lớp nhân dân địa phương, đại diện
cho trí tuệ tập thể của nhân dân.
1.1.2.2. Vị trí vai trò của UBND
Vị trí pháp lý và vai trò của UBND được quy định rõ tại Hiến pháp và
Luật tổ chức chính quyền địa phương.
Điều 114 Hiến pháp và Điều 35 Luật tổ chức chính quyền địa phương
quy định: UBND ở cấp chính quyền địa phương do HĐND cùng cấp bầu ra là
cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương,
chịu trách nhiệm trước HĐNND và cơ quan hành chính nhà nước câp trên.
UBND tổ chức việc thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương; tổ
chức thực hiện nghị quyết của HĐND và thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan
nhà nước cấp trên giao.
UBND cấp xã có hai tư cách: là cơ quan chấp hành của HĐND, là cơ
quan hành chính nhà nước ở cấp cơ sở.
Với tư cách là cơ quan chấp hành của HĐND, UBND ở xã có vai trò
quan trọng trong việc thực hiện chức năng nhiệm vụ quản lý nhà nước trên
các lĩnh vực đời sống xã hội ở địa phương bằng pháp luật, theo pháp luật. Tổ
chức và chỉ đạo việc thi hành pháp luật và Nghị quyết của HĐND cùng cấp.
Còn với tư cách là cơ quan hành nhà nước tại địa phương, UBND có
vai trò quan trọng trong việc quản lý hành chính nhà nước trong các lĩnh vực

6


trong đời sống kinh tế - xã hội của địa phương.
1.1.3.Mối quan hệ giữa chính quyền địa phương ở xã với hệ thống
chính trị cơ sở
1.1.3.1.Quan hệ giữa chính quyền địa phương ở xã với Đảng ủy cơ sở
Đảng cộng sản Việt Nam được Hiến pháp thừa nhận là lực lượng lãnh
đạo nhà nước và xã hội. Do đó trong mọi hoạt động của mình, HĐND và

bộ công chức nhà nước.
UBND thực hiện ché độ thông báo tình hình mọi mặt của cơ sở cho
Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.
UBND và các thành viên của UBND có trách nhiệm giải quyết và trả
lời các kiến nghị của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.
1.1.

Cơ sở pháp lý về tổ chức và hoạt động của chính quyền
địa phương ở xã

1.1.1. Cơ sở pháp lý về tổ chức và hoạt động của HĐND
1.1.1.1. Tổ chức và hoạt động HĐND ở xã
Luật tổ chức chính quyền địa phương xác định tổng số đại biểu
HĐND xã được thực hiện như sau:
- Xã miền núi, vùng cao và hải đảo có từ 1.000 dân trởBan chấp hành
Đảng bộ cơ sở thực hiện sự lãnh đạo đối với HĐND và UBND xã, bằng chủ
trương, Nghị quyết và các biên pháp lớn, thực hiện quyền kiểm tra việc chấp
hành đường lối chủ trương chính sách, Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng. Sự lãnh
đạo của cấp ủy cơ sở còn thông qua các đảng viên phụ trách và các đồng chí
đảng viên công tác trong HĐND, UBND.
Căn cứ Nghị quyết của đại hội Đảng bộ, HĐND và UBND, xây
dựng phát triển kinh tế - xã hội, dự toán ngân sách hàng năm của địa phương,
báo cáo để thường vụ đảng ủy thông qua trước khi trình HĐND xem xét quyết
định xuống được bầu 15 đại biểu.
- Xã miền núi, vùng cao và hải đảo có trên 1.000 dân đến 2.000 dân

8


được bầu 20 đại biểu.

trình, dự án của xã trong phạm vi được phân quyền.
- Giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương, việc
thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã; giám sát hoạt động của
Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cùng cấp, Ban của Hội
đồng nhân dân cấp mình; giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban
nhân dân cùng cấp.
- Lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do
Hội đồng nhân dân xã bầu theo quy định tại Điều 88 và Điều 89 của Luật này.
- Bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân xã và chấp nhận việc đại biểu
Hội đồng nhân dân xã xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu.
- Bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản trái pháp luật của Ủy ban nhân
dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã.
1.2.2. Cơ sở pháp lý về tổ chức và hoạt động của UBDN xã
1.2.2.1. Tổ chức và hoạt đọng UBND xã
Theo Luật tổ chức chính quyền địa phương:
UBND xã gồm Chủ tịch, Pho chủ tịch, Uỷ viên phụ trách quân sự, Uỷ
viên phụ trách công an.
Uỷ ban nhân dân xã loại I không quá hai Phó Chủ tịch; xã loại II và loại
III có một Phó Chủ tịch.

10


Các chức danh UBND xã
- Trưởng Công an
- Chỉ huy trưởng Quân sự
- Văn phòng - thống kê
- Địa chính- nông nghiệp - xây dựng và môi trường
- Tài chính - kế toán
- Tư pháp - hộ tịch

tình hình địa phương, có kinh nghiệm, gần gũi với nhân dân, gắn bó quyền lợi
và tình cảm với dân. Về mặt ngân sách, việc ban hành Luật ngân sách nhà
nước năm 1996 đã có quy định về các nguồn thu, chi của cấp xã tạo điều kiện
cho chính quyền xã chủ động trong việc bố trí ngân sách đáp ứng các yêu cầu,
nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội của nhân dân tại cơ sở.
- Khó khăn: Về cán bộ, phần lớn cán bộ xã là từ những thanh niên
“không thoát ly” được nên ở lại địa phương, qua các công tác ở đoàn thanh
niên, hội phụ nữ; số khác là bộ đội giãi ngũ sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân
sự và có một số là cán bộ về hưu. Về trình độ văn hoá, đa số cán bộ xã đã tốt
nghiệp phổ thông trung học; một số khác được học bổ túc văn hoá phổ thông ;
một số qua đào tạo lý luận trong các trường đảng hệ trung cấp tại chức hoặc
qua các lớp quản lý nhà nước ngắn ngày và có một số đồng chí đang theo học
các lớp đại học tại chức như luật, nông nghiệp…và còn rất nhiều cán bộ xã

12


chưa có trình độ chuyên môn kỹ thuật gì hoặc chưa qua các lớp quản lý nhà
nước. Về quan hệ với cư dân, do trưởng thành và sinh sống tại địa phương,
gắn bó với cư dân ở địa phương nên ở xã, cán bộ xã có mối quan hệ họ tộc,
thân thích với nhau, nên trong việc xử lý công việc, nhiều khi rất khó phân
định ranh giới giữa con người “cán bộ” và “con người nhà nước” để bảo đảm
giải quyết một cách khách quan, hợp tình hợp lý chưa kể có tình hình cục bộ
giữa làng trên, xóm dưới, dòng họ này dòng học khác… Về tổ chức bộ máy,
Hội đồng nhân dân xã không có Thường trực Hội đồng nhân dân; Hội đồng
nhân dân xã không có các Ban để thẩm tra báo cáo hoặc dự thảo Báo cáo của
Uỷ ban nhân dân không được đưa ra lấy ý kiến rộng rãi trong nhân dân… 8
Về ngân sách, các nguồn thu của xã đã được Luật ngân sách nhà nước quy
định tại Điều 34, Điều 37, nhưng trên thực tế, chính quyền cấp xã chưa chủ
động trong điều hành nên gặp khó khăn trong việc cân đối nguồn chi ngân

Các đơn vị dân cư thuộc xã
STT
1
2
3
4
5
6
7
8

Tên bản
Bản Lè Gìang
Bản Ló Mé
Bản Là Ú Cò
Bản Nhúng
Bản Tá Bạ
Bản Hinh
Bản Pơ Tào
Bản Săn Hiềng

Số hộ
100
132
76
123
121
83
85
106

Bạ
Theo Báo cáo đánh giá tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân và
Uỷ ban nhân dân xã nhiệm kỳ 2011-2016, số lượng đại biểu Hội đồng nhân
dân xã đầu nhiệm kỳ là 30 người, tính đến thời điểm này còn lại 25 đại biểu
(trừ đi số đại biểu đã được cho thôi làm nhiệm vụ, miễn nhiệm). Tổng thành
viên Uỷ ban nhân xã là 4 người.
Kỳ họp thứ nhất, HĐND xã bầu ra một chủ tịch và một phó chủ tịch
HĐND:
1. Đồng chí: Phùng Xé Hà - Chủ tịch HĐND
2. Đồng chí: Chu Chu Cà - Phó Chủ tịch HĐND

Thực hiện Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính
phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ chính sách đối với cán bộ, công
chức ở xã,. Theo đó, công chức xã Tá Bạ có :
- Chức danh văn hoá- xã hội bố trí 02 công chức:
1. Đông chí: Lỳ Xú Che - làm công tác văn hoá
2. Đồng chí: Pờ Cà Tư - làm công tác lao động- thương binh và xã hội
- Chức danh địa chính- nông nghiệp- xây dựng và môi trường bố trí 02

15


công chức:
1. Đồng chí: Chu Mụ De - làm đảm nhiệm nhiệm vụ địa chính
2. Đồng chí: Khoàng Hu Cà - đảm nhận nhiệm vụ về lĩnh vực nông
nghiệp- xây dựng (nông thôn mới)
- Chức danh văn phòng- thống kê bố trí 01 công chức: Đồng chí Chang Mò Dứ
-Tài chính - kế toán 01 công chức: Đồng chí – Sừng Xuân Hừ
- Tư pháp- hộ tịch 01 công chức: đồng chí – Pờ Mó Chừ
2.2.1.2 Thực trạng đội ngũ cán bộ chính quyền địa phương ở xã Tá Bạ

1
2
3
4
5
6
7
8
9
10

Họ và tên
Sì Cà Gía
Khoàng Tư Phạ
Phùng Xé Hà
Chu Chu Cà
Lỳ Nhù Chừ
Lý Lóng Hừ
Phùng Xì Che
Sừng Go Hừ
Phùng Mạnh Hùng
Mạ Mụ Cà

Chức danh
Bí Thư Đảng Uỷ
Phó Bi thư Đảng Uỷ
Chủ Tịch HĐND
Phó Chủ Tịch HĐND
Chủ tịch UBND
Phó Chủ tịch UBND ( Phụ trách kinh tế)

16
17
18

Lỳ Xú Che
Pờ Cà Tư
Chu Mụ De
Khoàng Hu Cà

19

Chang Mò Dứ

Công tác Văn hóa
Công tác lao động- thương binh và xã hội
Địa chính
Về lĩnh vực nông nghiệp- xây dựng (nông
thôn mới)
Văn phòng- thống kê bố

20
21

Sừng Xuân Hừ
Pờ Mó Chừ

Tài chính - kế toán
Tư pháp- hộ tịch

17

Tỷ lệ

SL

Tỷ lệ

15

0

0%

5

29%

10

69%

6

1

23%

2

30%



Tỷ

Số

Tỷ

Số

Tỷ

Số

Tỷ

lượng

lệ

lượng

lệ

lượng

lệ

lượng

lệ

Đại học

ĐÀO TẠO
Số
Tỷ

số

người

Cao đẳng

La Hủ

15
%

2

30
%
35
%

5

4

35
%



- Việc tiếp xúc cử tri còn mang tính hình thức.
- Việc tự kiểm điểm, đánh giá hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân
dân xã trước cử tri nơi ứng cử chưa thực hiện có nền nếp
- Trong kỳ họp, tại diễn đàn, một bộ phận không nhỏ đại biểu HĐND
không tham gia phát biểu thảo luận, chất vấn.
- Việc chuẩn bị nội dung trả lời và giải trình những ý kiến chất vấn của
đại biểu còn chung chung, không rõ trách nhiệm, chưa thoả đáng.
- Việc chất vấn của một số đại biểu HĐND chưa mang tính xây dựng,
chưa thể hiện được yêu cầu chung, thậm chí còn mang tính cá nhân trong
công việc.
- Chức năng, nhiệm vụ của HĐND xã rất lớn, rất nhiều, nhưng nội
dung các kỳ họp, chất lượng các Nghị quyết của HĐND xã lại rất hạn chế,
chưa có hiệu lực hiệu quả cụ thể.
- Ở một số địa phương, hoạt động quyết định của Hội đồng nhân dân
còn mang tính hình thức. Tại một số kỳ họp, dự thảo Nghị quyết do Uỷ ban
nhân dân chuẩn bị chưa đảm bảo chất lượng, tính khả thi chưa cao nên phải
đưa ra khỏi chương trình trước kỳ họp hoặc không thông qua được tại kỳ họp.
- Hoạt động giám sát kém hiệu quả.
Tóm lại: HĐND chưa thể hiện đầy đủ, rõ nét vai trò là cơ quan quyền
lực Nhà nước ở cơ sở, chưa thực sự quyết định được những vấn đề quan trọng
về kinh tế - xã hội và đời sống nhân dân trên địa bàn, chưa thực hiện được tốt
chức năng giám sát mọi hoạt động của UBND và đại biểu cho ý chí, nguyện
vọng quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở.
2.2.2.2. Thực trạng hoạt động của UBND
2.2.2.2.1. Kết quả đạt được trong những năm qua
Trong những năm qua bên cạnh những kết quả mà cán bộ nhân dân xã
đã đạt được thì cũng gạp không ít những khó khăn thách thức. Được sự quan


tăng 6% so với năm 2011.
Về giáo dục: Tỷ lệ học 2 buổi ở tiểu học đạt 86% . Tỷ lệ tốt nghiệp tiểu
học đạt 85%, THCS 90%. Vận động 100% số cháu đủ tuổi thà gia bậc mầm

21


non. Công tác khuyến học giúp đỡ học sinh nghèo vượt khó thực hiện đi sâu
vào chiều sâu và được nhiều người quan tâm hưởng ứng.
Công tác y tế: Duy trì phát huy tốt phong trào phòng và chữa bệnh
chăm soc sức khỏe ban đầu cho nhân dân, kết hợp với các hội các tổ chức từ
thiện khám chữa bệnh cho người già, những gia đình hoàn cảnh khó khăn. Hệ
thống y tế cơ sở được đầu tư nâng cấp.
Công tác dân số gia đình và trẻ em: Được sự quan tâm của Đảng, sự
giúp đỡ của các tổ chức công tác này được triển khai sâu rộng, được nhân dân
ủng hộ đặc biệt là việc tuyên truyền vận động các cặp vợ chồng chỉ nên có hai
con đã phát huy được tác dụng mạnh mẽ.
Về công tác vệ sinh môi trường:
Về công tác trợ giúp hộ nghèo: năm 2012 đã đầu tư sửa chữ, nâng cấp
cho 30 hộ gia đình khó khăn nguồn vốn trích từ ngaansach nhà nước và do
nhân dân ủng hộ.
c. Về công tác quốc phòng an ninh
Xây dựng lực lượng an ninh theo từng bản để đảm bảo an ninh đời sống
và an ninh sản xuất. giải quyết những vấn đề vướng mắc của nhân dân hay
bảo vệ chống sự phá hoại của kẻ xấu đối với hoạt động sản xuất.
Xây dựng lực lượng vũ trang của địa phương tuyên truyền gióa dục
chính trị tư tưởng cho nhân dân. Tổ chức huấn luyện cho dân quân tự vệ
thường xuyên để sẵn sàng chiến đấu khi co sự cố.
2.2.2.2.2. Hạn chế thiếu sót
Việc bố trí sử dụng các cán bộ chuyên môn còn nhiều tuỳ tiện, chưa

* Nguyên nhân của mặt hạn chế:
- Đảng bộ xã chưa được củng cố, Đảng bộ xã còn yếu kém, thường xảy
ra mất đoàn kết, bè phái cục bộ, chỉ lo đối phó nhau, ít lo lắng đến việc chung.
- Việc nhận thức về vị trí vai trò, nhiệm vụ của bộ máy chính quyền địa
phương xã còn chưa đủ rõ, chưa đạt tới sự thống nhất cao.
- Chưa có một chiến lược quy hoạch, xây dựng một chính quyền xã đáp

23


ứng yêu cầu đổi mới.
- Chưa chủ động, tích cực làm công tác chuẩn bị nguồn cho chính
quyền địa phương xã mà chủ yếu còn mang tính chất tự phát ngẫu nhiên.
- Chưa xác định được rõ những yêu cầu tiêu chuẩn cụ thể cho từng loại
cán bộ xã nên việc bố trí sử dụng còn tuỳ tiện, thiếu ổn định, thiếu nhất quán.
- Cấp trên trực tiếp là UBND huyện, thiếu quan tâm chỉ đạo, giúp đỡ
kiểm tra uốn nắn, từ đó dẫn đến một số cán bộ vi phạm pháp luật, cửa quyền,
tham nhũng quan liêu, trù dập ức hiếp quần chúng.
. - Cán bộ chính quyền địa phương xã do cơ chế bầu cử mà hình thành,
sau mỗi nhiệm kỳ hoạt động nếu không trúng cử lại trở về lao động sản xuất,
gây cho cán bộ tâm lý coi công tác xã là hoạt động nghiệp dư.
- Tác động của nền kinh tế thị trường cũng ảnh hưởng lớn đến tâm tư
tình cảm, đời sống cán bộ. Nhiều người có vốn, có năng lực, kinh nghiệm
không thích tham gia vào công tác chính quyền mà thích đi vào con đường
sản xuất kinh doanh, quan tâm nhiều hơn đến lợi ích kinh tế cuối cùng, mục
tiêu lý tưởng bị phai nhạt.

24



Trích đoạn Giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương ở xã Tá Bạ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status