Thi hành các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn Quận 7 thành phố Hồ Chí Minh (tt) - Pdf 45

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ NHA TRANG

THI HÀNH CÁC HÌNH PHẠT NHẸ HƠN HÌNH PHẠT TÙ
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN QUẬN 7
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 60.38.01.04

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, 2017


Công trình được hoàn thành tại: Quận 7 thành phố Hồ Chí Minh

Người hướng dẫn khoa học: TS. Trần Thị Quang Vinh.

Phản biện 1: PGS.TS. Nguyễn Tất Viễn

Phản biện 2: TS. Phạm Văn Beo

Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ
họp tại: Học viện khoa học xã hội …… giờ …… ngày ….. tháng
…. năm …..
Có thể tìm hiểu luận văn tại: Thư viện Học viện Khoa học xã hội.




giải pháp, kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện các quy định của
pháp luật và nâng cao chất lượng công tác thi hành các hình phạt nhẹ
hơn hình phạt tù trên địa bàn Quận 7 nói riêng và cả nước nói chung
là một yêu cầu khách quan, cần thiết. Vì những lý do trên, tác giả
chọn vấn đề “Thi hành các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù theo
pháp luật Việt Nam từ thực tiễn Quận 7 thành phố Hồ Chí Minh”
làm đề tài luận văn là đáp ứng yêu cầu cấp thiết khách quan hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian vừa qua, đã có một số công trình khoa học
liên quan đến đề tài của tác giả dưới các góc độ khác nhau. Trước
hết, hoạt động THAHS nói chung, thi hành hình phạt nhẹ hơn hình
phạt tù nói riêng được phân tích trong một số giáo trình, sách chuyên
khảo và được đề cập chung trong một số bài viết đăng trên các tạp
chí chuyên ngành.
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, khảo sát cho thấy, các công
trình nghiên cứu, các bài viết, đề tài khoa học nói trên đều là những
công trình có giá trị về mặt khoa học và thực tiễn. Tuy nhiên, nội
dung các đề tài chỉ hướng đến việc phân tích, nghiên cứu những vấn
đề lý luận chung về thi hành án và thi hành án hình sự, công tác thi
hành các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù thì mới được thể hiện một
phần trong kết quả của các công trình nghiên chung đó mà chưa
được triển khai nghiên cứu độc lập, chuyên sâu để đánh giá lý luận
và tổng kết thực tiễn. Chưa có tác giả nào đưa ra công trình khoa học
nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện và đầy đủ về vấn đề này ở
cả hai phương diện lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật ở địa bàn
Quận 7 thành phố Hồ Chí Minh ở cấp độ sau đại học.

2

3


nâng cao hiệu quả thi hành án. Về không gian, thời gian: luận văn
nghiên cứu và đánh giá thực tiễn thi hành án các hình phạt nhẹ hơn
hình phạt tù trên địa bàn Quận 7 từ năm 2012 đến năm 2016.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở phương pháp luận: Luận văn được thực hiện trên cơ
sở phương pháp luận là phép duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác
– Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; hệ thống
các quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về đấu tranh phòng, chống tội
phạm, về chính sách hình sự đối với việc thi hành các hình phạt nhẹ
hơn hình phạt tù.
- Phương pháp nghiên cứu: phương pháp so sánh; phương
pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp thống kê.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về mặt lý luận: Với kết quả nghiên cứu đạt được, luận văn
có thể góp phần bổ sung, làm phong phú thêm lý luận về thi hành các
hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù dưới góc độ pháp lý và đưa ra cơ sở
khoa học của hoạt động hoàn thiện pháp luật về thi hành các hình
phạt nhẹ hơn hình phạt tù. Về mặt thực tiễn: Luận văn có thể được sử
dụng làm tài liệu tham khảo đối với những người làm công tác thực
tiễn để nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của pháp luật về thi hành
các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù và những người học tập, giảng
dạy, nghiên cứu lập pháp về công tác này.

4


CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT

lợi ích của Nhà nước, tổ chức và công dân, bảo vệ trật tự pháp luật
xã hội chủ nghĩa.

5


Bản chất thi hành án các hình phạt nhẹ hơn tù là khi thi hành
án sẽ không cách ly người bị kết án ra khỏi đời sống xã hội mà cải
tạo, giáo dục họ trong môi trường xã hội dưới sự hỗ trợ, giám sát của
cả cộng đồng. Việc thi hành hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù cũng như
hiệu quả của công tác này dựa trên sự hỗ trợ tích cực, sự giám sát của
cộng đồng, xã hội giúp cho người bị kết án cải tạo để trở thành người
có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật. Từ đó có thể hiểu:
thi hành các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù là hoạt động của cơ
quan, tổ chức, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật
buộc người chấp hành các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù phải tuân
thủ, chấp hành các hình phạt mà Tòa án đã tuyên đối với họ tại
phiên tòa, phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm do
họ gây ra nhằm bảo đảm lợi ích của Nhà nước, tổ chức và công dân,
bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa và ngăn ngừa họ phạm tội mới
cũng như phòng ngừa tội phạm chung cho toàn xã hội.
Ngoài ra, theo quy định của Luật THAHS, “Thi hành án phạt
cải tạo không giam giữ là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo
quy định của luật này giám sát, giáo dục người chấp hành án tại xã,
phường, thị trấn và khấu trừ thu nhập sung quỹ nhà nước theo bản án
đã có hiệu lực pháp luật”. “Thi hành án phạt trục xuất là việc cơ
quan, người có thẩm quyền theo quy định của luật này buộc người
chấp hành án phải rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam theo bản án đã có hiệu lực pháp luật”.
Thi hành các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù có đặc điểm: Đó

trước khi ban hành Luật thi hành án hình sự năm 2010
1.2.1. Quy định về thi hành các hình phạt nhẹ hơn hình phạt
tù ở Việt Nam từ năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ Luật Tố
tụng hình sự năm 1988

7


Ở giai đoạn này, việc thi hành các hình phạt nhẹ hơn hình
phạt tù chưa được quy định một cách cụ thể mà chỉ được nhắc đến ở
một số văn bản như Thông tư số 1735-P/4 ngày 03/06/1946 về việc
thi hành các án hình; Thông tư số 24-BK, ngày 26/4/1949 về việc thi
hành các án hình và hộ; Luật tổ chức TAND năm 1960; Nghị quyết
số 02-HĐTP-TANDTC/QĐ ngày 05/01/1986 của hướng dẫn áp dụng
một số quy định của BLHS năm 1985. Các văn bản này chủ yếu đề
cập đến các cơ quan có thẩm quyền THAHS nói chung, quy định về
trình tự, thủ tục, thẩm quyền thi hành các hình phạt nhẹ hơn hình
phạt tù vẫn còn mang tính chất sơ thảo, chung chung mà chưa được
ghi nhận một cách cụ thể và chi tiết.
1.2.2. Quy định về thi hành các hình phạt nhẹ hơn hình
phạt tù ở Việt Nam từ khi có Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 1988
đến trước khi ban hành Bộ Luật Tố tụng Hình sự năm 2003
Ở giai đoạn này, quy định về thi hành các hình phạt nhẹ hơn
hình phạt tù đã hoàn thiện hơn. Chỉ có hình phạt cảnh cáo là chưa
được quy định còn quy định về thi hành ba hình phạt còn lại đều đã
được thể hiện trong khá nhiều văn bản: BLTTHS năm 1988 được sửa
đổi bổ sung năm 2000 áp dụng chung khi thi hành tất cả các hình
phạt nhẹ hơn hình phạt tù.
Việc thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ được thực
hiện theo quy định tại Nghị định số 95-HĐBT ngày 25/07/1989 của

bản án và quyết định của Tòa án” của BLTTHS và Nghị định số
60/2000/NĐ-CP ngày 30/10/2000.
Thi hành hình phạt trục xuất. Việc thi hành hình phạt trục
xuất thời kỳ này chủ yếu là vẫn tiếp tục áp dụng theo hướng dẫn cụ
thể tại Nghị định số 54/2001/NĐ-CP. Tuy nhiên, nghị định này vẫn

9


bộc lộ một số hạn chế gây khó khăn cho quá trình áp dụng quy định
trên thực tế.
Thi hành hình phạt tiền. Cơ quan thi hành án dân sự thi hành
hình phạt tiền thay cho cơ quan thi hành án cùng cấp trước đây.
Ngoài BLTTHS năm 2003, việc thi hành hình phạt tiền còn được
thực hiện theo quy định tại Luật thi hành án dân sự năm 2008 và
Thông tư liên tịch số 02/2005/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-BTPBCA-BTC ngày 17/6/2005 hướng dẫn việc miễn, giảm thi hành án
đối với khoản tiền phạt, án phí; Thông tư liên tịch số 10/2010/TTLTBTP-BTC-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 25/5/2010).
1.3. Quy định của pháp luật hiện hành về thi hành các
hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù
Điều kiện thi hành các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù nói
chung được quy định trong Hiến pháp, BLHS năm 1999, BLTTHS
năm 2003, Luật THAHS năm 2010, … Các cơ quan, tổ chức có thẩm
quyền thi hành các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù bắt buộc phải dựa
trên và tuân theo các điều kiện pháp lý đó để có thể buộc người bị
kết án thi hành hình phạt. Điều kiện thứ nhất là bản án tuyên về các
hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật,
bao gồm những bản án và quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không
bị kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm; Những bản án và
quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm; Những quyết định của Tòa án
cấp giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Những bản án, quyết định đó còn

năm vừa qua, TAND Quận 7 đã thực hiện đúng và kịp thời quy định
của pháp luật: Hội đồng xét xử ghi nhận ngay trong bản án và tuyên
hình phạt cảnh cáo tại phiên tòa, gửi bản án cho các đối tượng theo
luật định đúng thời hạn, thực hiện việc theo dõi, thống kê và báo cáo
về việc thi hành hình phạt này.

11


Hình phạt cảnh cáo không có tổ chức thi hành, do đó, các tổ
chức xã hội, đơn vị công tác nơi người bị kết án làm việc, hay
UBND xã, phường nơi người đó sinh sống khó có thể nắm được tình
trạng của người bị kết án và dẫn đến hệ quả là không thể theo dõi,
giúp đỡ, cải tạo họ trở thành công dân có ích cho xã hội.
Việc thi hành hình phạt này ở Quận 7 trong những năm vừa
qua đạt hiệu quả không cao. Một số trường hợp sau khi tuyên án
được trả tự do tại phiên tòa, người bị kết án không về địa phương mà
đi nơi khác làm ăn sinh sống hoặc có hành vi vi phạm pháp luật sau
khi thi hành hình phạt cảnh cáo.
2.2. Quy định của pháp luật và thực tiễn thi hành hình
phạt tiền trên địa bàn Quận 7 thành phố Hồ Chí Minh
2.2.1. Quy định của pháp luật hiện hành về thi hành hình
phạt tiền
Hình phạt tiền được thi hành theo trình tự thủ tục của
LTHADS năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014). Các cơ quan có
thẩm quyền thi hành án phạt tiền bao gồm: Cơ quan thi hành án dân
sự cấp huyện, Cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh và Cơ quan thi
hành án cấp quân khu. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự chủ
động ra quyết định thi hành án phạt tiền. Việc thông báo phải thực
hiện trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra văn bản. Trong

thành phố Hồ Chí Minh
Từ năm 2012 đến năm 2016, không có bị cáo nào bị TAND
Quận 7 áp dụng hình phạt tiền với tư cách là hình phạt chính. Hình
phạt tiền được TAND Quận 7 áp dụng tương đối nhiều nhưng đều
với tư cách là hình phạt bổ sung, hầu hết là áp dụng khi phạt tù đối
với người bị kết án. Bên cạnh đó cũng không có trường hợp ủy thác
thi hành án phạt tiền trên địa bàn quận. Điều này đồng nghĩa với việc
không có bị án nào phải thi hành hình phạt tiền với tư cách là hình
phạt chính trên địa bàn Quận 7 trong những năm vừa qua.
2.3. Quy định của pháp luật và thực tiễn thi hành hình
phạt cải tạo không giam giữ trên địa bàn Quận 7 thành phố Hồ
Chí Minh
2.3.1. Quy định của pháp luật hiện hành về thi hành hình
phạt cải tạo không giam giữ
Những quy định về thi hành án phạt cải tạo không giam giữ
được ghi nhận trong Luật THAHS, tập trung từ Điều 72 đến Điều 81.
Thủ tục thi hành quyết định thi hành hình phạt cải tạo không giam
giữ được quy định cụ thể tại Điều 73 Luật THAHS. Những hướng

13


dẫn tại Nghị định số 60/2000/NĐ-CP ngày 30/10/2000 quy định việc
thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ vẫn đang được áp dụng.
Việc thi hành hình phạt này đòi hỏi tinh thần tự giác cao của
người chấp hành án, vì vậy, Luật THAHS cũng quy định rõ nghĩa vụ
của người chấp hành án. Bên cạnh đó, Luật THAHS cũng quy định
thủ tục giảm thời hạn chấp hành án và thủ tục miễn chấp hành án đối
với người bị kết án cải tạo không giam giữ tại Điều 77 và Điều 78 và
hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 09/2012/TTLT-BCA-BQPTANDTC-VKSNDTC ngày 16/08/ 2012 hướng dẫn việc giảm, miễn

chấp hành đúng nghĩa vụ và quy định của địa phương.
Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đã đạt được, trong công
tác thi hành án cải tạo không giam giữ trên địa bàn Quận 7 vẫn còn
một số tồn tại, chưa thực hiện đúng theo nhiệm vụ, quyền hạn được
quy định trong Luật THAHS, vì vậy đã ảnh hưởng đến hiệu quả của
hình phạt cải tạo không giam giữ cũng như tác dụng của việc giáo
dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm.
Thứ nhất, một số trường hợp không triệu tập được người
chấp hành án. Họ không biết về nghĩa vụ của mình hoặc cố tình trốn
tránh nên đã đi khỏi địa phương trong thời gian phải chấp hành án.
Thứ hai, một số trường hợp bị án bị tuyên hình phạt cải tạo
không giam giữ và bị bị khấu trừ thu nhập nhưng khó thi hành. Một
phần vì thu nhập của họ không ổn định và họ cũng không cư trú cố
định, ổn định ở một nơi, nhất là việc họ không tự nguyện, chủ động
trong việc nộp khoản tiền này. Việc xác minh của cơ quan có thẩm
quyền gặp rất nhiều khó khăn vì họ cố tình giấu, trốn tránh.
Thứ ba, hiệu quả của việc giám sát, giáo dục chưa cao.
Nhiều trường hợp vẫn mang tính hình thức mà chưa thực sựu phát
huy hiệu quả như mục đích đặt ra.

15


Thứ tư, việc bảo vệ quyền lợi của bị án khi thi hành án chưa
được thực hiện đầy đủ. Một số trường hợp người chấp hành án cải
tạo tốt, đủ điều kiện để được giảm mức hình phạt nhưng cơ quan có
thẩm quyền không xem xét và họ cũng không đề nghị.
Thứ năm, việc giải quyết cho người thi hành hình phạt cải
tạo không giam giữ được vắng mặt ở nơi cư trú cũng chưa đảm bảo
đúng theo quy định của pháp luật.

định tại Khoản 2 Điều 17 Nghị định số 81/2010/NĐ-CP ngày
14/7/2010 của Chính phủ quy định về an ninh hàng không dân dụng.
Người chấp hành án phạt trục xuất được mang theo tài sản hợp pháp
của mình khi rời khỏi lãnh thổ Việt Nam. Chi phí trục xuất được quy
định tại Điều 102 Luật THAHS và hướng dẫn cụ thể tại Khoản 2
Điều 14 Thông tư liên tịch số 07/2011/TTLT- BCA-BQP-BNG.
2.4.2. Thực tiễn thi hành hình phạt trục xuất trên địa bàn
Quận 7 thành phố Hồ Chí Minh
Trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, đa số các vụ án liên
quan đến người nước ngoài đều do TAND thành phố Hồ Chí Minh
xét xử và giao cho Cơ quan THAHS công án thành phố. Chính vì
vậy, từ năm 2012 đến năm 2016, trên địa bàn Quận 7 không có người
bị áp dụng cũng như phải thi hành hình phạt trục xuất.
2.5. Đánh giá thực tiễn thi hành các hình phạt nhẹ hơn
hình phạt tù trên địa bàn Quận 7 thành phố Hồ Chí Minh
2.5.1. Tình hình chung về thi hành các hình phạt nhẹ hơn
hình phạt tù trên địa bàn Quận 7 thành phố Hồ Chí Minh
Số liệu thống kê cho thấy, số bị án phải chấp hành các hình
phạt nhẹ hơn hình phạt tù từ năm 2012 đến năm 2016 chiếm tỷ lệ rất
thấp so với tổng số người phải thi hành án nói chung trên địa bàn
Quận 7, thấp nhất là năm 2013: chỉ chiếm 0.53%. Số bị án phải chấp
17


hành các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù chiếm tỷ lệ cao nhất cũng
chỉ chiếm 3.39% vào năm 2015. Số lượng cũng như tỷ lệ của số bị án
phải chấp hành các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù trên địa bàn quận
từ năm 2012 đến năm 2016 nhìn chung có xu hướng biến động bất
thường qua các năm. Số lượng bị án phải chấp hành các hình phạt
nhẹ hơn hình phạt tù có số lượng rất ít, thậm chí là không đáng kể,

của Công an quận chưa rõ ràng; mặc dù công việc theo dõi thi hành
các hình phạt khác tại các phường đã được quy định tương đối cụ
thể, song với số lượng cán bộ ít, hầu hết Công an Quận 7 hiện nay
chưa bố trí cán bộ chuyên trách mà chủ yếu là kiêm nhiệm thực hiện
nhiệm vụ theo dõi, hướng dẫn, tổ chức quản lý thi hành các hình phạt
khác tại các phường trực thuộc Đội Cảnh sát THAHS Công an quận.
Vai trò của gia đình - những người phối hợp giám sát, giáo
dục chưa đạt yêu cầu.
2.5.3. Nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc
Thứ nhất, bất cập trong quy định của pháp luật về thi hành
các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù. Một là, chưa có chế tài nghiêm
khắc cũng như chưa có cơ chế phù hợp để xử lý những người vi
phạm nghĩa vụ thi hành các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù; Hai là,
chậm ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành các hình phạt nhẹ
hơn hình phạt tù; Ba là, quy định về việc thi hành hình phạt chưa
chặt chẽ; Bốn là, có độ vênh giữa thời gian thi hành án trong các văn
bản quy định pháp luật; Năm là, một số bản án, quyết định áp dụng
hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù chưa phù hợp.
Thứ hai, những vướng mắc trong thực tiễn thi hành các hình
phạt nhẹ hơn hình phạt tù. Một là, công tác tuyên truyền, phổ biến,
giáo dục pháp luật về thi hành các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù
trên địa bàn quận chưa được thực hiện tốt; Hai là, ý thức pháp luật
của người phải thi hành án còn chưa cao; Ba là, số lượng và chất
19


lượng của cán bộ thực thi pháp luật về thi hành các hình phạt nhẹ
hơn hình phạt tù còn chưa cao; Bốn là, thiếu cơ chế phối hợp giữa
các chủ thể thi hành án; Năm là, cơ sở vật chất phục vụ cho việc thi
hành các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù còn hạn chế.



3.2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thi hành các hình
phạt nhẹ hơn hình phạt tù
3.2.1. Sửa đổi, bổ sung một số quy định của BLHS liên
quan đến công tác thi hành các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù
Thứ nhất, sửa đổi Khoản 2 Điều 31 BLHS theo hướng: thay
cụm từ "thường trú" bằng cụm từ "cư trú" để phù hợp với quy định
tại Điều 75 Luật THAHS và Điều 12 Luật Cư trú.
Thứ hai, sửa đổi quy định về thời hạn nộp tiền phạt để thi
hành hình phạt tiền: có thể nộp nhiều lần nhưng phải trong vòng 6
tháng kể từ ngày có quyết định thi hành án.
Thứ ba, sửa đổi Điều 304 BLHS: bỏ chế tài về hình phạt cải
tạo không giam giữ và chỉ quy định phạt tù (từ 6 tháng đến 3 năm).
3.2.2. Sửa đổi, bổ sung một số nội dung quy định của Luật
Thi hành án hình sự năm 2010 và các văn bản có liên quan
Thứ nhất, bổ sung 01 Điều luật vào mục 3 chương V Luật
THAHS quy định về việc giải quyết trường hợp người chấp hành án
phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú hoặc làm việc.
Thứ hai, tăng cường trách nhiệm của các cơ quan có thẩm
quyền thi hành các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù.
Thứ ba, bổ sung quy định cụ thể về cơ quan có thẩm quyền
xử phạt vi phạm hành chính đối với người phải thi hành án mà vi
phạm nghĩa vụ thi hành án.
Thứ tư, các cơ quan có thẩm quyền cần sớm ban hành các
văn bản hướng dẫn Luật THAHS nhằm đồng bộ quy định của pháp
luật.
Thứ năm, bỏ các quy định về công tác thi hành án trong
BLTTHS.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status