Tìm hiểu về tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương ở xã đại nghĩa huyện mỹ đức hà nội - Pdf 45

LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tôi xin chân thành cảm ơn Ts.Tạ Quang Ngọc người trực
tiếp hướng dẫn nhiệt tình, chỉ bảo cho tôi hoàn thành tốt bài tiểu luận này.
Tôi xin cảm ơn UBND Xã đã tạo điều kiện giúp đỡ hoàn thành tốt bài
tiểu luận được giao tại cơ quan.
Trong suốt quá trình nghiên cứu tôi được gửi lời cảm ơn chân thành sâu
sắc tới tập thể cán bộ xã Đại Nghĩa đã tận tình hướng dẫn về thực tế công việc
và cung cấp tài liệu để tôi hoàn thành bài tiểu luận này.
Tuy nhiên, do hạn chế về mặt thời gian và tìm hiểu thực tế nên bài tiểu
luận không thể tránh khỏi những sai sót, tôi rất mong nhận được sự đóng góp
ý kiến để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn !


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là bài tiểu luận nghiên cứu của riêng tôi và được
sự hướng dẫn khoa học của Ts. Tạ Quang Ngọc Các nội dung và mọi tư liệu
trong tiểu luận này là hoàn toàn trung thực. Những số liệu, tư liệu phục vụ
cho phân tích, nhận xét, đánh giá được tôi thu thập từ nhiều nguồn khác nhau.


DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
STT
1
2
3

Chữ cái viết tắt
HĐND
UBND
UBMTTQ

Việc nghiên cứu đề tài này giúp chúng ta hiểu rõ thêm về các quy định
của pháp luật về chính quyền địa phương. Trên cơ sở đó, đề tài đưa ra một số
giải pháp, kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật trong hoạt

4


động, nâng cao hiệu quả của công tác hộ tịch trên địa bàn đáp ứng yêu cầu
của nền hành chính thông thoáng, đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân được
thực hành triệt để.
3 Ý nghĩa của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
Giúp chúng ta hiểu rõ về cơ chế, phương thức thủ tục cũng như là sự
điều chỉnh của pháp luật về hộ tịch nói chung, đó chính là căn cứ để xây dựng
và hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật trong lĩnh vực hộ tịch
nói riêng.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Góp phần nâng cao vai trò của Đảng và Nhà nước trong việc tuyên
truyền giáo dục ý thức pháp luật đến với người dân, từ đó rút ra những bài
học kinh nghiệm trong quá trình từ soạn thảo các quy phạm điều chỉnh đến
đưa chúng vào cuộc sống, vai trò của cơ quan chủ quản cũng như ý thức tự
giác chấp hành pháp luật của người dân. Là một nội dung cần thiết để nâng
cao vai trò quản lý của Nhà nước, khắc phục những khuyết điểm, hạn chế còn
tồn tại, tạo điều kiện để pháp luật đi sâu hơn vào đời sống thực tiễn.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các hoạt động cụ thể trong việc
thực hiện công tác hộ tịch tại địa phương bao gồm phương thức, thủ tục, số
liệu…. Phạm vi nghiên cứu của đề tài được nghiên cứu trên cơ sở pháp luật
Việt Nam về hộ tịch và các văn bản khác có nội dung liên quan
5. Phương pháp nghiên cứu đề tài

cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương. Vì thế, chính quyền cấp xã là cấp

6


trực tiếp thực hiện nhiệm vụ cụ thể về quản lý hành chính nhà nước trên các
lĩnh vực chính trị, kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng ở cơ sở, là cầu nối trực
tiếp giữa nhà nước và nhân dân, xử lý trực tiếp, kịp thời những yêu cầu hàng
ngày của nhân dân.
Cấp xã là cấp cuối cùng, gần dân nhất, sát dân nhất nên gọi là cấp cơ
sở.
Chính quyền cấp xã là cấp hành chính trực tiếp quan hệ với dân trong
hệ thống tổ chức bô máy hành chính.
Chính quyền địa phương cấp xã bao gồm HĐND và UBND là cấp thấp
nhất trong hệ thống chính quyền 4 cấp ở Việt Nam, thực hiện quyền lực nhà
nước ở địa phương, có chức năng thay mặt nhân dân địa phương, căn cứ vào
nguyện vọng của nhân dân địa phương, quyết định và tổ chức thực hiện
những vấn đề có liên quan đến phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh,
quốc phòng và đời sống của nhân dân địa phương, theo Hiến pháp, pháp luật
và các mệnh lệnh, quyết định của cấp trên.
Đặc điểm của chính quyền địa phương ở xã
Một là: Chính quyền địa phương cấp xã có HĐND là cơ quan quyền
lực nhà nước ở địa phương và UBND do HĐND bầu ra là cơ quan chấp hành
của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương. Vì thế, chính quyền
cấp xã là cấp trực tiếp thực hiện nhiệm vụ cụ thể về quản lý hành chính nhà
nước trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng ở cơ sở,
là cầu nối trực tiếp giữa nhà nước và nhân dân, xử lý trực tiếp, kịp thời những
yêu cầu hàng ngày của nhân dân.
Hai là: Chính quyền địa phương cấp xã khác với chính quyền cấp tỉnh,
cấp huyện: Tổ chức bộ máy chính quyền cấp xã chỉ bao gồm cơ quan quyền

1.1.2.2. Vị trí vai trò của UBND
Vị trí pháp lý và vai trò của UBND được quy định rõ tại Hiến pháp và
Luật tổ chức chính quyền địa phương.

8


Điều 114 Hiến pháp và Điều 35 Luật tổ chức chính quyền địa phương
quy định: UBND ở cấp chính quyền địa phương do HĐND cùng cấp bầu ra là
cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương,
chịu trách nhiệm trước HĐNND và cơ quan hành chính nhà nước câp trên.
UBND tổ chức việc thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương; tổ
chức thực hiện nghị quyết của HĐND và thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan
nhà nước cấp trên giao.
UBND cấp xã có hai tư cách: là cơ quan chấp hành của HĐND, là cơ
quan hành chính nhà nước ở cấp cơ sở.
Với tư cách là cơ quan chấp hành của HĐND, UBND ở xã có vai trò
quan trọng trong việc thực hiện chức năng nhiệm vụ quản lý nhà nước trên
các lĩnh vực đời sống xã hội ở địa phương bằng pháp luật, theo pháp luật. Tổ
chức và chỉ đạo việc thi hành pháp luật và Nghị quyết của HĐND cùng cấp.
Còn với tư cách là cơ quan hành nhà nước tại địa phương, UBND có
vai trò quan trọng trong việc quản lý hành chính nhà nước trong các lĩnh vực
trong đời sống kinh tế - xã hội của địa phương.
1.1.3.Mối quan hệ giữa chính quyền địa phương ở xã với hệ thống
chính trị cơ sở
1.1.3.1.Quan hệ giữa chính quyền địa phương ở xã với Đảng ủy cơ sở
Đảng cộng sản Việt Nam được Hiến pháp thừa nhận là lực lượng lãnh
đạo nhà nước và xã hội. Do đó trong mọi hoạt động của mình, HĐND và
UBND cấp xã phải chấp hành đường lối chủ trương của Đảng và chịu sự lãnh
đạo của Đảng bộ cơ sở.

Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.
UBND và các thành viên của UBND có trách nhiệm giải quyết và trả
lời các kiến nghị của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.
1.2. Cơ sở pháp lý về tổ chức và hoạt động của chính quyền địa
phương ở xã

10


1.2.1.Cơ sở pháp lý về tổ chức và hoạt động của HĐND
 Tổ chức và hoạt động HĐND ở xã
Luật tổ chức chính quyền địa phương xác định tổng số đại biểu
HĐND xã được thực hiện như sau:
- Xã miền núi, vùng cao và hải đảo có từ 1.000 dân trởBan chấp hành
Đảng bộ cơ sở thực hiện sự lãnh đạo đối với HĐND và UBND xã, bằng chủ
trương, Nghị quyết và các biên pháp lớn, thực hiện quyền kiểm tra việc chấp
hành đường lối chủ trương chính sách, Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng. Sự lãnh
đạo của cấp ủy cơ sở còn thông qua các đảng viên phụ trách và các đồng chí
đảng viên công tác trong HĐND, UBND.
Căn cứ Nghị quyết của đại hội Đảng bộ, HĐND và UBND, xây
dựng phát triển kinh tế - xã hội, dự toán ngân sách hàng năm của địa phương,
báo cáo để thường vụ đảng ủy thông qua trước khi trình HĐND xem xét quyết
định xuống được bầu 15 đại biểu.
- Xã miền núi, vùng cao và hải đảo có trên 1.000 dân đến 2.000 dân
được bầu 20 đại biểu.
- Xã miền nui, vùng cao và hải đảo có trên 2.000 dân đến 3.000 dân
được bầu 25 đại biểu; có trên 3.000 dân thì cứ thêm 1.000 dân được bầu thêm
một đại biểu, nhung tổng số không quá 35 đại biểu.
- Thường trực HĐND xã gồm Chủ tịch HĐND, một phố Chủ tịch
HĐND. Phó Chủ tịch HĐND xã là đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách.

nhân dân cùng cấp.
- Lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do
Hội đồng nhân dân xã bầu theo quy định tại Điều 88 và Điều 89 của Luật này.

12


- Bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân xã và chấp nhận việc đại biểu
Hội đồng nhân dân xã xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu.
- Bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản trái pháp luật của Ủy ban nhân
dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã.
1.2.2. Cơ sở pháp lý về tổ chức và hoạt động của UBDN xã
 Tổ chức và hoạt đọng UBND xã
Theo Luật tổ chức chính quyền địa phương:
UBND xã gồm Chủ tịch, Pho chủ tịch, Uỷ viên phụ trách quân sự, Uỷ
viên phụ trách công an.
Uỷ ban nhân dân xã loại I không quá hai Phó Chủ tịch; xã loại II và loại
III có một Phó Chủ tịch.
Các chức danh UBND xã
- Trưởng Công an
- Chỉ huy trưởng Quân sự
- Văn phòng - thống kê
- Địa chính- nông nghiệp - xây dựng và môi trường
- Tài chính - kế toán
- Tư pháp - hộ tịch
- Văn hóa - xã hội.

13



và tình cảm với dân. Về mặt ngân sách, việc ban hành Luật ngân sách nhà
nước năm 1996 đã có quy định về các nguồn thu, chi của cấp xã tạo điều kiện
cho chính quyền xã chủ động trong việc bố trí ngân sách đáp ứng các yêu cầu,
nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội của nhân dân tại cơ sở.
- Khó khăn: Về cán bộ, phần lớn cán bộ xã là từ những thanh niên
“không thoát ly” được nên ở lại địa phương, qua các công tác ở đoàn thanh
niên, hội phụ nữ; số khác là bộ đội giãi ngũ sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân
sự và có một số là cán bộ về hưu. Về trình độ văn hoá, đa số cán bộ xã đã tốt
nghiệp phổ thông trung học; một số khác được học bổ túc văn hoá phổ thông ;
một số qua đào tạo lý luận trong các trường đảng hệ trung cấp tại chức hoặc
qua các lớp quản lý nhà nước ngắn ngày và có một số đồng chí đang theo học
các lớp đại học tại chức như luật, nông nghiệp…và còn rất nhiều cán bộ xã
chưa có trình độ chuyên môn kỹ thuật gì hoặc chưa qua các lớp quản lý nhà
nước. Về quan hệ với cư dân, do trưởng thành và sinh sống tại địa phương,
gắn bó với cư dân ở địa phương nên ở xã, cán bộ xã có mối quan hệ họ tộc,
thân thích với nhau, nên trong việc xử lý công việc, nhiều khi rất khó phân
định ranh giới giữa con người “cán bộ” và “con người nhà nước” để bảo đảm
giải quyết một cách khách quan, hợp tình hợp lý chưa kể có tình hình cục bộ
giữa làng trên, xóm dưới, dòng họ này dòng học khác… Về tổ chức bộ máy,
Hội đồng nhân dân xã không có Thường trực Hội đồng nhân dân; Hội đồng
nhân dân xã không có các Ban để thẩm tra báo cáo hoặc dự thảo Báo cáo của
Uỷ ban nhân dân không được đưa ra lấy ý kiến rộng rãi trong nhân dân… 8
Về ngân sách, các nguồn thu của xã đã được Luật ngân sách nhà nước quy
định tại Điều 34, Điều 37, nhưng trên thực tế, chính quyền cấp xã chưa chủ
động trong điều hành nên gặp khó khăn trong việc cân đối nguồn chi ngân

15


sách. Từ những nét trình bày khái quát trên, có thể thấy rằng chính quyền xã

ở xã Đại Nghĩa
2.2.1. Thực trạng về tổ chức
2.2.1.1. Thực trạng về tổ chức bộ máy chính quyền địa phương ở xã
Đại Nghĩa

17


Theo Báo cáo đánh giá tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân và
Uỷ ban nhân dân xã nhiệm kỳ 2011-2016, số lượng đại biểu Hội đồng nhân
dân xã đầu nhiệm kỳ là 30 người, tính đến thời điểm này còn lại 25 đại biểu
(trừ đi số đại biểu đã được cho thôi làm nhiệm vụ, miễn nhiệm). Tổng thành
viên Uỷ ban nhân xã là 4 người.
Kỳ họp thứ nhất, HĐND xã bầu ra một Chủ tịch và hai Phó Chủ tịch
HĐND.
Thực hiện Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính
phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ chính sách đối với cán bộ, công
chức ở xã,. Theo đó, công chức xã Đại Nghĩa có :
- Chức danh văn hoá- xã hội bố trí 02 công chức:
1 Đồng chí làm về công tác văn hoá
1 Đồng chí làm về công tác lao động- thương binh và xã hội
- Chức danh địa chính- nông nghiệp- xây dựng và môi trường bố trí 02
công chức:
1 Đồng chí làm về đảm nhiệm nhiệm vụ địa chính
1 Đồng chí làm đảm nhận nhiệm vụ về lĩnh vực nông nghiệp- xây
dựng (nông thôn mới)
- Chức danh văn phòng- thống kê bố trí 01 công chức
-Tài chính - kế toán 01 công chức
- Tư pháp- hộ tịch 01 công chức
2.2.1.2 Thực trạng đội ngũ cán bộ chính quyền địa phương ở xã Đại

- Về trình độ của cán bộ chủ chốt xã:
Trình độ văn hóa :Bức tranh chung về trình độ học vấn của đội ngũ
cán bộ xã là học vấn phổ thông dưới Trung học phổ thông còn nhiều, đáng lưu
ý hơn là vẫn còn trình độ dưới Tiểu học. Điều đó cho thấy, trình độ của đội
ngũ cán bộ ở xã vẫn còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra. Trình độ học vấn
thấp cũng chính là nguyên nhân dẫn đến trình độ chuyên môn và trình độ lý

19


luận chính trị thấp.
Về trình độ chuyên môn: Thực tế cho thấy, trình độ chuyên môn của
đội ngũ cán bộ còn thấp.
Mặt khác, số được đào tạo qua các chuyên nghành chưa đáp ứng với
yêu cầu thực tiễn ở cơ sở, không theo đúng với quy hoạch, còn chắp vá.Tuy
được nâng cao một bước rõ rệt về nhận thức và trình độ, nhưng năng lực và
nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ chính quyền xã còn có mặt chưa đáp ứng được
yêu cầu của cơ chế mới, 11 yêu cầu của cải cách hành chính, yêu cầu của sự
phát triển của Thành Phố, đất nước. Do đó còn nhiều lúng túng và sơ hở trong
quản lý, nhất là quản lý nhà nước. Trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội vẫn còn
không ít cán bộ chính quyền xử lý giải quyết công việc theo ý muốn chủ quan
hoặc vi phạm pháp luật, chính sách của Đảng và Nhà nước một cách vô thức.
2.2.2 Thực trạng về hoạt động
2.2.2.1 Thực trạng hoạt động của HĐND
Từ đầu nhiệm kỳ đến nay, Hội đồng nhân dân xã Đại Nghĩa tổ chức
được 2 kỳ họp thường kỳ trong năm; ngoài ra còn tổ chức được các kỳ họp
bất thường, chuyên đề để thực hiện những nhiệm vụ quan trọng, cấp bách
thuộc thẩm quyền của Hội đồng nhân dân.
Thời gian họp mỗi lần thường 1 ngày.
Hạn chế:

đã đạt được thì cũng gạp không ít những khó khăn thách thức. Được sự quan
tâm giúp đỡ của các cấp ngành đặc biệt là sự chỉ đạo sát sao của ban thường
vụ huyện Mỹ Đức, cán bộ nhân dân xã đã ra sức khắc phụ khó khăn và hoàn
thành tốt các mục tiêu.
a. Trên lĩnh vực kinh tế

Năm 2012, là năm xã Đại Nghĩa đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội tạo
bước chuyển cơ bản thực hiện kế hoạch 5 năm 2011-2016 mà nghị quyết Đại

21


hội Đảng bộ lần thứ 3 đề ra. Trong năm 2012, kinh tế tiếp tục tăng trưởng và
ổn định 6% tăng 2% so với năm 2011. Mức thu nhập bình quân đầu người
5,7 triệu/năm. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển biến tích cực, ngày cang tiến bộ.
Năm 2012, tỉ trọng ngành nông nghiệp còn 60% giảm 5% so với năm 2010,
trong đó ngành trồng trọt và chăn nuôi chiếm 20%, thương mại dịch vụ 10%
tăng 2% so vơi năm 2011.
Về lĩnh vực tài chính: Luôn coi trọng quy chế dân chủ trong hoạt động
ngân sách tài chính từ khâu thu chi đến khâu thực hiện. Việc thu chi ngân sách
nhà nước của địa phương cũng được thực hiện rất tốt từ các cơ sở kinh tế đến
hộ gia đình nhỏ lẻ.
Về công tác xây dựng cơ bản: Trong những năm qua với sự giúp đỡ của
các cấp các ngành nhiều cơ sở vật chất kỹ thuật dược ưu tiên xây dựng như:
trường học, trạm xá y tế…
b. Lĩnh vực công tác văn hóa xã hội
Hoạt động văn hóa thể thao luôn được chú trộng đúng mức. Qua đó đã
huy động được sức mạnh của các ngành, đoàn thể và nhân dân. Luôn chăm lo
vận đông đẩy mạnh toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa mới, phong
trào xây dựng gia đình văn hóa , nếp sông kỷ cương văn hóa. Cổ vũ phong

nặng về tập quán, thói quen, tình cảm đạo đức...
Việc ban hành các quyết định, văn bản quản lý, áp dụng pháp lụât còn
có nhiều sai sót, có khi không đúng thẩm quyền, thể thức, kể cả có nơi giải
quyết một số vụ việc còn sai luật (quản lý đất đai, tài chính, xử lý vi phạm...).
Việc tổ chức chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hoá, giáo
dục, y tế, an ninh trật tự, thu chi ngân sách... còn nhiều lúng túng, tuỳ tiện
- Năng lực, tính chủ động trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ chưa cao,
chưa thực hiện tốt chức năng là cơ quan chấp hành của HĐND và có xu
hướng đẩy việc xuống cho trưởng bản tự biến thành cấp trung gian, làm cho
các trưởng bản phải làm quá sức, quá nhiều việc vốn là của UBND xã (thu
thuế, tuyên truyền pháp lụât,...).
2.2.3. Nguyên nhân của thực trạng trên

23


* Nguyên nhân của các mặt đạt được:
- Do nhận thức được vị trí vai trò của chính quyền địa phương xã là
một tế bào quan trọng cấu thành đất nước, là nơi tổ chức thực hiện thắng lợi
mọi chủ trương đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Các cấp uỷ Đảng từ Thành phố đến cơ sở quan tâm lãnh đạo việc đổi mới tổ
chức và hoạt động của chính quyền xã. - Phong trào xây dựng chính quyền xã
vững mạnh được cấp uỷ Đảng cơ sở trực tiếp lãnh đạo gắn với việc xây dựng
Đảng bộ vững mạnh và được Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể tham gia tích
cực.
- Bản thân đội ngũ cán bộ xã đã có nhiều cố gắng rèn luyện tu dưỡng,
nâng cao trình độ mọi mặt, củng cố đoàn kết, khắc phục khó khăn hoàn thành
nhiệm vụ.
- Hoạt động của chính quyền xã đã đi vào nề nếp hơn.
* Nguyên nhân của mặt hạn chế:
- Đảng bộ xã chưa được củng cố, Đảng bộ xã còn yếu kém, thường xảy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status