Môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Thái Lan và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam - Pdf 45

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
--------o0o---------

ĐOÀN THỊ HẬU

MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI
THÁI LAN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ

Hà Nội - 2017


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
--------o0o---------

ĐOÀN THỊ HẬU

MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI
THÁI LAN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế
Mã số: 60 31 01 06

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. NGUYỄN THỊ KIM ANH
XÁC NHẬN CỦA
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN

Học viên

Đoàn Thị Hậu


MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

STT
1.

Ký hiệu
AEC

2.

ASEAN

3.
4.

DTA
EU
FDI



TPP

15.
16.

UNCTAD
WTO

Nguyên nghĩa
Cộng đồng Kinh tế ASEAN (ASEAN Economic Community)
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (Association of
Southeast Asian Nations)
Hiệp định tránh đánh thuế hai lần
Liên minh Châu Âu (European Union)
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment)
Tổng sản phẩm quốc nội
Thu nhập quốc dân
Hiệp định đầu tư quốc tế (International Investment
Agreements)
Chỉ số bảo vệ quyền sở hữu (International Property Rights
index)
Đãi ngộ tối huệ quốc (Most Favoured Nation)
Trung tâm đăng ký đầu tư nước ngoài một cửa (One start one
stop Investment Center)
Khảo sát môi trường đầu tư
Công ty xuyên quốc gia (Transnational Corporations)
Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific
Partnership Agreement)
Hội nghị của Liên hiệp quốc về thương mại và phát triển

Bảng 3.3

6.

Bảng 3.4

7.

Bảng 3.5

8.

Bảng 3.6

9.

Bảng 3.7

10.

Bảng 3.8

11.

Bảng 3.9

12.

Bảng 3.10


đoạn 2007 – 2015
Chỉ số quản trị toàn cầu của Việt Nam và Thái
Lan giai đoạn 2007 – 2015
Quy mô và hiệu quả thị trường của Thái Lan và
Việt Nam (2007-2015)
Chỉ số toàn cầu hóa của Top 10 nước cao nhất và
các nước ASEAN, Trung Quốc
Chỉ số cơ sở hạ tầng của Việt Nam – Thái Lan
Thời hạn hợp đồng lao động và mức lương tối
thiểu
Chỉ số HDI của các nước ASEAN giai đoạn 2010
- 2014
Sự thay đổi của chỉ số HDI của Thái Lan qua các
năm
Tính sẵn sàng tiếp nhận công nghệ và tính tiên
phong của Việt Nam – Thái Lan
Chất lượng đào tạo của Việt Nam và Thái Lan
Các ưu đãi Thái Lan dành cho các nhà đầu tư
Các tiêu chí về y tế, giáo dục của Việt Nam và
Thái Lan
Chỉ số bảo vệ nhà đầu tư của Thái Lan và Việt
Nam giai đoạn 2007 – 2015
Chỉ số hiệu quả tiếp nhận FDI các nước ASEAN
giai đoạn 2004 – 2010
Xếp hạng chỉ số tiềm năng thu hút FDI của các
nước ASEAN năm 2011

8

Trang

Hình 3.1

3.

Hình 3.2

4.
5.

Hình 3.3
Hình 3.4

6.

Hình 3.5

7.

Hình 3.6

8.

Hình 4.1

Nội dung
Quy trình nghiên cứu
Tốc độ tăng trưởng GDP của Thái Lan giai đoạn
1991-2014
Thu nhập bình quân đầu người của Thái Lan
(1991 -2013)

nhiều khó khăn thậm chí là thất bại trong chiến lược thu hút FDI. Điều này dẫn đến
tình trạng lượng vốn FDI phân bổ không đồng đều giữa các quốc gia, các khu vực
trên thế giới.
Mặc dù vẫn tồn tại một số tác động tiêu cực, song không ai có thể phủ nhận
những ảnh hưởng tích cực mà FDI đã mang lại. Ví dụ, FDI cung cấp thêm nguồn
lực, tạo điều kiện chuyển giao tri thức, công nghệ và quản lý, tạo điều kiện phát
triển kinh tế, khuyến khích xuất nhập khẩu và xây dựng mạng lưới xuất nhập khẩu
quốc tế phát triển, tạo ra cơ hội mới, việc làm mới và quan trọng là thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế.
Đối với các nước đang phát triển, nhiệm vụ thu hút FDI ngày càng trở nên
quan trọng. Trong nhóm nước đang phát triển hiện nay, có một số quốc gia đã đạt
được nhiều thành tựu đáng kể trong công cuộc thu hút nguồn vốn khổng lồ này, điển
hình như Singapore, Trung Quốc… Trong khi đó, đối với Việt Nam, chúng ta cũng
có thể tự hào vì tốc độ phát triển vượt bậc của vốn FDI trong thời gian qua. Tuy
nhiên, xét một các toàn diện, khi đặt lên bàn cân chung của thế giới thì những thành
tựu Việt Nam đạt được vẫn còn kém so với nhiều quốc gia khác, đặc biệt là các
nước đang phát triển. So sánh trong khu vực Châu Á nói chung và ASEAN nói
riêng, mặc dù xếp thứ bậc cao hơn so với nhiều quốc gia nhưng Việt Nam vẫn còn
thua kém nhiều nước. Trong ASEAN, Việt Nam chỉ đứng đầu trong nhóm các nước
CLMV và kém nhiều so với nhóm ASEAN-6. Các chuyên gia kinh tế đã nhận định
Việt Nam và Thái Lan là hai quốc gia có nhiều nét tương đồng về địa lý, dân số, tự
10


nhiên song trình độ phát triển kinh tế nói chung và tốc độ thu hút FDI nói riêng lại
có sự chênh lệch đáng kể.
Báo cáo Đầu tư Thế giới năm 2012, UNCTAD đã đưa ra hai chỉ số về lợi thế
cạnh tranh thu hút FDI của các quốc gia:
(1) Chỉ số Inward FDI Performance (chỉ số hiệu quả tiếp nhận FDI): Chỉ số
hiệu quả FDI tiếp nhận có giá trị bằng 1 tức là quốc gia có mức độ hấp

Mục tiêu thứ nhất: tổng quan về các nghiên cứu liên quan đến môi trường đầu
tư trực tiếp nước ngoài để tìm ra khoảng trống nghiên cứu.
Mục tiêu thứ hai: tổng quan lý luận cơ bản về môi trường đầu tư trực tiếp
nước ngoài. Đặc biệt, trong đó nhấn mạnh về các tiêu chí đánh giá môi trường đầu
tư trực tiếp nước ngoài thường được sử dụng để phân tích cho mỗi quốc gia.
Mục tiêu thứ ba: phân tích môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài của Thái
Lan dựa trên các tiêu chí đã đưa ra.
Mục tiêu thứ tư: so sánh môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài của Thái Lan
so với Việt Nam dựa trên các tiêu chí đưa ra để thấy được sự giống và khác nhau, từ
đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
+ Câu hỏi nghiên cứu : Luận văn tập trung trả lời cho câu hỏi nghiên cứu
chính: Môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài của Thái Lan như thế nào và
Việt Nam có thể học hỏi được kinh nghiệm gì? Ngoài ra, luận văn sẽ trả lời các
câu hỏi khác liên quan đến vấn đề nghiên cứu: Môi trường đầu tư trực tiếp nước
ngoài tại Thái Lan so với Việt Nam có điểm gì khác và nổi bật? Việt Nam có thể
học hỏi gì từ kinh nghiệm thu hút đầu tư và xây dựng môi trường đầu tư trực tiếp
nước ngoài của Thái Lan?
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài của Thái Lan.
Phạm vi nghiên cứu: khung thời gian tiến hành nghiên cứu trong khoảng thời
gian từ 2007 đến 2015. Đây là khoảng thời gian có sự xảy ra của cuộc khủng hoảng

12


kinh tế toàn cầu 2008 và đã ảnh hưởng đến nhiều nước trên thế giới, trong đó có
Thái Lan và Việt Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài dựa trên phương pháp nghiên cứu tại bàn, kết hợp với các phương
pháp phân tích, so sánh, tổng hợp để đánh giá môi trường đầu tư trực tiếp nước

tư trực tiếp nước ngoài của Thái Lan đã phân tích ở chương 3 và rút ra bài học kinh
nghiệm cho Việt Nam.

14


CHƯƠNG 1:

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN

CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MÔI TRƯỜNG
ĐẦU TƯ
1.1.

TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

Tổng quan tình hình nghiên cứu
Về môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài đã có nhiều công trình nghiên cứu,

trong đó các nghiên cứu liên quan đến đề tài có thể chia làm hai nhóm cơ bản: nhóm
thứ nhất bao gồm các công trình nghiên cứu về môi trường đầu tư trực tiếp nước
ngoài của nước nhận đầu tư và nhóm thứ hai là các công trình nghiên cứu về môi
trường đầu tư trực tiếp nước ngoài của Thái Lan.
1.1.1. Các công trình nghiên cứu về môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài
Nghiên cứu về môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài của các quốc gia đầu
tiên phải kể đến là báo cáo đầu tư thế giới hàng năm do UNCTAD thực hiện từ năm
1991 đến nay. Đề cập đến các yếu tố quyết định của nước chủ nhà ảnh hưởng trực
tiếp đến quyết định của nhà đầu tư thì báo cáo năm 1998 đã đề cập rõ ràng và chi
tiết nhất. Ảnh hưởng đến việc thu hút đầu tư FDI có ba nhóm yếu tố chính gồm:
khung chính sách về FDI, các yếu tố về kinh tế và các chính sách tạo thuận lợi cho

đầu tư trước đó thường sử dụng dữ liệu đầu tư của Trung Quốc là chủ yếu. Để xây
dựng một cái nhìn hoàn thiện hơn, tác giả sử dụng dữ liệu về các cuộc điều tra hơn
70000 doanh nghiệp ở hơn 100 nước do Ngân hàng Thế giới tiến hành. Nghiên cứu
xây dựng một hàm hồi quy của biến phụ thuộc FDI trong mối quan hệ giữa các biến
khác như: cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực, thuế, các quy định về thương mại. Nghiên
cứu sử dụng chính Component Analysis (PCA) và các phương pháp tiêu chuẩn hóa.
Kết quả của nghiên cứu cho thấy, các yếu tố trong ba nhóm này có ảnh hưởng nhất
định đến FDI. Trong đó, cơ sở hạ tầng là yếu tố có ảnh hưởng đáng kể đển việc thu
hút FDI. Ngoài ra, yếu tố con người cũng đóng vai trò quan trọng trong việc đưa ra
quyết định đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài.
Nghiên cứu của tác giả Tidiane Kinda thực sự đã đưa ra một đánh ra rất cụ
thể về các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường đầu tư trong việc thu hút FDI của các
nước đang phát triển. Nhờ đó, một quốc gia trong quá trình xây dựng chiến lược thu
16


hút FDI có thể dựa vào nghiên cứu này để chú trọng vào việc phát triển những yếu
tố còn yếu kém của quốc gia mình.
Hai tác giả Alvaro Escribano và Yavuz Selim Hacihasanoglu của Đại học
Carlos III de Madrid (2012) có công trình nghiên cứu “Investment Climate Index:
Methodology and Applications” đã tiến hành xây dựng một bộ các yếu tố ảnh
hưởng đến môi trường đầu tư để xây dựng chỉ số môi trường đầu tư. Vì các yếu tố
ảnh hưởng đến môi trường có rất nhiều, dễ gây ra hiện tượng đa công tuyến khiến
cho việc phân tích trở nên khó khăn nên nghiên cứu đã lựa chọn và đưa vào bộ 5
nhóm yếu tố, gồm cả các yếu tố có tác động tích cực và các yếu tố có tác động tiêu
cực đối với việc thu hút đầu tư là: nhóm 1: cơ sở hạ tầng; nhóm 2: nạn quan liêu,
tham nhũng và tội phạm; nhóm 3: tài chính và quản trị doanh nghiệp; nhóm 4: chất
lượng, đổi mới và kỹ năng lao động, nhóm 5: các biến số khác. Bên cạnh đó, tác giả
cũng tiến hành so sánh với phương pháp GSAP thường được sử dụng trước đó để
đánh giá môi trường đầu tư. Kết quả cho thấy, hai phương pháp cho kết quả tương

Tác giả Abdullah Kaid Al-Swidi của School of Quantitative Science, College
of Arts and Sciences, University Utara Malaysia

trong nghiên cứu “Some

Reflections on Foreign Direct Investment Flows and the Viet Nam’s Economy” đã
xem xét các xu hướng, mô hình đầu tư trực tiếp FDI tại Việt Nam trong giai đoạn
2001-2011 trong bối cảnh ASEAN. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đã phân tích các
thông số và đánh giá môi trường kinh doanh ở Việt Nam, đưa các chính sách thu hút
FDI tương lai.
Trong nghiên cứu của ISHIDA, Masami (2010) “Comparing Investment
Climates among Major Cities in CLMV Countries”, BRC Research Report No.4,
BangkokResearch Center, IDE-JETRO, Bangkok, Thailand, đã có những trình bày
nhất định về môi trường đầu tư của nhóm bốn nước kém phát triển nhất trong khu
vực ASEAN, trong đó có Việt Nam. Các yếu tố được đề cập đến khi nghiên cứu về
môi trường đầu tư ở các nước ngày gồm có: bối cảnh vĩ mô và thị trường nội địa, sử
dụng đất và sở hữu đất, thị trường tài chính, thương mại, quản lý, cơ sở hạ tầng, lao
động, truyền thông. Nghiên cứu này đã tiến hành so sánh một số yếu tố cơ bản ảnh
hưởng đến quá trình tiến hành kinh doanh của doanh nghiệp nước ngoài khi mới

18


vào các nước CLMV và cũng có so sánh giữa hai nước Thái Lan và Indonesia theo
các tiêu chí mà Doing Business đưa ra. Tuy nhiên, những so sánh mà nghiên cứu chỉ
ra vẫn còn nhiều hạn chế và chỉ mang tính khái quát.
Báo cáo số 44248-TH - Thailand Investment Climate Assessment Update của
World Bank đã thống kê và phân tích tình hình môi trường đầu tư của Thái Lan trên
các yếu tố về mặt kinh tế, chính trị, xã hội và công nghệ. Báo cáo này dựa chủ yếu
vào kết quả của Khảo sát môi trường đầu tư (PICS) tiến hành trong năm 2007 và

Khảo sát đối với các doanh nghiệp Nhật Bản được lấy dựa theo các yếu tố
gây trở ngại cho doanh nghiệp nước ngoài, bao gồm 10 yếu tố thuộc hai nhóm:
nhóm các yếu tố liên quan đến tự do hóa (bốn yếu tố) và nhóm yếu tố liên quan đến
việc tạo thuận lợi cho FDI (sáu yếu tố). Sự phân loại này được thực hiện dựa theo
nghiên cứu của Ando và Ito (2007) trong một cuộc khảo sát và thảo luận của các
thành viên thuộc APEC Business Advisory Council (ABAC) Japan, apan Machinery
Center for Trade and Investment(JMC), the Ministry of Trade, Investment and
Industry (METI) Nhật Bản và các giáo sư đại học. Theo nghiên cứu này, Thái Lan
là nước có số chi nhánh của doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư vào nhiều nhất trong các
nước ASEAN. Tương tự như vậy đối với các doanh nghiệp khác, nghiên cứu cũng
tiến hành lấy khảo sát và phân tích. Kết quả cho thấy rằng đối với các nước ASEAN
nói chung và với Thái Lan nói riêng, các trở ngại trong việc thu hút FDI tồn tại ngay
trong chính sách của các nước và trong quá trình thực hiện các chính sách đó. Thái
Lan và các nước trong ASEAN muốn thu hút FDI hơn nữa thì cần phải cải thiện
môi trường đầu tư, đẩy mạnh tự do hóa hơn nữa trong các chính sách thúc đẩy FDI.
Liên quan trực tiếp đến nghiên cứu về môi trường đầu tư trực tiếp của Thái
Lan và Việt Nam, trong nước đã có công trình nghiên cứu đề cập đến mà gần đây
nhất là luận văn của thạc sĩ Lê Huy Hoàng về “Nghiên cứu môi trường FDI ở Thái
Lan và gợi ý chính sách cho Việt Nam”, Đại học Quốc gia Hà Nội; Trường Đại học
Kinh tế Luận văn ThS ngành: KTTG & QHKTQT; Mã số: 60 31 07, Cán bộ hướng
dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Xuân Thiên. Tác giả tiến hành nghiên cứu môi
trường đầu tư của Thái Lan từ năm 2000-2012 và khái quát ra những điểm mạnh,
yếu của môi trường đầu tư ở Thái Lan. Môi trường đầu tư ở Thái Lan được phân
tích theo các yếu tố về chính trị, hành chính, kinh tế, pháp lý, cơ sở hạ tầng và công
20


nghệ. Tuy nhiên, nghiên cứu này mới dừng ở mức dựa trên việc phân tích các yếu tố
về mặt chính trị, luật pháp, kinh tế để đưa ra các gợi ý chính sách cho Việt Nam,
phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp thống kê, phân tích và so sánh

văn hóa, xã hội, con người. Trong giai đoạn từ sau khi nền kinh tế thế giới hồi phục
đến nay, các nghiên cứu chuyên sâu về môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài của
Thái Lan chưa có nhiều. Chính vì vậy, luận văn này sẽ nghiên cứu sâu hơn về môi
trường đầu tư trực tiếp nước ngoài của Thái Lan dựa trên sự kế thừa của các nghiên
cứu trước đó và cập nhật số liệu trong những năm gần đây để đưa ra đánh giá tổng
thể nhất đối với môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài của nước này. Căn cứ vào
đó, luận văn sẽ xem xét và đưa ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong
quá trình đổi mới và cải thiện môi trường đầu tư.
1.2. Cơ sở lý luận về môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.2.1. Định nghĩa FDI và môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài
a. Định nghĩa FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment) là hình thức đầu tư
dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở
sản xuất, kinh doanh. Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ
sở sản xuất kinh doanh này.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước
(nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng
với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các
công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà
người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp
đó, nhà đầu tư thường hay đựoc gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là “công
ty con” hay “chi nhánh công ty” (World Investment report 2007).
Quỹ tiền tệ quốc tế IMF định nghĩa: đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI là dạng
đầu tư quốc tế phản ánh mục tiêu của một thực thể cư trú tại một nền kinh tế nhằm
có được mối quan tâm (lợi ích) lâu dài trong một doanh nghiệp cư trú tại một nền
kinh tế khác. Đầu tư trực tiếp nước ngoài không chỉ bao gồm các giao dịch ban đầu
thiết lập nên mối quan hệ giữa các nhà đầu tư và doanh nghiệp mà còn cả những

22




tư (pháp nhân, thể nhân) trực tiếp tham gia vào hoạt động sử dụng vốn và quản lý
đối tượng đầu tư.
Từ những khái niệm trên, có thể hiểu một cách khái quát về FDI như sau:
FDI tại một quốc gia là việc nhà đầu tư ở một nước khác đưa vốn bằng tiền hoặc bất
kỳ tài sản nào vào quốc gia ấy để có được quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền
kiểm soát một thực thể kinh tế tại quốc gia này, với mục tiên tối đa hoá lợi ích của
mình.
b. Định nghĩa môi trường đầu tư
Có nhiều định nghĩa khác nhau về môi trường đầu tư. Theo Weingast (1992)
thì môi trường đầu tư là một hệ thống chính sách, quy định và các yếu tố thể chế
nhằm khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào các dự án mà xã hội
mong muốn (Weingast, 1992). Theo Nicholas Stern, Phó Chủ tịch Nhóm Ngân hàng
Thế giới cấp cao và Giám Economist trong đầu năm 2000, định nghĩa môi trường
đầu tư là "hệ thống chính sách, thể chế và môi trường, cả ở hiện tại và trong tương
lai, có ảnh hưởng đến lợi nhuận và rủi ro cho việc với đầu tư. Năm 2005, trong báo
cáo của Ngân hàng thế giới định nghĩa, môi trường đầu tư là tập hợp các yếu tố địa
điểm cụ thể hình thành nên những cơ hội và ưu đãi cho các doanh nghiệp đầu tư
hiệu quả, tạo công ăn việc làm và mở rộng sản xuất kinh doanh (Evaluation of the
World Bank Group’s Support for Investment Climate Reforms, tr1).
Theo phó chủ tịch nhóm Ngân hàng thế giới, môi trường đầu tư tốt là môi
trường bao gồm ba khía cạnh chính (i) sự ổn định kinh tế vĩ mô và sự mở cửa; (ii)
trình độ quản lý và tổ chức tốt, bao gồm cả các vấn đề về quản lý sự quan liêu, sức
mạnh của các tổ chức tài chính, các quy định của pháp luật, khả năng kiểm soát
tham nhũng, tội phạm, hiệu quả của các dịch vụ công và chất lượng của lực lượng
lao động; (iii) chất lượng của cơ sở hạ tầng (Stern năm 2001, 2002).
Định nghĩa về môi trường đầu tư thực sự rất rộng. Trên thực tế, nhiều chuyên
gia còn sử dụng hai khái niệm môi trường đầu tư và môi trường kinh doanh để thay


Chi phí hoạt động của Mức độ không chắc chắn
doanh nghiệp
đối với các quyết định đầu
tư của nhà đầu tư cho khả
năng thu được lợi nhuận của
họ

Mức độ định lượng được

Cao

Thấp

Nguồn: Idealism, Realism and the Investment Climate in Developing Countries.
Môi trường đầu tư nghiên cứu ít hơn về chi phí đo lường và tập trung nhiều
vào các vấn đề về tài sản vô hình, sự tự tin, sự không chắc chắn và làm thế nào
(tiềm năng) nhà đầu tư có thể cảm nhận về lợi nhuận từ khoản đầu tư của họ; nó
xuất phát trực tiếp từ thực tế và nhận thức về các mối quan hệ giữa doanh nghiệp
với những người nắm quyền lực chính trị.
1.2.2. Các tiêu chí đánh giá môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status