Đề tài
Tìm hiều kinh nghiệm điều hành chính sách tiền tệ có hiệu quả của
ngân hàng trung ương một số quốc gia trên thế giới và rút ra bài học
kinh nghiệm cho Việt Nam
Giảng viên hướng dẫn: Đoàn Thu Thảo
Thành viên trong nhóm: 3
1
PHỤ LỤC
2
Chương I: Tổng quan về chính sách tiền tệ
I.
Khái niệm chính sách tiền tệ.
Ngân hàng Trung ương ra đời trong quan điểm là ngân hàng phát hành với chức
năng phát hành tiền cho lưu thông, về sau, khái niệm Ngân hàng Trung ương thay cho ngân
hàng phát hành với chức năng vừa phát hành tiền vừa quản lý về lưu thông tiền tệ
Chính sách lưu thông tiền tệ hay chính sách tiền tệ (monetary policy) là chính sách
kinh tế vĩ mô mà trong đó NHTW sử dụng các công cụ của mình để điều tiết và kiểm soát
điều kiện tiền tệ trong nền kinh tế nhằm đảm bảo sự ổn định giá trị tiền tệ, tạo nền tảng thúc
đẩy sự tăng trưởng kinh tế và duy trì các mục tiêu xã hội hợp lý.
Tùy điều kiện mỗi nước chính sách tiền tệ có thể được xác lập theo hai hướng: chính
sách tiền tệ mở rộng (tăng cung tiền, giảm lãi suất để thúc đẩy sản xuất kinh doanh, giảm
3. Đảm bảo công ăn việc làm đầy đủ
Tạo công ăn việc làm đầy đủ là mục tiêu của tất cả các chính sách kinh tế vĩ mô trong
đó có chính sách tiền tệ. Công ăn việc làm đầy đủ có ý nghĩa quan trọng bởi ba lý do:
Chỉ số thất nghiệp là một trong những chỉ tiêu phản ánh sự thịnh vượng xã hội vì nó
phản ánh khả năng sử dụng có hiệu quả nguồn lực xã hội.
Thất nghiệp gây nên tình trạng căng thẳng cho mỗi cá nhân và gia đình của họ và là
mầm mống của các tệ nạn xã hội.
Các khoản trợ cấp thất nghiệp tăng lên có thể làm thay đổi cơ cấu chi tiêu ngân sách
và làm căng thẳng tình trạng ngân sách.
Đảm bảo công ăn việc làm đầy đủ không có nghĩa là tỷ lệ thất nghiệp bằng 0 mà ở
mức tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên. Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên được cấu thành từ tỷ lệ thất nghiệp
tạm thời (những người đang tìm kiếm công việc thích hợp) và tỷ lệ thất nghiệp cơ cấu (thất
nghiệp bởi sự không phù hợp giữa nhu cầu về lao động và cung của lao động). Mỗi quốc gia
cần xác định được tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên một cách chính xác để đạt được mục tiêu này.
Bên cạnh đó, cố gắng giảm tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên cũng được coi là mục tiêu của chính
sách tiền tệ.
Ngoài các mục tiêu vĩ mô trên một số nước còn tập trung vào các mục tiêu cụ thể, tùy
thuộc vào đặc điểm phát triển kinh tế đặc thù của họ. Ví dụ Cục dự trữ liên bang Mỹ theo
đuổi các mục tiêu khác như ổn định thị trường tài chính, ổn định lãi suất.
4
Bởi tính chất mâu thuẫn giữa các mục tiêu, nên NHTW không thể theo đuổi tất cả các
mục tiêu nêu trên trong 1 khoảng thời gian nhất định . Điều này buộc NHTW phải có sự lựa
chọn và ưu tiên cho những mục tiêu quan trọng từng thời kỳ. Phần lớn NHTW các nước coi
ổn định giá cả là mục tiêu chủ yếu và dài hạn của chính sách tiền tệ
III.
Hệ thống công cụ chính sách tiền tệ
1. Hệ thống công cụ trực tiếp
động trong việc đIều chỉnh lượng tiền cung ứng và tác động của nó cũng rất mạnh (chỉ cần
thay đổi một lượng nhỏ tỷ lệ dự trữ bắt buộc là ảnh hưởng tới một lượng rất lớn mức cung
tiền). Song tính linh hoạt của nó không cao vì việc tổ chức thực hiện nó rất chậm ,phức tạp,
tốn kém và nó có thể ảnh hưởng không tốt tới hoạt động kinh doanh của các NHTM.
2.2.
Nghiệp vụ thị trường mở (OMO)
Là hoạt động mua bán giấy tờ có giá của NHTW trên thị trưởng mở cho phép NHTW
tác động trực tiếp vào dự trữ của hệ thống NHTM từ đó ảnh hưởng đến cung cầu vốn khả
dụng cũng như lãi suất thị trường liên ngân hàng.
Đặc điểm: Do vận dụng tính linh hoạt của thị trường nên đây được coi là một công cụ
rất năng động ,hiệu quả,chính xác của CSTT vì khối lượng chứng khoán mua( bán ) tỷ lệ với
qui mô lượng tiền cung ứng cần đIều chỉnh,ít tốn kém về chi phí ,dễ đảo ngược tình thế.Tuy
vậy, vì được thực hiện thông qua quan hệ trao đổi nên nó còn phụ thuộc vào các chủ thể
khác tham gia trên thị trường và mặt khác để công cụ này hiệu quả thì cần phảI có sự phát
triển đồng bộ của thị trường tiền tệ ,thị trường vốn.
2.3.
Chính sách chiết khấu
Đây là hoạt động mà NHTW thực hiện cho vay ngắn hạn đối với các NHTM thể hiện
qua việc điều chỉnh lãI suất chiết khấu (đối với thương phiếu) và hạn mức cho vay chiết
khấu(cửa sổ chiết khấu)
Cơ chế tác động:Khi NHTW tăng (giảm ) lãi suất chiết khấu sẽ hạn chế (khuyến
khích) việc các NHTM vay tiền tại NHTW làm cho khả năng cho vay của các NHTM giảm
(tăng) từ đó làm cho mức cung tiền trong nền kinh tế giảm (tăng).Mặt khác khi NHTW
muốn hạn chế NHTM vay chiết khấu của mình thì thực hiện việc khép cửa sổ chiết khấu lại.
Ngoài ra, ở các nước có thị trường chưa phát triển (thương phiếu chưa phổ biến để có
thể làm công cụ táI chiết khấu) thì NHTW còn thực hiện nghiệp vụ này thông qua việc cho
thách thức thực sự: khi lãi suất ở mức 0%, tỷ lệ lãi suất ngắn hạn không thể cắt giảm hơn
nữa; do đó, công cụ chính sách truyền thống để đối phó với tình trạng suy giảm kinh tế là
không còn tác dụng nữa.
1.2.
Chính sách tiền tệ
7
Bằng việc cho ra đời bảy công cụ chính sách tiền tệ mới bên cạnh ba công cụ truyền
thống, Fed đã giúp thị trường tài chính gần như đã vượt qua được cuộc khủng hoảng.
1.2.1. Các công cụ chính sách tiền tệ truyền thống.
- Công cụ dự trữ bắt buộc.
Trong khủng hoảng, Fed không tăng- giảm tỉ lệ dự trữ bắt buộc, thay vào đó, Fed trả lãi
cho các khoản dự trữ bắt buộc và dự trữ vượt của các ngân hàng ( hiện nay, lãi suất này là
0.25% cho các khoản dự trữ)
- Công cụ lãi suất quỹ dự trữ liên bang và lãi suất chiết khấu
Phản ứng tức thời của Fed khi khủng hoảng bắt đầu có dấu hiệu xảy ra là liên tục giảm
lãi suất quỹ dự trữ liên bang, đồng thời giảm khoảng cách giữa FFR và DR từ 100 điểm phần
trăm xuống còn 25 điểm phần trăm, thực hiện chính sách tiền tệ “nới lỏng định lượng” nhằm
giảm áp lực trên thị trường tiền tệ, khuyến khích các ngân hàng tham gia Discount Window
để đáp ứng thanh khoản. Tuy nhiên, phản ứng này của Fed đã không mang lại hiệu quả do
những hạn chế về loại tài sản thế chấp và các tổ chức được tham gia thị trường.
Biểu đồ 2.1: Diễn biến lãi suất Quỹ dự trữ liên bang và Lãi suất chiết khấu thời gian
qua.
Nhìn vào biểu đồ, ta có thể thấy được sự cắt giảm lãi suất liên tục của Fed, đồng thời là
khoảng cách giữa FFR và DR cũng được rút ngắn. Hiện nay, lãi suất quỹ dự trữ liên bang là
0-0.25%
9
Biểu đồ 2.2: Diễn biến lãi suất Libor 3 tháng từ tháng 7/2007 đến tháng 1/ 2009
Theo biểu đồ ta thấy sau khi TAF được công bố, lãi suất Libor trên thị trường liên ngân
hàng giảm, tuy nhiên, vào thời điểm Leman Brothers phá sản, lãi suất này (cùng với repo
rate) tăng lên đột biến, cho thấy thị trường đang khủng hoảng một cách trầm trọng về thanh
khoản, chính vì vậy, Fed đã tăng khối lượng đấu thầu, công bố kéo dài thời hạn của TAF,
giúp cân bằng trở lại lãi suất Libor.
Biểu đồ 2.3: Mở rộng khối lượng đấu thầu TAF nhằm giảm lãi suất đấu thầu tối đa
(stop out rate).
10
Nhìn vào biểu đồ này, ta có thể thấy khối lượng tiền được đấu thầu trong công cụ TAF
của Fed càng ngày càng tăng, và đến tháng 8 – 2008, khi Leman Brothers sụp đổ, Fed đã
tăng lượng tiền cung ứng nhằm đáp ứng đủ nhu cầu của các trung gian tài chính tham gia
đấu thầu. Tỉ lệ chênh lệch lãi suất cao nhất và lãi suất sàn tham gia đâu thầu vào thời điểm
Leman Brothers sụp đổ đã tăng cao đột biến, Fed lập tức tăng khối lượng đấu thầu và kéo lãi
suất cao nhất về bằng lãi suất thấp nhất nhằm giảm áp lực thị trường về cầu tiền. Chính điều
này làm cho công cụ TAF ảnh hưởng rất lớn đến bảng cân đối của Fed.
TAF cho phép các ngân hàng sử dụng tài sản thế chấp là các chứng khoán chất lượng
thấp hơn trong Discount Window, giúp giảm áp lực vốn trên thị trường liên ngân hàng, khiến
lãi suất LIBOR giảm mạnh. Các ngân hàng dùng những tài sản thế chấp vốn dĩ dùng trong
thị trường liên ngân hàng để vay TAF, TAF đã tạo nên một kênh tín dụng mới, và Fed tham
gia thị trường liên ngân hàng với tư cách người cho vay cuối cùng, đảm bảo cung ứng đủ tín
dụng và phá băng cho thị trường quan trọng này của các tổ chức nhận tiền gởi.
- Cho vay chứng khoán kì hạn (Term sercurities lending facility)
Tron g nhiều năm, Fed cho các trung gian tài chính phi ngân hàng hàng đầu (Primary
hơn, việc này giúp Fed thực hiện được mục tiêu giảm chi phí vốn cho các tổ chức trên thị
trường tín dụng.
Sau phiên đấu thầu TSLF đầu tiên, lãi suất vay qua đêm trên thị trường các trung gian
tài chính phi ngân hàng lập tức giảm.
12
Biểu đồ 2.4. Khoảng cách giữa lãi suất đi vay thế chấp bằng các chứng khoán rủi ro cao
và bằng trái phiếu chính phủ và các chứng khoán chất lượng cao.
Biểu đồ cho thấy trước khi TSLF được công bố, khoảng cách lãi suất giữa đi vay thế
chấp bằng các chứng khoán khác trái phiếu chính phủ là rất cao, các trung gian tài chính phi
ngân hàng hàng đầu bởi vì không có trái phiếu chính phủ và các chứng khoán chất lượng cao
để thế chấp để đi vay đã phải chịu lãi suất cao để có thể vay được trên thị trường. Sau khi
Fed công bố TSLF và phiên đấu thầu đầu tiên được thực hiện, lãi suất vay qua đêm trên thị
trường này giảm mạnh. TSLF đã cung ứng một lượng trái phiếu chính phủ lớn để các trung
gian tài chính này đổi lấy bằng cách thế chấp các chứng khoán xấu của mình. Tuy nhiên, đến
tháng 8 – 2008, vào thời điểm Leman Brothers sụp đổ, lãi suất trên thị trường này mặc dù có
TSLF vẫn tăng đột biến, buộc Fed phải hành động tương tự như ở TAF, nghĩa là tăng lượng
trái phiếu chính phủ trong các phiên đấu thầu để nhằm giảm áp lực thị trường, và kết quả của
việc đó là lãi suất qua đêm của các trung gian tài chính giảm, nhưng đồng thời Fed cũng cạn
kiệt nguồn trái phiếu chính phủ và các chứng khoán chất lượng cao để có thể tiếp tục cho
vay.
Vào 30/07/2008, Fed công bố mở rộng TSLF bằng chương trình Quyền chọ vay chứng
khoán kỳ hạn ( TOP), TOP được xem như một chương trình gia tăng tính năng động của
TSLF bằng quyền chọn vay chứng khoán trong tương lai
13
giúp hạ lãi suất trên thị trường vốn của các dealer, duy trì hoạt động của các tổ chức này,
đồng thời giúp cho thị trường các chứng khoán chính phủ được duy trì.
Với việc cộng thêm một khoản phí ngoài lãi suất bằng với lãi suất chiết khấu, Fed
mong muốn rằng các primary dealers sẽ coi PDCF như nguồn tài trợ cuối cùng, chứ không
phải là đầu tiên khi các primary dealers tìm kiếm nguồn vốn cho các hoạt động của mình.
Chính vì lý do đó, ngay khi thị trường có dấu hiệu phục hồi, khối lượng tiền Fed cung ứng
trong PDCF giảm xuống gần bằng 0 từ tháng 5/2009, khi các primary dealers có thể tìm
nguồn vốn khác rẻ hơn là vay của Fed.
Biểu đồ 2.5: Khối lượng sử dụng PDCF và Discount Window năm 2008-2009
Đầu tiên, hầu hết các khoản vay là Bear Steans, khối lượng vay tăng đỉnh điểm đến 40
tỉ USD vào tháng 8/2008, sau đó giảm xuống theo sự phục hồi của bảng cân đối kế toán của
các primary dealers, điều kiện tín dụng trên thị trường được cải thiện, lúc đó, chi phí vay của
PDCF không mấy hấp dẫn các tổ chức. Việc sử dụng PDCF hạ xuống thấp nhất sau khi JP
Morgan Chase mua lại Bear Stearns vào 20/06/2008. Nhưng sau khi Fed mở rộng các loại tài
sản cầm cố trong PDCF vào ngày 14/08/2008 và Leman Brothers phá sản vào 15/08/2008,
thị trường vay của các primary dealers khó khăn đến nỗi họ quay trở lại tìm Fed, khiến cho
khối lượng cho vay PDCF thời điểm đó tăng vọt lên 59.7 tỉ USD vào 17/09. Với ví dụ này,
15
có thể thấy PDCF đã đóng khá thành công vai trò của mình: sẵn sàng trong trường hợp một
thất bại của một primary dealer gây ra tình trạng khủng hoảng nguồn cung ứng tài chính cho
các dealers còn lại. Vào tháng 10/2008, PDCF cung ứng lượng tiền lên đến 109 tỉ USD cho
các dealers, và hiện nay là gần như bằng 0
- Cho vay dựa trên thương phiếu được đảm bảo bằng tài sản (Asset-backed
commercial paper Money market mutual Fund liquidity Facility-AMLF)
Trong nổ lực ngăn chặn sự sụp đổ hệ thống tài chính Hoa Kỳ của Fed khi đã cho ra đời
ngày 30/01/2009, nhưng sau đó đã được gia hạn đến 01/02/2010.
Thương phiếu được đảm bảo bằng tài sản (ABCP) là một loại giấy tờ thương mại được
thế chấp bằng tài sản tài chính khác. Thời hạn ABCP thường là từ 90 và 180 ngày và thường
được phát hành bởi một ngân hàng hay tổ chức tài chính. Chúng được sử dụng cho nhu cầu
tài trợ ngắn hạn. Các ABCP là công cụ có độ rủi ro thấp hơn nhiều so với cổ phiếu thông
thường vì ABCP không chỉ được đảm bảo bởi uy tín của tổ chức phát hành mà còn bởi các
tài sản. Hơn nữa, ABCP được phát hành bởi những tổ chức đặc biệt (Special Purpose Entity /
Special Investment Vehicle – SPE / SIV ) thường do các tổ chức tài chính lập ra. Các tài sản
tài chính được dùng là vật thế chấp cho ABCP thường là một kết hợp của nhiều tài sản khác
nhau, đã được một cơ quan xếp hạng đánh giá nguy cơ bị phá sản thấp. Tuy nhiên, năm
2007-2008 nhiều tài sản trong số những tài sản này tỏ ra kém hiệu quả hơn dự kiến, làm cho
lượng người mua ABCP giảm mạnh. Sự leo thang của khủng hoảng, nhất là sau vụ phá sản
của Lehman Brothers, đã khiến giới đầu tư trở nên e dè với thị trường thương phiếu, và
chuyển sang đầu tư trái phiếu kho bạc Mỹ được xem là an toàn hơn. Họ lo ngại sẽ mua phải
thương phiếu của một công ty nào đang có nguy cơ phá sản mà không biết. Do vậy, các
ABCP rớt giá thê thảm (Biểu đồ ABCP), thậm chí không giao dịch được khiến các doanh
nghiệp Mỹ không biết xoay đâu ra vốn giữa lúc các khoản nợ hiện có của họ đã đến hạn phải
trả. Trước khi khủng hoảng diễn ra, giá trị dư nợ thương phiếu ở Mỹ là 2.000 tỷ USD. Tuy
nhiên, theo số liệu của FED, trong ngày 1/10/2008, thị trường thương phiếu đã giảm xuống
mức thấp nhất trong vòng 3 năm là 1.600 tỷ USD. Khi thị trường đã trở nên không sẵn sàng
mua ABCP, sự cố này làm cho các tổ chức tài chính gặp nhiều khó khăn, khi đã dựa vào
doanh thu của ABCP để có được khoản tiền để sử dụng trong đầu tư dài hạn. Đặc biệt, đối
17
với các SPE / SIV, các tổ chức đặc biệt này thường dùng đòn bẩy nợ rất cao trong hoạt động
của mình, bằng cách phát hành các ABCP và các giấy nợ trung hạn khác, sau đó dùng tiền
huy động được để tài trợ cho các khoản phải thu của các tổ chức tài chính. Quỹ thị trường
tiền tệ (MMMF) lâm nạn, vì chúng đã đầu tư rất lớn vào các thương phiếu ABCP trong tổng
tài sản của mình. Hơn nữa, các tổ chức tài chính mẹ của các SPE / SIV cũng chịu ảnh hưởng
ràng là một điểm bất lợi cho các ngân hàng thương mại và chính là lý do xuất hiện các Quỹ
đầu tư thị trường (MMF).
Về bản chất các MMF là các quĩ đầu tư tương hỗ (mutual funds) theo nghĩa nó huy
động tiền của các nhà đầu tư và tìm cách sinh lợi từ đó rồi chia lợi nhuận lại cho các cổ
đông. Do bản chất MMF là quĩ đầu tư nên nó không bị ràng buộc bằng những qui định ngặt
nghèo như các ngân hàng thương mại và không bị Fed quản lý. Tất nhiên MMF cũng không
được Fed giúp đỡ về mặt thanh khoản nếu có khó khăn (thông qua discount window). Điểm
đặc thù của MMF so với các quỹ tương hỗ khác là nó chỉ tập trung đầu tư vào các công cụ
tài chính rất ngắn hạn và rất an toàn. Tất nhiên lợi nhuận của các MMF sẽ thấp hơn so với
các quỹ tương hỗ bình thường. Nhưng điều đó không quan trọng vì đối với những nhà đầu tư
bỏ tiền vào MMF, điều họ cần là một dạng check account có thể rút tiền ra bất kỳ lúc nào mà
vẫn được hưởng một mức lãi suất nhất định. Tất cả mọi người đã ngầm định MMF là một hệ
thống ngân hàng tồn tại song song với các ngân hàng thương mại.
19
Các MMF chỉ đầu tư vào các công cụ tài chính ít rủi ro nhất và có tính thanh khoản cao
nhất. Một trong những công cụ đó là các thương phiếu (CP) do các công ty (không phải tài
chính) phát hành. Chính thị trường CP này là cầu nối giữa các doanh nghiệp và các MMF.
Các MMF tham gia tích cực vào thị trường này vì các CP thường có thời hạn rất ngắn và rất
an toàn. Mặc dù hệ thống tài chính Mỹ bắt đầu bị khủng hoảng từ tháng 8/2007 nhưng thị
trường CP hầu như không bị ảnh hưởng. Cho đến cuối tháng 8/2008 thị trường này vẫn tăng
trưởng đều đặn. Tất nhiên khi Libor tăng cao và cuộc khủng hoảng ngày càng đen tối, nguồn
tài chính từ các ngân hàng thương mại cho thị trường CP đã sụt giảm đáng kể, nhưng nguyên
nhân chính dẫn đến sự sụp đổ của thị trường này chính là sự tháo chạy của các MMF.
Ngay sau khi Lehman Brothers phá sản và Fed phải giải cứu AIG bằng $85bn, Reserve
Primary Fund, đã “broke the buck”. Một MMF uy tín nhất đã bị lỗ và lý do là MMF này đã
mua $786m CP của Lehman Brothers. Ngay tức thì các “nhà đầu tư” của Reserve Primary đã
đổ xô đi rút tiền khỏi quĩ này và chỉ trong 2 ngày 15-16/09 60% trong tổng số tài sản
CPFF sẽ cung cấp thanh khoản cho công ty phát hành thương phiếu thông qua Quỹ có
mục đích đặc biệt (SPV). Quỹ này sẽ mua thương phiếu không có tài sản bảo đảm hay có tài
sản bảo đảm đủ điều kiện- từ công ty phát hành đủ điều kiện. FED tài trợ vốn cho Quỹ này.
- Công cụ quỹ dành cho các nhà đầu tư trên thị trường tiền tệ (Money market
investor funding facility - MMIFF)
Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) có động thái mới phản ứng trước khủng hoảng tài
chính khi ngày 21/10/2008, FED sẽ sử dụng 600 tỷ USD để cấp tín dụng cho một số quỹ có
mục đích đặc biệt của khu vục tư nhân (Special Purpose Vehicle established by the Private
sector-PSPV) trong đó FED sẽ cho vay 540 tỷ USD để giúp các quỹ này, phần còn lại trị giá
60 tỷ đô la Mỹ sẽ được cấp dưới hình thức phát hành thương phiếu của 5 tổ chức đặc biệt
cho các quỹ tiền tệ với mục đích bán tài sản của họ.
Theo chương trình này, Fed hỗ trợ các quỹ tương hỗ mua nợ ngắn hạn được xếp hạng
cao, bao gồm chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu ngân hàng và thương phiếu với thời gian đáo hạn
còn lại không ít hơn 7 ngày nhưng không quá 90 ngày - từ các nhà đầu tư hội đủ theo quy
định của FED.
Khối lượng tài sản tối thiểu được bán trong quỹ này là $250,000.
21
Các SPVs bắt đầu mua tài sản đủ điều kiện từ ngày 24 tháng 11 năm 2008 và sẽ dừng
mua tài sản vào ngày 30 tháng 10 năm 2009. The New York Fed sẽ tiếp tục quỹ SPVs sau
ngày đó cho đến khi tài sản tiềm ẩn của SPVs lớn.
MMIFF bổ sung cho CPFF. Các CPFF sẽ cấp vốn mua lại thương phiếu ba tháng của
SPV từ công ty phát hành với lãi suất được chọn trên lãi suất thị trường trong nhiều lần bình
thường, đảm bảo công ty phát hành tham gia rằng họ không trả nhiều hơn tỉ lệ CPFF so với
thương phiếu. Các MMIFF sẽ có xu hướng tỉ lệ nợ ngắn hạn xuống làm giảm một số trong
những áp lực trên bảng cân đối các nhà đầu tư thị trường tiền tệ. Cả hai MMIFF và CPFF là
nhằm cải thiện tính thanh khoản tại các thị trường nợ ngắn hạn và qua đó tăng cường cung
cấp tín dụng cho các doanh nghiệp và hộ gia đình.
Mối quan hệ giữa AMLF và MMIFF là gì?
nợ phụ thuộc vào SPV. SPV sẽ mua và quản lý bất kỳ tài sản nào được nhận bởi Fed có liên
quan đến bất cứ khoản vay nào của TALF.
Ngày 03/3/2009 Fed đã chính thức công bố TALF bơm 200 tỷ USD cho hộ gia đình và
các doanh nghiệp nhỏ bao gồm các khoản vay tự động và thẻ tín dụng. TALF được xem là
chất xúc tác nhằm khởi động lại thị trường tín dụng đã bị đóng băng.
Bất kỳ công ty Mỹ nào sở hữu vật thế chấp đủ điều kiện mượn từ TALF.
TALF là chương trình tín dụng 200 tỷ USD đến 1.000 tỷ USD được thiết kế để tạo điều
kiện thuận lợi phát hành và bán nhiều chứng khoán đảm bảo bằng tài sản.
TALF cung cấp khả năng thanh toán cho người mua và người bán chứng khoán đảm
bảo bằng tài sản.
Cục Dự trự liên bang và Bộ tài chính hy vọng sẽ nhanh chóng phục hồi thị trường cho
vay đảm bảo cho hộ gia đình và doanh nghiệp.
Sơ đồ thể hiện
23
Biểu đồ 2.7: số lượng phát hành chứng khoản đảm bảo bằng tài sản ở Mỹ từ năm 1996
đến năm 2009
Ban đầu TALF dùng hỗ trợ cho hộ tiêu dùng và doanh nghiệp nhỏ. Nhưng thấy tình
hình thị trường vẫn chưa ổn định nên TALF mở rộng thêm đối tượng: cho các đối tượng vay
để mua thiết bị công nghiệp nặng, nông nghiệp nặng.
Cho đến nay, ảnh hưởng của TALF vẫn chưa được rõ ràng
Quyết định của FED đưa lãi suất về gần bằng 0 cùng với những gói nới lỏng định
lượng trong thời gian qua đã giúp kinh tế Mỹ phục hồi mạnh mẽ và thực tế đã đẩy tỷ lệ thất
nghiệp xuống chỉ còn hơn 5%. Sau 8 năm, nay các doanh nghiệp hồi phục, tỷ lệ thất nghiệp
tiệm cận mức tỷ lệ “thất nghiệp tự nhiên” 5%, nền kinh tế phục hồi mạnh mẽ trong khi lạm
phát thấp. Lãi suất thấp kỷ lục khiến tín dụng dễ dàng phân bổ khắp nền kinh tế. Chính sách
nới lỏng tiền tệ đã khuyến khích người dân mua nhà, mua xe, hỗ trợ thị trường bất động sản
và ôtô tại Mỹ hồi phục nhanh hơn. Nhưng mặt khác, lãi suất thấp lại đánh vào túi tiền các
kỳ các năm từ 2011. Các doanh nghiệp tăng cường phát hành nợ một phần nhằm chi trả cho
những thương vụ mua lại và sáp nhập lớn trên thị trường. Từ đầu năm 2015, các doanh
nghiệp Mỹ đã bán ra hơn 211 tỷ trái phiếu rủi ro cao (trái phiếu rác), trong khi con số này chỉ
đạt hơn 200 tỷ USD trong 8 tháng đầu của các năm tính từ 2011. Thậm chí thời điểm cao
trào của bong bóng tín dụng năm 2007 cũng chỉ có 115 tỷ trái phiếu rủi ro được bán ra.
25