ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP
TRUNG TÂM THÔNG TIN KHOA HỌC LẬP PHÁP
Thông tin chuyên đề
PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT HÀNH VI THỎA THUẬN HẠN
CHẾ CẠNH TRANH MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ KINH
NGHIỆM CHO VIỆT NAM
(Tài liệu phục vụ Kỳ họp thứ tư, Quốc hội khóa XIV)
Hà Nội, tháng 10 năm 2017
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................... 2
I. Pháp luật về kiểm soát hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh một số nước
và Việt Nam.............................................................................................................. 2
1.1. Nhận diện hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh ......................................... 2
1.2. Quy định cấm đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh ................................... 4
1.3. Quy định về miễn trừ đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh ........................ 7
1.4. Xử lý các vi phạm về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh .................................... 9
1.5. Chính sách khoan hồng/Tình tiết giảm nhẹ................................................. 12
II. Kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc xây dựng các quy định nhằm kiểm
soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh .................................................................... 14
2.1. Về việc nhận diện hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh ........................... 14
2.2. Về quy định cấm đối với các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh....................... 15
2.3. Về các quy định miễn trừ đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh ................ 17
2.4. Về xử lý các vi phạm về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.............................. 17
- Việc xây dựng khái niệm nhằm nhận diện TTHCCT được thực hiện theo
hướng bao quát toàn diện, điều khoản về khái niệm là điều khoản quét nhằm nhận
diện hành
3
vi thỏa thuận hạn chế canh dựa trên bản chất/mục đích/hệ quả làm hạn chế hành
tranh của hành vi, không đơn thuần chỉ là liệt kê các loại hành vi TTHCCT;
- Các nước trên đều chú trọng quy định hình thức biểu hiện của TTHCCT (thông
qua hợp đồng, thỏa thuận, nghị quyết, phương thức khác) mà không yêu cầu nội
dung thỏa thuận phải được thực hiện. Bên cạnh đó, có thể ngầm hiểu rằng thỏa
thuận cạnh tranh có thể diễn ra công khai hoặc chỉ là những thỏa thuận ngầm.
1.2. Quy định cấm đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
Theo thông lệ quốc tế, TTHCCT được pháp luật quy định cấm theo hai nguyên
tắc gồm nguyên tắc vi phạm mặc nhiên (per se illegal) và nguyên tắc đánh giá tác
động hợp lý (rule of reason). Luật cạnh tranh của nhiều nước tiên tiến như trên thế
giới thường áp dụng cả hai nguyên tắc này để ban hành các quy định cấm đối với
TTHCCT.
Vi phạm mặc nhiên là nguyên tắc coi một số dạng hành vi TTHCCT là mặc
nhiên vi phạm pháp luật cạnh tranh. Nguyên tắc này được áp dụng để quy định
cấm tuyệt đối đối với những hành vi thỏa thuận điển hình có bản chất hạn chế cạnh
tranh rõ nét hay còn gọi là các thỏa thuận ngang nghiêm trọng1. Nhìn chung, theo
quy định của luật cạnh tranh nhiều nước như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc,
Canada, Úc và Liên minh Châu Âu, các hành vi TTHCCT bị cấm tuyệt đối thường
rơi vào 4 loại sau: thỏa thuận ấn định giá, thỏa thuận phân chia thị trường, thỏa
thuận hạn chế hoặc kiểm soát sản lượng và thỏa thuận thông đồng trong đấu thầu.
Luật cạnh tranh Thụy sỹ năm 1995 cũng quy định cấm đối với ba loại thỏa thuận:
(i) thỏa thuận ấn định giá trực hoặc gián tiếp; (ii), thỏa thuận hạn chế số lượng
hàng hóa, dịch vụ được sản xuất, mua hoặc bán; (iii) thỏa thuận phân chia thị
có mang lại lợi ích thúc đẩy cạnh tranh hay không và liệu tác động thúc đẩy cạnh
tranh của thỏa thuận có lớn hơn tác động hạn chế cạnh tranh do nó mang lại hay
không. Tiến hành theo hai bước đó, hướng dẫn hiện tại của EU liệt kê 4 căn cứ3 mà
các cơ quan cạnh tranh có thể sử dụng để xem xét, đánh giá một TTHCCT, gồm:
+ xét xét lợi ích kinh tế mà thỏa thuận mang lại: như tăng năng suất, thúc đẩy
tiến bộ kỹ thuật và những lợi ích này phải lớn hơn so với tác động hạn chế mà thỏa
thuận gây ra.
+ tính cần thiết để thực hiện thỏa thuận: các hạn chế do thỏa thuận gây ra là cần
thiết để đạt được các lợi ích kinh tế.
2
Đạo luật Clayton, được ban hành vào năm 1914, bắt nguồn từ luật Sherman, quy định bổ sung một số nội dung bổ sung cho
đạo luật chống độc quyền Sherman
3
Cục quản lý cạnh tranh, báo cáo rà soát quy định của Luật cạnh tranh Việt Nam, trang 15
6
+ chia sẻ lợi ích công bằng cho người tiêu dùng: các lợi ích kinh tế đạt được
phải có lợi không chỉ cho các bên tham gia thỏa thuận, mà phải được chia sẻ một
cách công bằng cho người tiêu dùng. Phần lợi ích chuyển cho người tiêu dùng có
thể được đánh giá thông qua việc đánh giá lợi ích cắt giảm chi phí, môi trường cạnh
tranh, các yếu tố cung cầu có lợi cho cạnh tranh…Doanh nghiệp tham gia thỏa
thuận sẽ giữ lại phần lợi ích không được chia sẻ cho người tiêu dùng, thể hiện qua
việc đạt được lợi nhuận cao hơn.
+ không loại bỏ cạnh tranh: cơ quan cạnh tranh cần đánh giá liệu thỏa thuận có
gây ra tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường hay không.
Nếu các doanh nghiệp tham gia có vị trí thống lĩnh trên thị trường, thì thỏa thuận
dụng kết hợp hai nguyên tắc vi phạm mặc nhiên và đánh giá tác động hợp lý để quy
định cấm đối với một hành vi TTHCCT. Nguyên tắc cấm mặc nhiên áp dụng đối
với 4 thỏa thuận ngang nghiêm trọng như đã nói ở trên, nguyên tắc đánh giá tác
động hợp lý áp dụng đối với các thỏa thuận khác ít nghiêm trọng hơn.
Bên cạnh đó, cách phân loại các nhóm thỏa thuận cạnh tranh bị cấm tuyệt đối và
cấm có điều kiện của Việt Nam cũng có sự khác biệt rõ nét với nhóm các nước trên,
đó là: ngoài ba thỏa thuận cạnh tranh bị cấm tuyệt đối từ khoản 6 đến khoản 8 Điều
8 của Luật thì các thỏa thuận mà theo thông lệ quốc tế được coi là các thỏa thuận
ngang nghiêm trọng (hardcore carten) như thỏa thuận về ấn định giá, thỏa thuận
phân chia thị trường và thỏa thuận hạn chế, kiểm soát số lượng, khối lượng hàng
hóa, dịch vụ lại không bị cấm tuyệt đối tại Việt Nam.
1.3. Quy định về miễn trừ đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
- Miễn trừ đối với các thỏa thuận trong ngành, lĩnh vực đặc thù:
Tại Hoa Kỳ, pháp luật cạnh tranh quy định cho hưởng miễn trừ đối với một số
dạng TTHCCT, thường là theo các thỏa thuận trong một ngành nhất định (block
exemption). Một số ngành được điều chỉnh bởi các chương trình kế hoạch theo luật
định của liên bang. Bộ Tư pháp Hoa Kỳ năm 1977 đã thống kê một số lĩnh vực
riêng
8
biệt được hưởng miễn trừ khỏi sự điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh gồm: nông
nghiệp, năng lượng, giao thông, ngân hàng và bảo hiểm, báo chí, tổ chức giáo dục
chuyên nghiệp và bóng chầy. Luật cạnh tranh của Úc cho phép miễn trừ đối với các
thỏa thuận của các hãng vận tải biển quốc tế và các thỏa ước thương lượng tập thể.
Luật chống độc quyền Nhật Bản miễn trừ đối với các thỏa thuận liên quan đến bản
quyền, sáng chế, nhãn hiệu (Điều 21). Các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
của các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) cũng không chịu sự điều chỉnh của Luật
chống độc quyền của Nhật Bản.
lý hoá cơ cấu tổ chức, mô hình kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh doanh; (ii)
Thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hoá, dịch vụ; (iii)
Thúc đẩy việc áp dụng thống nhất các tiêu chuẩn chất lượng, định mức kỹ thuật
của chủng loại sản phẩm; (iv) Thống nhất các điều kiện kinh doanh, giao hàng,
thanh toán nhưng không liên quan đến giá và các yếu tố của giá; (v) Tăng cường
sức cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa; (vi) Tăng cường sức cạnh tranh của
doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế.
1.4. Xử lý các vi phạm về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
Trong việc xử lý hành vi vi phạm về TTHCCT, bên cạnh các biện pháp xử lý
thường thấy là phạt tiền dựa trên số phần trăm doanh thu của doanh nghiệp tham
gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, có một số xu hướng được nhiều nước áp dụng
như sau:
- Quy định về xử lý vi phạm đối với các hiệp hội: Trên thế giới, một số nước có
những quy định rõ ràng về xử lý vi phạm của hiệp hội thương mại, hiệp hội nghề
nghiệp liên quan đến hành vi TTHCCT: Ví dụ, tại EU, quyết định, nghị quyết của
hiệp hội các doanh nghiệp là hành vi TTHCCT và vì vậy, cũng bị cũng bị xem xét,
xử lý tương tự như hành vi thỏa thuận giữa các doanh nghiệp. Tại Hàn Quốc, Điều
9
26 Luật thương mại lành mạnh quy định hiệp hội không được tham gia vào các
hành vi hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể bằng cách tham gia vào các hành vi
thông đồng bị cấm hoặc khiến cho hoặc xúi giục các doanh nghiệp tiến hành các
hành vi kinh doanh không lành mạnh. Khi hiệp hội tham gia vào các hoạt động bị
cấm của hiệp hội thì có thể bị phạt tiền không quá 500 triệu won (Điều 28). Tại
Nhật Bản, quy định tại khoản 1 Điều 8 Luật chống độc quyền 1947 nghiêm cấm
các hiệp hội thương mại tham gia các hoạt động hạn chế cạnh tranh trong bất kỳ
lĩnh vực thương mại nào; quy định tại khoản 1 Điều 8-3 cho phép Ủy ban Thương
mại lành mạnh Nhật Bản có thể thực hiện các biện pháp bất kỳ để yêu cầu hiệp hội
chấm dứt hành vi vi phạm hoặc yêu cầu giải thể hiệp hội. Tại Việt Nam, hiện chưa
từ 1.000.000.000 đồng đến dưới 5.000.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ
500.000.000 đồng đến dưới 3.000.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 200.000.000
đồng đến 1.000.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt
tù từ 03 tháng đến 02 năm: a) Thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm không cho doanh
nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh; b) Thỏa thuận loại bỏ
khỏi thị trường doanh nghiệp không phải là các bên của thỏa thuận; c) Thỏa thuận
hạn chế cạnh tranh khi các bên tham gia thỏa thuận có thị phần kết hợp trên thị
trường liên quan
30% trở lên thuộc một trong các trường hợp: thỏa thuận ấn định giá hàng hóa,
dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp; thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ,
nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ; thỏa thuận hạn chế hoặc kiểm soát số
lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hóa, dịch vụ; thỏa thuận hạn chế phát
triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư; thỏa thuận áp đặt cho doanh nghiệp
khác điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hóa, dịch vụ hoặc buộc doanh
nghiệp khác chấp nhận nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp
đồng.
- Quy định về chế tài xử phạt riêng đối với hành vi thông đồng trong hoạt động
đấu thầu: Nhiều quốc gia trên thế giới thường áp dụng biện pháp chế tài rất mạnh
đối với hành vi này. Theo Luật cạnh tranh của Canada, tất cả các những người
thông đồng liên quan đến đấu thầu đều có thể bị xác định là hành vi vi phạm và "có
thể bị truy tố và kết án tù với thời hạn không quá 5 năm hoặc chịu phạt tiền không
quá 10 triệu đô la hoặc cả hai hình phạt". Theo Luật Chống cạnh tranh không lành
mạnh của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, trường hợp các nhà dự thầu đệ trình
đơn thầu trên cơ sở câu kết với nhau để ép giá bỏ thầu tăng lên hoặc giảm xuống,
hoặc trong trường hợp nhà dự thầu cộng tác với bên mời thầu để ngăn ngừa các nhà
dự thầu cạnh tranh lành mạnh, việc thắng thầu đó sẽ bị coi là vô hiệu. Cơ quan có
thẩm quyền kiểm soát và điều tra có thể, tùy trường hợp, phạt tiền từ 10.000 đến
12
nhà nước trong việc xử lý TTHCCT. Không có quy định giảm trừ cố định cho
14
các doanh
15
nghiệp, cá nhân nộp đơn thứ hai mà tùy thuộc vào sự quyết định của Bộ Tư pháp
trên cơ sở cân nhắc từng vụ việc cụ thể. Theo thực tiễn áp dụng của Bộ Tư pháp
Hoa Kỳ, mức giảm trừ dựa trên sự hợp tác đối với các doanh nghiệp nộp đơn sau sẽ
dao động trong khoảng từ 30% đến 35% của mức phạt tối thiểu quy định tại Hướng
dẫn quyết định hình phạt của Ủy ban quyết định hình phạt Hoa Kỳ. Trong một số
trường hợp cá biệt, Bộ Tư pháp có thể chấp thuận một khoản giảm trừ tối đa lên
đến 59% của mức hình phạt thấp nhất trong Hướng dẫn trên.
Theo quy định tại Thông báo của Ủy ban châu Âu về miễn trừ và giảm trừ mức
phạt đối với các hành vi TTHCCT, doanh nghiệp nộp đơn đầu tiên sẽ đương nhiên
được hưởng miễn trừ khỏi bất cứ hình phạt nào mà doanh nghiệp đó có thể bị áp
dụng. Đối với những doanh nghiệp không thỏa mãn các điều kiện để được chấp
thuận miễn trừ, họ sẽ được giảm trừ mức phạt tương ứng với thứ tự giá trị thông tin
và chứng cứ được nộp. Ủy ban châu Âu cũng cho phép áp dụng các ưu đãi đối với
những doanh nghiệp nộp đơn sau bằng cách chấp thuận cho họ được giảm trừ các
khoản phạt tương ứng với giá trị đóng góp trong quá trình điều tra và xử lý vụ việc.
Theo đó, doanh nghiệp nộp đơn thứ nhất (sau doanh nghiệp nộp đơn đầu tiên) sẽ
được giảm trừ từ 30% đến 50% khoản tiền phạt mà họ có thể bị áp dụng, doanh
nghiệp nộp đơn thứ hai sẽ được giảm trừ từ 20% đến 30%, và những doanh nghiệp
nộp đơn tiếp theo được giảm trừ tối đa đến 20%.
Tại Nhật Bản, đối với tổ chức nộp đơn đầu tiên (chỉ tính trước khi cuộc điều tra
được tiến hành) sẽ được hưởng miễn trừ mọi hình phạt, với điều kiện doanh nghiệp
Tại Việt Nam, Luật cạnh tranh hiện hành và các văn bản dưới luật chưa xây
dựng khái niệm riêng về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh mà chỉ liệt kê 08 loại hành
vi được coi là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo quy định tại Điều 8 của Luật8.
Như vậy, Việt Nam đang sử dụng cách tiếp cận hẹp hơn so với luật cạnh tranh Hoa
Kỳ, Nhật
Bản, Hàn Quốc và EU trong việc nhận diện thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Việc
quy
6
điểm (a) và(c) Nghị định 116
Khoản 4 Điều 4 Nghị định của Chính phủ số 71/2014 NĐ- CP quy định về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh
vực cạnh tranh
7
8
Điều 8 Luật cạnh tranh 2004 quy định 08 loại hành vi sau được xem là hành vi TTHCCT: (1) thỏa thuận ấn định giá hàng hóa,
dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp; (2) thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch
vụ;
15
(3) thỏa thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua bán hàng hóa, dịch vụ; (4) thỏa thuận hạn chế phát
triển
kỹ thuật; (5) thỏa thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hóa, dịch vụ buộc doanh nghiệp
khác chấp nhận các nghĩa vụ khác không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng; (6) thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm,
không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoạt phát triển kinh doanh; (7) thỏa thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh
nghiệp không phải là các bên của thỏa thuận; (8) thông đồng để một hoặc các bên của thỏa thuận thắng thầu trong việc cung cấp
hàng hóa, dịch vụ.
17
thuận ấn định
18
giá giữa các doanh nghiệp đối thủ trên thị trường luôn bị coi là hành vi mang bản
chất phản cạnh tranh và được quy định cấm theo nguyên tắc vi phạm mặc nhiên
theo pháp luật cạnh tranh ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, thậm chí đối tượng vi
phạm còn có thể bị xử lý hình sự. Trong khi đó Luật cạnh tranh của Việt Nam lại
quy định cấm có điều kiện, khi mà các bên tham gia thoả thuận có thị phần kết hợp
trên thị trường liên quan từ 30% trở lên. Mặc dù có thể có lý do biện minh rằng nền
kinh tế Việt Nam nhỏ bé trong đó hầu hết là các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tuy
nhiên, quy định này về tổng thể là một bước thụt lùi so với sự phát triển của pháp
luật cạnh tranh thế giới.
Do đó, có thể nghiên cứu điều chỉnh các quy định cấm của pháp luật cạnh tranh
Việt Nam phù hợp với thông lệ quốc tế theo hướng:
- Đối với 4 dạng thỏa thuận ngang nghiêm trọng gồm: thỏa thuận ấn định giá;
thỏa thuận phân chia thị trường; thỏa thuận hạn chế, kiểm soát sản lượng sản xuất,
mua bán và; thông đồng đấu thầu cần áp dụng nguyên tắc cấm mặc nhiên.
- Đối với các loại thỏa thuận khác: áp dụng nguyên tắc cấm trên cơ sở đánh giá
tác động hoặc khả năng gây hạn chế cạnh tranh. Khi xem xét để đánh giá tác động
và khả năng gây hạn chế cạnh tranh cần dựa trên căn cứ, tiêu chí cụ thể. Ví dụ như
các căn cứ về: (1) lợi ích kinh tế mà thỏa thuận đó mang lại; (2) tính cần thiết của
thỏa thuận nhằm đạt được các lợi ích kinh tế đó; (3) phần lợi ích được chuyển/chia
sẻ cho người tiêu dùng và; (4) tính không loại bỏ cạnh tranh của thỏa thuận như
kinh nghiệm của Liên minh Châu Âu đã trình bày ở trên.
Tại Dự thảo 5, kinh nghiệm này được tiếp thu tại khoản 2 Điều 3 và Điều 13.
về xử lý đối với các vi phạm về TTHCCT trong một số trường hợp. Ví dụ: theo
quy định tại Điều 12 và Điều 13 Tại Dự thảo 5, căn cứ để đánh giá và xem xét vi
phạm đối với một số loại thỏa thuận hạn chế cạnh tranh như “thỏa thuận hạn chế
phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư; thỏa thuận áp đặt cho doanh nghiệp
20