Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong BCTC của các DN niêm yết tại SGD chứng khoán TPHCM. - Pdf 45

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

NGUYỄN THỊ THANH PHƯƠNG

PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRONG
BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
NIÊM YẾT TẠI SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Đà Nẵng - Năm 2013


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

NGUYỄN THỊ THANH PHƯƠNG

PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRONG
BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
NIÊM YẾT TẠI SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 60.34.30

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH


1.2.2. Yêu cầu về CBTT đối với công ty niêm yết...................................13

1.3. BCTC – KÊNH CÔNG BỐ THÔNG TIN QUAN TRỌNG NHẤT14
1.4. ĐO LƯỜNG CÔNG BỐ THÔNG TIN........................................... 16
1.4.1. Đo lường không trọng số ................................................................17
1.4.2. Đo lường có trọng số.......................................................................17

1.5. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA
DOANH NGHIỆP.................................................................................. 19
1.5.1. Môi trường CBTT: bên ngoài doanh nghiệp ..................................19
1.5.2. Môi trường CBTT: bên trong doanh nghiệp ..................................22

1.6. CÁC LÝ THUYẾT VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN ......................... 24
1.6.1. Lý thuyết đại diện (Agency theory)................................................25
1.6.2. Lý thuyết dấu hiệu (Signalling theory)...........................................26


1.6.3. Lý thuyết về ảnh hưởng chính trị (Political theory) .......................26
1.6.4. Lý thuyết chi phí sở hữu (Proprietary cost theory) ........................27

1.7. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ
THÔNG TIN CỦA DOANH NGHIỆP.................................................. 28
CHƯƠNG 2. PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG CÔNG BỐ THÔNG TIN
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TẠI SỞ GIAO DỊCH
CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH .............................41
2.1. TỔNG QUAN NỀN KINH TẾ ....................................................... 41
2.2. QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC................................................................. 43
2.3. THỊ TRƯỜNG VỐN....................................................................... 44
2.4. CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG.......................................................... 46
2.5. KIỂM TOÁN .................................................................................. 47

KẾT LUẬN........................................................................................... 99
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (bản sao)


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCTC

:

Báo cáo tài chính

CBTT

:

Công bố thông tin

NPT

:

Nợ phải trả

SGDCK

:

Sở Giao dịch Chứng khoán


Các bộ chỉ mục có mối tương quan

65

4.1

Thống kê về chỉ số CBTT

67

4.2

Thống kê từng chỉ mục

67

4.3

Các chỉ mục có mức trình bày thấp

68

4.4

Thống kê từng nhân tố

71

4.5


Kết quả kiểm tra giả thiết phương sai sai số thay đổi.

81

4.11

So sánh nghiên cứu

82

4.12

Bảng tóm tắt mô hình 3

83

5.1

Kiểm định trị trung bình

89

5.2

Mức đánh giá chỉ số CBTT

89


DANH MỤC CÁC HÌNH

57

4.1

Đồ thị tuổi niêm yết và mức độ CBTT

85

4.2

Đồ thị nhân tố công ty kiểm toán và mức độ CBTT

85


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Với sự phát triển của thị trường chứng khoán, thông tin là yếu tố then
chốt, nhạy cảm và ảnh hưởng mạnh mẽ đến hành vi của tất cả các đối tượng
tham gia thị trường, đó là các doanh nghiệp nhận đầu tư, nhà đầu tư, cơ quan
pháp quyền và các công ty chứng khoán,…. Với yêu cầu thông tin ngày càng
cao của các đối tượng này, thông tin được huy động từ mọi nguồn, cả thông tin
chính thống và phi chính thống từ các phương tiện thông tin đại chúng như
truyền hình, báo chí, internet,… hay thông tin mang tính truyền miệng qua các
diễn đàn, sàn giao dịch,…. Dù vậy báo cáo tài chính (BCTC) của các doanh
nghiệp vẫn là kênh thông tin quan trọng nhất chi phối quyết định của nhà đầu
tư và chỉ số tin tưởng của thị trường dành cho các doanh nghiệp.
Vì vậy nhu cầu hoàn thiện thông tin trong BCTC được phát hành bởi các

trên thị trường chứng khoán Việt Nam thời gian qua.
- Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT trong BCTC của
các công ty niêm yết .
- Đề xuất một số gợi ý nhằm tăng cường thông tin công bố của các doanh
nghiệp niêm yết, góp phần phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam theo
hướng bền vững.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu CBTT bao gồm đo lường mức
độ công bố, các nhân tố quyết định việc công bố từ BCTC. Phạm vi nghiên
cứu: Mẫu nghiên cứu của đề tài chỉ bao gồm BCTC của 99 doanh nghiệp tại
thời điểm năm 2011.
4. Phương pháp nghiên cứu
Dựa vào lý thuyết chứng thực, đề tài vận dụng phương pháp định lượng
để đo lường mức độ CBTT và các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT trong


3
BCTC của các công ty niêm yết. Cụ thể:
- Thu thập BCTC của các công ty niêm yết trên Sàn Giao dịch Chứng
khoán thành phố Hồ Chí Minh thành phố Hồ Chí Minh.
- Thiết lập chỉ số phản ánh mức độ CBTT (disclosure index) trong
BCTC.
- Đo lường mức độ CBTT qua chỉ số CBTT.
- Thiết lập các biến, đo lường ảnh hưởng của các biến đến mức độ CBTT
trong BCTC của các công ty niêm yết thông qua mô hình hồi quy bội.
5. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được chia thành 5 chương, gồm:
Chương 1 – Cơ sở lý thuyết về CBTT và các nhân tố ảnh hưởng đến mức
độ CBTT của DN.
Chương 2 – Phân tích môi trường CBTT của của DN niêm yết tại

là một đơn vị để phân tích đã trở nên phổ biến (Entwistle, 1999 [36];
Williams, 1999 [81]). Mặc định rằng số câu chứa thông tin hiện hành được
công bố cao hơn đưa đến một mức cao hơn về chất lượng thông tin tốt hơn
hoặc minh bạch hơn.
Hầu hết các chỉ số được sử dụng trong các lý thuyết công bố thực nghiệm
cân nhắc đến phạm vi (hay độ bao phủ) như một sự đại diện cho chất lượng
thông tin (Singhvi và Desai 1971 [75]; Cooke, 1989 [25]; Wallace, 1994
[79]…). Các mục thông tin được đo lường trong các biến giả, nếu được công
bố nhận giá trị 1 hay không công bố nhận giá trị 0. Ở nghiên cứu khác, các
mục dữ liệu được định giá trị theo bản chất của thông tin, thông tin định lượng
được có giá trị cao hơn (Botosan, 1997 [16]), chúng được cân đo trong sự phù
hợp với các thông tin quan trọng có liên quan khác, mặc dầu không có sự nhất
trí về lợi ích của việc đo lường này.
Đặc biệt, kế thừa thành quả từ các nghiên cứu trước, nghiên cứu của


5
Francisco và đồng sự (2010) sử dụng các chỉ số số lượng, phạm vi và chất
lượng để đo lường mức độ CBTT trong BCTC của các doanh nghiệp Tây Ban
Nha niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán IBEX 35. Các chỉ số này tự
tương quan nhau, do đó có thể tiếp cận đồng thời cả 3 chỉ số để đo lường mức
độ CBTT.
Sau đó, nghiên cứu “Voluntary disclosure in the annual repotrs of an
emerging country: the case of Qatar” của Mohammed Hossain và Helmi
Hammami, 2009 [65] chỉ ra rằng các chỉ số CBTT về mặt chất và lượng mang
đến những kết quả tương tự nhau hoặc khác biệt nếu có cũng không đáng kể.
Do đó việc dùng một chỉ số đại diện (bằng một trong các chỉ số nêu trên) là có
thể chấp nhận được.
Việc đo lường mức độ công bố là cơ sở để các nghiên cứu tiếp tục khám
phá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố dự đoán đến mức công bố của doanh

yết. Đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ minh bạch thông tin của doanh
nghiệp niêm yết theo cảm nhận của nhà đầu tư” đi theo một hướng khác, đó là
dùng đánh giá của nhà đầu tư, có được qua việc phát bảng câu hỏi để thành lập
nên chỉ số đại diện cho mức độ minh bạch của thông tin. Tuy nhiên đối tượng
sử dụng thông tin từ báo cáo của các công ty niêm yết không giới hạn chỉ ở bộ
phận nhà đầu tư mà cần có một thang đo khách quan cho mọi đối tượng sử
dụng thông tin. Đây là một hướng mới cho các nghiên cứu về sau.
Năm 2012, nghiên cứu của tác giả Nguyễn Công Phương và đồng sự [2]
“Nghiên cứu thực trạng CBTT trong BCTC của các công ty niêm yết trên Sở
Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh” đã giới thiệu phương pháp
khoa học khi xây dựng hệ thống chỉ mục đo lường mức độ công bố khá hoàn
chỉnh, ngoài ra lập luận một cách chặt chẽ về các nhân tố ảnh hưởng đến mức
độ CBTT. Tác giả đã hệ thống hóa và đóng góp nhiều giải pháp nhằm cải thiện
mức độ CBTT trong BCTC. Tuy nhiên nghiên cứu này chưa phân tích ảnh


7
hưởng của các nhân tố thuộc về đặc điểm quản trị và sở hữu đến mức độ công
bố của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, một số nhà nghiên cứu khác trong nước đã đưa ra những
nhận định về thực trạng về CBTT của các doanh nghiệp niêm yết hiện nay.
Trong đó phải kể đến nghiên cứu của tác giả Đặng Thị Thúy Hằng (2011) [1]
“Thực trạng và giải pháp cho vấn đề CBTT kế toán của các doanh nghiệp
niêm yết ở VN”1 và nghiên cứu của tác giả Hà Xuân Thạch, Lê Ngọc Hiệp
(2011) [4], “Nâng cao chất lượng BCTC của công ty niêm yết”2. Cả hai nghiên
cứu đã đưa ra cái nhìn chung về những hạn chế của thực trạng công bố hiện tại
và có giải pháp khắc phục, tuy nhiên mới chỉ dừng lại ở lập luận lý thuyết,
chưa có sự định lượng rõ ràng, thuyết phục.
Kế thừa những đóng góp từ các nghiên cứu trước, đề tài tập trung vào đo
lường chỉ số CBTT của các công ty niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán

những công bố kế toán được yêu cầu bởi luật pháp và những quy định của một
quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ. Những công bố này phải được trình bày theo
những quy định của Luật Doanh Nghiệp, Ủy ban chứng khoán, Các cơ quan
quản lý về kế toán, GAAP và các Chuẩn mực kế toán. Trong khi đó, công bố
tự nguyện (voluntary disclosures) là sự lựa chọn của doanh nghiệp, không bắt
buộc. Có nghĩa là một công ty có thể hoặc không cần phải công bố các thông
tin kế toán mà luật pháp không yêu cầu. Theo Adina P. and Ion P. (2008) [6],
3

Theo International Finance Corporation, Public disclosure and transparency, Yerevan, May 2006
Đặng Thị Thúy Hằng, Thực trạng và giải pháp của vấn đề CBTT của các doanh nghiệp niêm yết ở Việt
Nam, www.khoahockiemtoan.vn

4


9
công bố tự nguyện chỉ như là các thông tin được cung cấp thêm nhằm thỏa
mãn nhu cầu của những người sử dụng thông tin bên ngoài doanh nghiệp như
các nhà phân tích tài chính, các công ty tư vấn, các nhà đầu tư là các tổ chức…
Hiện nay, CBTT bắt buộc tuy đã được quy định cụ thể trong các văn bản pháp
quy tuy nhiên mức độ tuân thủ vẫn khác nhau giữa các doanh nghiệp. Có
nghĩa mặc dù tính quan trọng của các thông tin được quy định bắt buộc, ý thức
về công bố ở các đơn vị vẫn chưa cao. Nghiên cứu CBTT chủ yếu có tính bắt
buộc là chủ điểm nghiên cứu này hướng tới.
CBTT là một yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến việc phân bổ hiệu quả
các nguồn lực của xã hội và giảm thiểu sự nhiễu loạn thông tin giữa doanh
nghiệp và các đối tượng sử dụng thông tin bên ngoài doanh nghiệp (Adina, Ion
– 2008 [6]). Chính vì thế mà tại mọi nền kinh tế, tác động của hành vi CBTT,
đặc biệt của các doanh nghiệp niêm yết trên các sàn giao dịch chứng khoán là

- Tính thích hợp (Relevance)
Thông tin được cho là thích hợp khi nó ảnh hưởng đến quyết định của
người sử dụng, giúp họ đánh giá các sự kiện quá khứ, hiện tại và tương lai
hay xác định hay điều chỉnh các đánh giá trong quá khứ của họ. Thông tin
thích hợp chịu ảnh hưởng bởi bản chất và tính trọng yếu của nó:
Về bản chất, trong một vài trường hợp chỉ riêng bản chất cũng đủ để xác
định tính thích hợp của chúng. Ví dụ, báo cáo của một chi nhánh mới có thể
ảnh hưởng đến việc đánh giá rủi ro và cơ hội mà đơn vị đang đối mặt không
cần xét đến tính trọng yếu của kết quả đạt được của chi nhánh mới trong kì
báo cáo. Trong các trường hợp khác, cả bản chất và mức trọng yếu của thông
tin đều quan trọng. Ví dụ, giá trị của mỗi loại hàng hóa tồn kho chủ yếu đều
quan trọng đối với doanh nghiệp.
Về tính trọng yếu, thông tin được xem là trọng yếu nếu thiếu hay sai lệch
thông tin có thể ảnh hưởng đến người sử dụng khi họ dựa trên BCTC để ra


11
quyết định kinh tế. Tính trọng yếu phụ thuộc vào độ lớn của khoản mục, hay
sai sót được đánh giá trong từng trường hợp cụ thể.
- Tính đáng tin cậy (Reliability)
Để hữu ích, thông tin phải đáng tin cậy. Thông tin đạt chất lượng đáng
tin cậy khi chúng không có các sai sót hay thiên lệch trọng yếu và được trình
bày trung thực. Để đạt chất lượng đáng tin cậy, thông tin cần:
+ Trình bày trung thực (Faithful representation) các nghiệp vụ hay sự
kiện theo đúng nội dung xảy ra hay dự đoán hợp lý. Cần lưu ý, phần lớn các
thông tin tài chính có thể trình bày thiếu trung thực không phải vì thiên lệch
mà do khó khăn trong việc xác định nghiệp vụ hay sự kiện cũng như đo lường
giá trị của nghiệp vụ.
+ Tôn trọng nội dung hơn hình thức (Substance over form)
Các nghiệp vụ hay sự kiện phải được tính toán và trình bày theo nội

được ghi chép và báo cáo trên cơ sở các bằng chứng đầy đủ, khách quan và
đúng với thực tế về hiện trạng, bản chất nội dung và giá trị của nghiệp vụ kinh
tế phát sinh. Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo
đúng với thực tế, không bị xuyên tạc, không bị bóp méo.
- Tính đầy đủ: mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh liên quan đến
kỳ kế toán phải được ghi chép và báo cáo đầy đủ, không bị bỏ sót.
- Tính kịp thời: các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và
báo cáo kịp thời, đúng hoặc trước thời hạn quy định, không được chậm trễ.
- Tính dễ hiểu: các thông tin và số liệu kế toán trình bày trong BCTC
phải rõ ràng, dễ hiểu đối với người sử dụng. Người sử dụng ở đây được hiểu
là người có hiểu biết về kinh doanh, về kinh tế, tài chính, kế toán ở mức trung
bình. Thông tin về những vấn đề phức tạp trong BCTC phải được giải trình
trong phần thuyết minh.


13
- Tính có thể so sánh: các thông tin và số liệu kế toán giữa các kỳ kế toán
trong một doanh nghiệp và giữa các doanh nghiệp chỉ có thể so sánh được khi
tính toán và trình bày nhất quán. Trường hợp không nhất quán thì phải giải
trình trong phần thuyết minh để người sử dụng BCTC có thể so sánh thông tin
giữa các kỳ kế toán, giữa các doanh nghiệp hoặc giữa thông tin thực hiện với
thông tin dự toán, kế hoạch.
Để trở nên hữu ích, thông tin tài chính phải thể hiện được từng tính chất
trong một chừng mực tối thiểu. Mặc dù trong hệ thống có sự phân định giữa
các tính chất sơ cấp và các tính chất khác nhưng không tính chất nào được chỉ
định là ưu tiên hơn; hơn nữa, một loại tính chất nào đó có thể bị hy sinh để có
được những tính chất khác mà không làm giảm sự hữu ích của thông tin” 5
1.2.2. Yêu cầu về CBTT đối với công ty niêm yết
Đối với các công ty niêm yết, khi mà đối tượng chủ sở hữu được mở rộng
đồng thời khoảng cách giữa sở hữu và quản lý trở nên lớn hơn, áp lực CBTT

các BCTC theo nghĩa hẹp là các báo cáo trình bày về tình hình tài chính, tình
hình kinh doanh cũng như việc quản lý các nguồn vốn cho kinh doanh của một
đơn vị kinh tế. Tuy nhiên, theo nghĩa rộng thì các BCTC CBTT về một công
ty, không chỉ bao gồm các BCTC như trên mà còn bao gồm cả báo cáo phân
tích và đánh giá của nhà quản lý (management discussion and analysis), báo
cáo kiểm toán (auditing report) và các báo cáo khác (Healy and Palepu, 2001
[47]). Trong nghiên cứu này chúng ta tiếp cận BCTC theo nghĩa thứ nhất, là
báo cáo về tình hình tài chính được trình bày theo mẫu trong quyết định 15/
2006-BTC và các văn bản liên quan.
BCTC là những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài sản, vốn và công
nợ cũng như tình hình tài chính và kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh
nghiệp.
Ý nghĩa của BCTC gắn với từng chủ thể được biểu hiện như sau:
Nhìn chung, giống như “một cây cầu” kết nối một công ty với rất nhiều
đối tượng sử dụng thông tin khác nhau bên ngoài doanh nghiệp, thông tin kế


15
toán – những thông tin được trình bày trong các BCTC của công ty – đóng
một vai trò hết sức quan trọng trong việc cung cấp những thông tin hữu ích
giúp cho người sử dụng thông tin ra quyết định (Healy & Palepu, 2001 [47];
Adina & Ion, 2008 [6]). Điều này có nghĩa rằng các thông tin do công ty công
bố với công chúng thông qua các BCTC của họ có “ảnh hưởng thật sự” đến
quá trình ra quyết định của người sử dụng thông tin, đặc biệt là các nhà đầu
tư (Gao, 2007 [41]; Kanodia, 2007 [52]; Beyer & Guttman, 2010 [15]).
+ Đối với doanh nghiệp: BCTC giúp cho nhà quản trị phân tích đánh giá
kết quả và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình thực hiện các chỉ
tiêu trong kế hoạch sản xuất, kỹ thuật , tài chính, trong hợp đồng hợp tác kinh
doanh…, xác định những nguyên nhân tồn tại để đưa ra biện pháp khắc phục.
Như vậy BCTC góp phần cung cấp thông tin để nhà quản trị đưa ra chiến lược

Để đo lường mức độ CBTT, các nhà nghiên cứu chọn một trong ba cách
mang tính đại diện (theo tổng hợp từ nghiên cứu của Nguyễn Công Phương,
2012) [2] : thuật toán dựa vào cơ sở dữ liệu điều tra AIMR (Association for
Investment Management anh Research) hoặc FAF (Financial Analysts
Federation), dựa vào dự báo của quản trị công ty và tự đo lường. Theo Healy
và Palepu (2001) [47] mỗi cách có một hạn chế nhất định. Nghiên cứu này tập
trung vào đánh giá CBTT trong BCTC, với thông tin được quy định rõ ràng từ
các văn bản pháp luật liên quan. Do đó nghiên cứu chọn phương pháp đánh
giá qua tự đo lường.
Để lượng hóa chính xác mức độ CBTT trong BCTC, các nghiên cứu đã
được thực hiện đi qua hai bước cơ bản:
Bước một, xây dựng thang chuẩn được thực hiện trong các nghiên cứu đi
trước khác nhau phụ thuộc vào yêu cầu công bố của mỗi quốc gia, trình độ
phát triển thị trường vốn và nhận định chủ quan của nhà nghiên cứu. Điều này



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status