Thu hút vốn đầu tư vào Thành phố Quy Nhơn, Tỉnh Bình Định - Pdf 45

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

TRẦN THỊ NGỌC TRÂM

THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ VÀO
THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Đà Nẵng – Năm 2012


BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

TRẦN THỊ NGỌC TRÂM

THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ VÀO
THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

Chuyên ngành: Kinh tế Phát triển
Mã số: 60.31.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Bùi Quang Bình

Đà Nẵng – Năm 2012



4. Phương pháp nghiên cứu

5

5. Bố cục đề tài

5

6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu

5

CHƯƠNG 1. LÍ LUẬN CHUNG VỀ VỐN ĐẦU TƯ VÀ THU HÚT
VỐN ĐẦU TƯ

9

1.1. LÍ LUẬN CHUNG VỀ VỐN ĐẦU TƯ

9

1.1.1. Khái niệm về nguồn vốn đầu tư

9

1.1.2. Khái niệm thu hút vốn đầu tư

13

1.1.3. Các nguồn huy động vốn đầu tư trong nền kinh tế


1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ
CỦA ĐỊA PHƯƠNG

41

1.3.1. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên

41

1.3.2. Tình hình phát triển kinh tế xã hội

42

1.3.3. Hệ thống cơ sở vật chất hạ tầng và nguồn nhân lực

42


iii

1.3.4. Sự thành công của các dự án đầu tư trước đó
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

43
44

CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRÊN ĐỊA
BÀN THÀNH PHỐ QUY NHƠN


58

2.2.3. Kết quả thu hút vốn đầu tư vào các ngành kinh tế trên địa bàn
thành phố Quy Nhơn

58

2.3. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ VÀO QUY
NHƠN

59

2.3.1. Công tác Quy hoạch phát triển

59

2.3.2. Danh mục đầu tư để thu hút vốn đầu tư

65

2.3.3. Thực hiện xúc tiến thu hút đầu tư

66

2.3.4. Thực hiện chính sách ưu đãi đầu tư

68

2.3.5. Thực hiện chính sách hỗ trợ đầu tư


3.2. DỰ BÁO VỀ NHU CẦU VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN THÀNH
PHỐ QUY NHƠN GIAI ĐOẠN 2012 – 2020

77

3.3. CÁC CHÍNH SÁCH VÀ GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ
PHÁT TRIỂN GIAI ĐOẠN 2012 - 2020

78

3.3.1. Giải pháp về công tác quy hoạch

78

3.3.2. Hoàn thiện danh mục đầu tư để thu hút vốn đầu tư

79

3.3.3. Hoàn thiện chính sách xúc tiến đầu tư

81

3.3.4. Hoàn thiện chính sách ưu đãi đầu tư

94

3.3.5. Hoàn thiện chính sách hỗ trợ đầu tư

95



Trạm thu phát sóng di động

CSHT

Cơ sở hạ tầng

DN

Doanh nghiệp

ĐTNN

Đầu tư nước ngoài

FDI

Đầu tư trực tiếp

FPI

Đầu tư gián tiếp

GDP

Tổng sản phẩm quốc nội/Tổng sản phẩm địa phương

ICOR

Hệ số sử dụng vốn/Hệ số đầu tư tăng trưởng


Cơ quan đảm bảo đầu tư đa biên

NSNN

Ngân sách nhà nước

ODA

Vốn hỗ trợ phát triển chính thức

ODF

Nguồn tài trợ phát triển chính thức

QL

Quốc lộ

TP

Thành phố

TSCĐ

Tài sản cố định


vi


2.3

58
58

Vốn đầu tư vào thành phố Quy Nhơn giai đoạn 2000 2011

3.1

57

Kết quả thu hút vốn đầu tư vào các ngành kinh tế trên
địa bàn thành phố Quy Nhơn từ năm 2006-2011

2.6

52

Kết quả thu hút vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn
thành phố Quy Nhơn tính đến tháng 12/2011

2.5

49

Kết quả thu hút vốn từ các doanh nghiệp và dân cư trên
địa bàn thành phố Quy Nhơn từ năm 2006 – 2011

2.4


56

Giá trị sản xuất của thành phố Quy Nhơn tính theo giá
hiện hành giai đoạn 2006-2011

2.3

Trang

56

Cơ cấu các ngành kinh tế của thành phố Quy Nhơn giai
đoạn 2006-2011

57


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong các nguồn lực cơ bản để phát triển kinh tế bao gồm: Lao động,
vốn sản xuất, tài nguyên và công nghệ thì vốn sản xuất đóng một vai trò vô
cùng quan trọng đối với phát triển kinh tế.
Một xã hội muốn tồn tại và phát triển cần phải đầu tư, đầu tư đó được
biểu hiện dưới dạng tiền gọi là vốn đầu tư.
Xét về phương diện toàn xã hội thì vốn đầu tư là toàn bộ giá trị nhân lực,
tài lực được bỏ thêm vào cho hoạt động của toàn xã hội trong thời gian nhất
định thường là một năm.
Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động, đầu tư gồm:

chất lượng tăng trưởng thì mới là phát triển. Với cách tiếp cận như vậy có thể
nói các khoản đầu tư trên thuộc về đầu tư phát triển của xã hội và chiếm một
tỷ trọng khá lớn trong tổng vốn đầu tư hàng năm
Vốn đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh, xây dựng cơ sở hạ tầng
và bảo vệ môi trường, hay còn gọi là vốn đầu tư trực tiếp vào kinh tế có vai
trò hết sức quan trọng. Vốn đầu tư trực tiếp vào kinh tế có đặc điểm làm tăng
thêm tài sản cho nền kinh tế, dù đầu tư vào tài sản lưu động hay tài sản cố
định, thì khoản vốn đầu tư đó đều làm tăng thêm tài sản, mức tăng thêm đó
hoặc để bù đắp phần tài sản cũ mất đi hoặc làm tăng tích luỹ tài sản trong sản
xuất kinh doanh. Vốn đầu tư trực tiếp vào kinh tế bao gồm:
a. Vốn đầu tư của các cơ sở kinh tế thuộc các loại hình và các thành phần
kinh tế trong các ngành kinh tế quốc dân, với mục đích tăng thêm tài sản cố
định, tài sản lưu động cho hoạt động sản xuất kinh doanh, gồm cả đầu tư cho
nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật công nghệ mới, sản xuất sản phẩm mới, mô
hình quản lý mới…
b. Vốn đầu tư của nhà nước, của các cơ sở kinh tế để xây dựng cơ sở hạ


3

tầng giao thông, cầu cống, bến cảng, thuỷ lợi phục vụ nông lâm nghiệp... Bộ
phận vốn đầu tư này tuy không trực tiếp tham gia vào quá trình hoạt động sản
xuất kinh doanh tại các cơ sở, nhưng nó có liên quan chặt chẽ và tạo yếu tố
thuận lợi cho sản xuất kinh doanh phát triển; ở góc độ nào đó, có thể nói đầu
tư vào cơ sở hạ tầng là bước mở đầu của đầu tư hoạt động sản xuất kinh
doanh. Bởi lẽ đó đầu tư cho cơ sở hạ tầng cũng là một bộ phận của đầu tư
hoạt động kinh tế.
c. Vốn đầu tư của nhà nước và các cơ sở kinh tế cho bảo vệ môi trường
như: Đầu tư cho xử lý chất thải, chống ô nhiễm nguồn nước, khí thải, trồng
rừng sinh thái kể cả đầu tư áp dụng công nghệ sạch. Có những khoản đầu tư bảo vệ môi trường có tầm chiến lược lâu dài, song vì tính chất cấp bách toàn

Hiện nay, lượng vốn thu hút vào thành phố Quy Nhơn vẫn còn ít, các
nhà đầu tư dường như chưa thật sự quan tâm đến tiềm năng của thành phố.
Chính vì vậy mà nhiều nguồn lực cũng như tài nguyên của thành phố còn
chưa được khai thác hết. Để thành phố Quy Nhơn thật sự phát triển và phát
huy hết các tiềm lực nội tại thì cần có một lượng vốn lớn của các nhà đầu tư
cả trong và ngoài nước. Chính vì lý do đó nên tôi chọn đề tài: “Thu hút vốn
đầu tư vào thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định” với mong muốn giới
thiệu hình ảnh và con người Quy Nhơn cũng như các tiềm năng sẵn có của
thành phố tới các nhà đầu tư biết đến và quyết định lựa chọn đầu tư vào thành
phố Quy Nhơn là đúng đắn.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Hệ thống một số vấn đề có tính chất lý luận và thực tiễn về thu hút vốn
đầu tư.
Đánh giá và phân tích thực trạng tình hình thu hút vốn trong nước và
nước ngoài vào thành phố Quy Nhơn
Luận chứng được giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư vào thành phố
Quy Nhơn để phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.


5

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác thu hút nguồn vốn đầu tư.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về thời gian: Thời gian nghiên cứu giới hạn (từ năm 2006 đến năm
2011).
+ Về không gian: Giới hạn trong phạm vi các hoạt động thu hút vốn đầu tư
vào thành phố Quy Nhơn .
4. Phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp phân tích, thống kê, so sánh, tổng hợp; kết hợp

thu hút vốn, bao gồm cả nguồn vốn trong và ngoài nước. Một số chuyên gia
kinh tế cũng đã quan niệm về nguồn vốn đầu tư như sau:
Vũ Thị Ngọc Phùng (2006) [9], Đinh Phi Hổ (2006) [5] cũng như nhiều
tác giả khác trên cơ sở phân chia vốn thành vốn sản xuất (máy móc, thiết bị,
nhà xưởng, đường sá, bến cảng…) và vốn đầu tư (vốn dùng để thực hiện dự
án đầu tư hình thành vốn sản xuất) để chỉ ra tầm quan trọng của vốn đầu tư
cũng như cách hình thành vốn đầu tư. Theo các tác giả này nguồn chính vẫn
là tích lũy từ nội bộ nền kinh tế.
Các tác giả Bùi Quang Bình (2010) [1] nguồn vốn đầu tư phải được tích
lũy trong nền kinh tế thông qua huy động từ khai thác sử dụng nguồn tài
nguyên đất hợp lý. Nhưng nguồn đầu tư này chỉ được khơi thông khi cơ chế
chính sách của chính quyền địa phương thông thoáng, môi trường kinh doanh
hết sức thuận lợi cho doanh nghiệp.
Phạm Ngọc Linh – Nguyễn Thị Kim Dung (2008) [7] lại cho rằng tiết
kiệm tư nhân có vai trò rất lớn trong việc hình thành nguồn vốn đầu tư trong
nền kinh tế, nếu có các chính sách kịp thời và đúng đắn sẽ huy động nguồn
vốn lớn cho nền kinh tế. Trong việc huy động nguồn vốn đầu tư vào nền kinh
tế thì chính sách tài chính đặc biệt là thuế rất quan trọng, cần phải sử dụng kết
hợp cả thuế trực thu và gián thu.


7

Theo Hải Sơn (2008) [11] để thu hút vốn đầu tư vào địa phương dù là
nguồn vốn trong nước hay nước ngoài thì điều kiện môi trường kinh doanh
thông thoáng chưa đủ cần phải có quy hoạch rõ ràng minh bạch các khu công
nghiệp đồng thời quy hoạch đó phải gắn kết với các tỉnh trong khu vực, nghĩa
là cần có sự liên kết kinh tế giữa các địa phương tốt sẽ tạo ra môi trường đầu
tư tốt không cạnh tranh lẫn nhau.
Nguyễn Đình Liệu (2000) [6] cho rằng các nguồn vốn có thể huy động

tìm kiếm nhiều hơn các nguồn vốn đầu tư để phát triển kinh tế - xã hội tỉnh
nhà, nhưng phạm vi nghiên cứu thì khác nhau, có đề tài thì chuyên sâu vào
không gian nghiên cứu là khu kinh tế, có đề tài lại bao trùm về thu hút vốn
đầu tư cho cả tỉnh Bình Định. Các nghiên cứu trước đây đều nêu lên được các
đặc điểm, các điều kiện thuận lợi cũng như những thực trạng đã đạt được và
chưa được của phạm vi nghiên cứu. Có thể nói rằng đề tài thu hút vốn đầu tư
là một đề tài không hề mới nhưng với phạm vi thu hút vốn đầu tư vào thành
phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định thì chưa có 1 đề tài cụ thể nào đề cập đến mà
chỉ là một phần nhỏ trong đề tài thu hút vốn đầu tư vào tỉnh Bình Định hay là
thu hút vốn đầu tư vào các khu công nghiệp, khu kinh tế trong đó có những
khu công nghiệp và khu kinh tế nằm trên địa bàn thành phố Quy Nhơn. Chính
vì lẽ đó mà với mong muốn của tác giả là một người con của thành phố Quy
Nhơn, luôn khao khát được nhìn thấy thành phố phát triển kinh tế - xã hội
mạnh mẽ, có thể trở thành thành phố công nghiệp hóa – hiện đại hóa để xứng
tầm trong khu vực và cải thiện được đời sống của người dân địa phương trên
địa bàn thành phố Quy Nhơn, xứng đáng là đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh thì với
sự tham khảo, nghiên cứu của tác giả từ thực tế thu hút vốn của địa phương
cũng như các đề tài thu hút vốn có liên quan đến địa phương để lấy cơ sở làm
nguồn tài liệu tham khảo cho đề tài thu hút vốn đầu tư vào thành phố Quy
Nhơn, tỉnh Bình Định.


9

CHƯƠNG 1
LÍ LUẬN CHUNG VỀ VỐN ĐẦU TƯ VÀ
THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ
1.1. LÍ LUẬN CHUNG VỀ VỐN ĐẦU TƯ
1.1.1. Khái niệm về nguồn vốn đầu tư
a. Khái niệm

lực sẵn có và tạo tiềm lực lớn hơn cho sản xuất kinh doanh dịch vụ, sinh hoạt
xã hội và sinh hoạt trong mỗi gia đình.
Vốn trong xã hội phục vụ phần lớn vào việc xây dựng cơ sở hạ tầng, cơ
sở phúc lợi, cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ, nâng cao chất lượng và quy
mô cả về bề rộng lẫn chiều sâu của các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ
trong xã hội.
Hai bộ phận cơ bản của vốn đầu tư là:
+ Vốn cố định được dùng để xây dựng công trình, mua sắm máy móc
và thiết bị để hình thành nên tài sản cố định của dự án đầu tư.
+ Vốn lưu động (vốn hoạt động) bao gồm chủ yếu là dự trữ vật tư, sản
xuất dở dang vốn tiền mặt, …theo dự kiến và được dùng cho quá trình vận
hành khai thác các tài sản cố định của dự án trong suốt quá trình tồn tại của
dự án sau này.
Tóm lại:Vốn phần lớn được chi dùng vào việc tái sản xuất mở rộng,
nhằm mục đích phát triển và tăng trưởng kinh tế-xã hội của đất nước.
b. Cơ sở hình thành vốn đầu tư
Xét về bản chất, nguồn hình thành vốn đầu tư chính là phần tiết kiệm
hay tích lũy mà nền kinh tế có thể huy động được để đưa vào quá trình tái sản
xuất xã hội. Điều này được cả kinh tế học cổ điển, kinh tế chính trị học Mác
Lênin và các nhà kinh tế học hiện đại chứng minh.
Trước hết là trường phái kinh tế học cổ điển mà đại diện là nhà kinh tế
học Adam Smith, trong tác phẩm “ Của cải của các dân tộc” đã khẳng định:“


11

Tiết kiệm là nguyên nhân trực tiếp gia tăng vốn. Lao động tạo ra sản phẩm để
tích lũy cho quá trình tiết kiệm. Nhưng dù có tạo ra bao nhiêu chăng nữa,
nhưng không có tiết kiệm thì vốn không bao giờ tăng lên”.
Sang thế kỷ XIX, khi nghiên cứu về cân đối kinh tế, về các mối quan hệ


Tiết kiệm = Đầu tư

Trong đó thu nhập chính là mức chênh lệch giữa doanh thu từ bán hàng
hóa hoặc cung ứng dịch vụ và tổng chi phí. Nhưng toàn bộ sản phẩm sản xuất
ra phải được bán cho người tiêu dùng hoặc cho các nhà sản xuất khác. Mặt
khác đầu tư hiện hành chính bằng phần tăng thêm năng lực sản xuất mới trong
kỳ. Vì vậy chính phần dôi ra của tiêu dùng chính là bằng phần đầu tư của
doanh nghiệp. Nhưng điều kiện cân bằng chỉ đạt được trong nền kinh tế đóng,
và phần tiết kiệm chính là phần tiết kiệm của toàn bộ nền kinh tế bao gồm tiết
kiệm của cá nhân và tiết kiệm của chính phủ không nhất thiết là được tiến
hành cùng bởi cùng một cá nhân hay cùng một doanh nghiệp. Có thể có
những cá nhân thực hiện đầu tư khi chưa tích lũy đủ. Khi đó thị trường vốn sẽ
hình thành và tham gia giải quyết vấn đề bằng việc điều tiết khoản vốn từ
nguồn dư thừa hoặc tạm thời dư thừa sang cho người có nhu cầu sử dụng.
Trong nền kinh tế mở, đẳng thức đầu tư bằng tiết kiệm không phải bao
giờ cũng được thiết lập. Mức chênh lệch giữa đầu tư và tiết kiệm chính là tài
khoản vãng lai. Phần tích lũy của nền kinh tế có thể lớn hơn nhu cầu đầu tư
tại nước sở tại, và tài khoản vãng lai thặng dư và khi đó sẽ xuất hiện dòng vốn
chảy ra ngoài để thực hiện đầu tư, hoặc cho nước ngoài vay vốn để nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn của nền kinh tế. Và ngược lại, vốn tích lũy của nền kinh
tế có thể nhỏ hơn nhu cầu đầu tư của nền kinh tế và tài khoản vãng lai bị thâm
hụt, khi đó nền kinh tế có thể huy động được nguồn vốn từ nước ngoài. Khi
đó thu hút đầu tư nước ngoài hay vay nợ nước ngoài có thể trở thành một
trong những nguồn vốn đầu tư quan trọng của nền kinh tế.
CA = S – I
Trong đó: CA là tài khoản vãng lai (current account)
Như vậy thông qua việc nghiên cứu các quan điểm của các trường phái
kinh tế có thể thấy rằng thực chất của nguồn vốn đầu tư đó là phần tiết kiệm




14

quốc gia và làm đòn bẩy cho những hoạt động khác thiết kế tạo sự hiểu biết
hơn về một đất nước và những cơ hội từ đó.
1.1.3. Các nguồn huy động vốn đầu tư trong nền kinh tế
Thứ nhất là nguồn vốn đầu tư trong nước: là phần tích lũy nội bộ nền
kinh tế bao gồm phần tiết kiệm của khu vực dân cư, các tổ chức kinh tế, các
doanh nghiệp và tiết kiệm của chính phủ được huy động vào quá trình tái sản
xuất của xã hội. Biểu hiện cụ thể của nguồn vốn đầu tư trong nước bao gồm
nguồn vốn đầu tư nhà nước và nguồn vốn của dân cư và tư nhân.
* Nguồn vốn nhà nước bao gồm nguồn vốn ngân sách, nguồn vốn tín
dụng đầu tư phát triển của nhà nước và nguồn vốn đầu tư phát triển của các
doanh nghiệp nhà nước.
- Nguồn vốn ngân sách là nguồn vốn đầu tư quan trọng trong chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, nó được sử dụng cho các dự
án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, hỗ trợ các dự án của
doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực cần sự tham gia của nhà nước, chi cho công
tác lập và thực hiện các dự án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội
vùng, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn. Theo quy mô phát
triển của nền kinh tế thì tỷ trọng nguồn vốn này sẽ giảm dần trong tổng vốn
đầu tư toàn xã hội.
- Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước có tác dụng tích
cực trong việc giảm đáng kể bao cấp vốn trực tiếp của nhà nước. Đây là một
hình thức quá độ chuyển từ phương thức cấp phát vốn ngân sách sang phương
thức tín dụng đối với các dự án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp.
- Nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước, Nguồn vốn này
chủ yếu lấy từ nguồn vốn khấu hao tài sản cố định và nguồn thu nhập giữ lại
hàng năm của doanh nghiệp.

Nguồn vốn ODA và nguồn vốn FDI có mối liên hệ quả và phụ thuộc
lẫn nhau. Nếu một nước kém phát triển không nhận được đầy đủ vốn ODA để



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status