HỌC VIỆN NGÂN HÀNG – PHÂN VIỆN PHÚ YÊN
KHOA NGÂN HÀNG
------------------------------
BÀI TẬP LỚN
TÌM HIỂU NGHIỆP VỤ MUA BÁN NỢ
TRONG XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA CÁC
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
Giáo viên hướng dẫn: Th.s Đặng Vũ Khánh Vân
Bộ môn:
Quản trị rủi ro tín dụng
Nhóm:
QT - KT
Thành viên nhóm:
1.
Phạm Trung Tuấn (Nhóm trưởng)
2.
Phạm Trung Kiên
3.
Trương Thanh Bách
Việc mua bán như vậy dựa trên quyền thu nợ của chủ nợ, chứ không phải nghĩa vụ trả nợ
của con nợ. Bên bán trong giao dịch này được lợi là hóa giải được bài toán tài chính
doanh nghiệp dù phải chịu một khoản “lỗ” nào đó (có khi chỉ là kỹ thuật).
Thuật ngữ tiếng Anh gọi hoạt động này là “factoring”. Factoring (tạm hiểu là giao
dịch ủy quyền) tuy có vẻ không liên quan đến tài chính, nhưng từ lâu, đây là thuật ngữ
được đặt cách dùng trong lĩnh vực giao dịch các khoản sẽ thu và cho vay tại thị trường
Âu - Mỹ. Hoạt động này đôi khi có các biến thể và nghiệp vụ trung gian phức tạp, tuy
nhiên, dù là thế nào chúng ta cũng nên hiểu đúng đó là mua bán khoản sẽ thu hay giao
dịch quyền thu nợ. Đồng thời, cũng là để xóa đi cách hiểu sai, nghĩ lệch gần đây ở ta rằng
“việc mua bán nợ sẽ giúp giải quyết gánh nặng nợ nần cho doanh nghiệp”.
Theo Edward W. Reed và Edward K. Gill, mua bán nợ là việc mua lại các khoản nợ.
Các công ty mua nợ mua các khoản nợ của khách hàng trên cơ sở không truy đòi và tiến
hành một số các dịch vụ khác ngoài việc ứng trước các khoản nợ. Công ty mua bán nợ
đánh giá mức tín dụng trong hiện tại và tương lai của khách hàng (người bán) và xác lập
các hạn mức tín dụng ứng trước. Các khách hàng được yêu cầu gửi trực tiếp cho công ty
mua bán nợ bản sao hóa đơn. Khoản ứng trước thường chiếm khoảng 80% - 90% giá trị
hóa đơn. Khoản dự trữ 10% - 20% được công ty mua nợ giữ lại để phòng ngừa việc hàng
3
trả lại, hàng giao thiếu, hoặc yêu cầu khác của người mua. Thường vào cuối năm, công ty
mua nợ tính toán mức phí thu được trên số dư các khoản nợ chưa thu và cấp thêm vốn
cho khách hàng.
Hoạt động mua bán nợ ở Việt Nam hiện nay của các TCTD được quy định tại Quy
chế mua, bán nợ của các TCTD kèm theo Quyết định số 09/2015/QĐNHNN của Thống
đốc Ngân Hàng Nhà Nước ban hành ngày 17/07/2015.
Quy chế này ban hành quy định rõ hoạt động mua bán nợ của các TCTD (kể cả các
TCTD có nhiệm vụ thực hiện mua, bán nợ trực thuộc TCTD) được thành lập và hoạt
động theo Luật các TCTD, đối với các khoản nợ mà TCTD cho khách hàng vay.
nợ.
• Bên mua nợ là các tổ chức và cá nhân trong nước và nước ngoài có nhu
cầu mua khoản nợ từ bên bán nợ, để trở thành chủ sở hữu mới của khoản
nợ.
• Bên môi giới là các tổ chức kinh tế, tổ chức tín dụng làm chức năng trung
gian, dàn xếp việc mua, bán nợ giữa các bên mua, bán nợ và được hưởng
phí dịch vụ môi giới theo thỏa thuận.
• Bên nợ là các tổ chức, cá nhân vay nợ tổ chức tín dụng.
1.4 Phạm vi và nguyên tắc hoạt động mua, bán nợ
a. Phạm vi mua, bán nợ
Các khoản nợ được mua, bán bao gồm:
• Các khoản nợ mà tổ chức tín dụng cho khách hàng vay (kể cả khoản nợ cho vay đối với
các tổ chức tín dụng khác) đang hạch toán nội bảng.
• Các khoản nợ đã được tổ chức tín dụng xử lý bằng dự phòng rủi ro hoặc bằng nguồn
khác hiện đang được hạch toán theo dõi ngoại bảng.
Một khoản nợ có thể được mua, bán một phần hay toàn bộ do các bên mua, bán nợ thỏa
thuận.
Các bên không thực hiện mua, bán đối với các khoản nợ đã có thỏa thuận không được
mua, bán.
b. Nguyên tắc mua bán các khoản nợ:
• Đảm bảo an toàn hoạt động của tổ chức tín dụng, phù hợp với quy định của pháp luật
Việt Nam và thông lệ quốc tế. Trong trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác với quy định tại Quy chế
này thì áp dụng các điều ước quốc tế đó. Việc mua, bán nợ được thực hiện trên cơ sở thỏa
thuận giữa bên mua nợ và bên bán nợ, đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của các
bên tham gia mua, bán nợ.
5
các NHTM và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp bao gồm cả tài sản và quyền
sử dụng đất được sử dụng để bảo đảm cho các khoản nợ. Tiếp nhận để xử lý các
k hoản nợ và tài sản đã loại trừ không tính vào giá trị doanh nghiệp khi thực
hiện chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước.
6
- Định giá khoản nợ: dựa trên sự điều tra, phân loại nợ, từ đó xác định mức giá
mua hợp lý bằng các hình thức: thỏa thuận trực tiếp, đấu thầu, đấu giá hoặc
theo chỉ định của Thủ tướng Chính phủ.
Nghiệp vụ xử lý:
Xử lý các khoản nợ đã mua bằng nhiều cách:
- Đối với những khoản nợ có nguy cơ phá sản, hoạt động kinh doanh quá yếu kém
không còn khả năngphục hồi thì đề nghị cho phá sản, thanh lý tài s ản.
- Đối với những khoản nợ có khả năng phục hồi tình hình kinh doanh trong tương
lai đang gặp khó khăn nhất thời thì có thể can thiệp điều hành vào hoạt động,
tư vấn cho doanh nghiệp.
- Đối với những khoản nợ gặp khó khăn nhất thời về tài chính như ng có tiềm
năng phát triển, công ty có thể chuyển nợ thành vốn góp, đầu tư thêm vốn vào
doanh nghiệp.
Xử lý tài sản đã mua, tiếp nhận: Bảo quản, sửa chữa, nâng cấp tài sản để bán, cho
thuê, đầu tư, tổ chức sản xuất kinh doanh, liên doanh khai thác tài sản.
Nghiệp vụ bán nợ:
Sau khi tổ chức xử lý, khai thác, công ty mua bán nợ sẽ thu hồi vốn và lợi nhuận
nguyên tắc trong quản trị rủi ro tín dụng, đảm bảo tính hiệu quả và an toàn trong hoạt động
cấp tín dụng. Các nguyên tắc này tập trung vào các nội dung cơ bản sau đây:
Xây dựng môi trường tín dụng thích hợp (3 nguyên tắc): Hội đồng quản trị phải thực hiện
phê duyệt định kỳ chính sách rủi ro tín dụng, xem xét rủi ro tín dụng và xây dựng một chiến
lược xuyên suốt trong hoạt động của ngân hàng (tỷ lệ nợ xấu, mức độ chấp nhận rủi ro…).
Ban tổng giám đốc có trách nhiệm thực hiện các định hướng mà Hội đồng quản trị phê
duyệt và phát triển các chính sách, thủ tục nhằm phát hiện, đo lường, theo dõi và kiểm soát
8
nợ xấu trong mọi hoạt động, ở cấp độ của từng khoản tín dụng và cả danh mục đầu tư. Các
ngân hàng cần xác định và quản lý rủi ro tín dụng trong mọi sản phẩm của mình.
Thực hiện cấp tín dụng lành mạnh (4 nguyên tắc): Các ngân hàng phải hoạt động trong
phạm vi các tiêu chí cấp tín dụng lành mạnh được xác định rõ ràng. Ngân hàng cần xây
dựng các hạn mức tín dụng cho từng loại khách hàng vay vốn và nhóm khách hàng vay vốn
để tạo ra các loại hình rủi ro khác nhau nhưng vẫn có thể theo dõi được trên sổ sách kế toán
kinh doanh, nội bảng và ngoại bảng. Ngân hàng cần có quy trình rõ ràng trong việc phê
duyệt các khoản tín dụng mới cũng như sửa đổi, gia hạn, tái cơ cấu, tái tài trợ cho các khoản
tín dụng hiện tại. Việc cấp tín dụng cần được thực hiện trên cơ sở giao dịch công bằng giữa
các bên.
Duy trì một quá trình quản lý, đo lường và theo dõi tín dụng phù hợp (10 nguyên tắc): Các
ngân hàng cần có hệ thống quản lý một cách cập nhật đối với các danh mục đầu tư có rủi ro
tín dụng, cần có hệ thống theo dõi điều kiện của từng khoản tín dụng, bao gồm mức độ đầy
đủ của dự phòng và dự trữ. Khuyến khích ngân hàng phát triển và sử dụng hệ thống xếp
hạng tín dụng nội bộ trong quản lý rủi ro tín dụng. Ngân hàng cần có hệ thống thông tin và
các kỹ thuật phân tích để đo lường được rủi ro tín dụng trong mọi hoạt động nội và ngoại
bảng; phải có hệ thống theo dõi cơ cấu và chất lượng của toàn bộ danh mục đầu tư tín dụng;
cần có hệ thống khắc phục sớm đối với các khoản tín dụng xấu, quản lý các khoản tín dụng
có vấn đề. Các chính sách rủi ro tín dụng của ngân hàng cần chỉ rõ cách thức quản lý các
1.2 Mua, bán nợ và xuất khẩu
Có một thực tế hiển nhiên là cuộc cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu đang ngày càng
trở nên khắc nghiệt và các doanh nghiệp xuất nhập khẩu luôn phải tìm mọi cách để nâng cao
khả năng cạnh tranh của mình. Một trong những yếu tố để cạnh tranh giữa các nhà xuất
khẩu là điều kiện thanh toán. Nếu như một doanh nghiệp có thể xuất khẩu với phương thức
thanh toán ghi sổ nợ (open account), thì chắc chắn doanh nghiệp đó sẽ ký thêm được nhiều
hợp đồng. Tuy nhiên, nếu xuất khẩu với hình thức này thì rủi ro thanh toán sẽ tăng lên. Vì
vậy, doanh nghiệp chỉ dám chấp nhận phương thức này với những khách hàng uy tín, lâu
năm của mình mà thôi. Ngay cả khi được đảm bảo về rủi ro thanh toán, doanh nghiệp vẫn bị
khách hàng chiếm dụng vốn trong suốt thời gian chờ đợi. Thiếu luồng tiền mặt mà lại không
thể dễ dàng tiếp cận với vốn từ các nguồn truyền thống (như tín dụng ngân hàng), doanh
nghiệp sẽ gặp không ít khó khăn để duy trì sản xuất. Trong tình thế đó, mua bán nợ đã xuất
hiện như một vị cứu tinh. Mua bán nợ được đánh giá là một dịch vụ tài chính mới, chỉ với
thủ tục rất đơn giản, có thể giúp doanh nghiệp vừa xuất khẩu cho khách hàng theo điều kiện
thanh toán ghi sổ, lại vừa thu được tiền mặt ngay sau khi xuất hàng đi.
10
Với giới kinh doanh xuất nhập khẩu thì mua bán nợ được hiểu là dịch vụ mua bán các
khoản phải thu của khách hàng (purchase/sale of account receivables). Định nghĩa này xuất
phát từ thuật ngữ kế toán: khi xuất hàng bán cho khách hàng nhưng bên bán chưa nhận được
tiền hàng thì khoản tiền này được ghi vào tài khoản phải thu của khách hàng. Mua bán nợ là
dịch vụ mua các khoản tiền nằm trong tài khoản nói trên. Cơ chế của mua bán nợ trong xuất
nhập khẩu rất dễ hiểu. Nhà xuất khẩu ký hợp đồng dịch vụ với công ty mua bán nợ. Khi
hàng được giao đi cho khách hàng, nhà xuất khẩu gửi hoá đơn tới công ty mua bán nợ.
Công ty mua bán nợ sẽ ứng trước cho nhà xuất khẩu khoảng 80% giá trị của hoá đơn. Công
ty mua bán nợ sẽ thu tiền hàng từ nhà nhập khẩu. Sau khi thu được 100% tiền hàng, công ty
mua bán nợ sẽ thanh toán nốt 20% còn lại cho nhà xuất khẩu.
Với ý nghĩa là mua bán nợ nhằm bảo hiểm rủi ro thanh toán, chúng ta có hai loại mua
thừa đến nơi thiếu… Tuy nhiên, hoạt động ngân hàng vẫn chứa đựng tiềm ẩn nhiều rủi ro,
gây ra nhiều nguy cơ đỗ vỡ hoàng loạt cho hệ thống, và minh chứng tiêu biểu là của cuộc
khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2007- 2008. Một trong những nguyên nhân quan trọng
của sự suy yếu của ngân hàng chính là tình trạng nợ xấu tồn đọng quá cao trong một thời
gian dài, nhưng không được xử lý dẫn đến tình hình tài chính của ngân hàng rơi vào khó
khăn, tình trạng thiếu thanh khoản trầm trọng và thậm chí chờ phá sản. Vì vậy, vấn đề xử lý
nợ được nhiều quốc gia quan tâm đặc biệt là ở một số nước có tỷ lệ nợ quá cao và vượt mức
giới hạn an toàn. Có nhiều giải pháp để xử lý nợ xấu như xử lý tài sản đảm bảo, bán nợ, cơ
cấu lại nợ, chứng khoán hóa nợ.... Trong đó, việc hình thành các công ty quản lý nợ và khai
thác tài sản như DATC, AMC, VAMC được xem là một công cụ hiệu quả, góp phần khai
thông dòng chảy vốn.
Hiện nay, ở nước ta việc cơ cấu lại ngân hàng đã và đang triển khai nhằm củng cố và
tăng cường sức mạnh tài chính cho hệ thống ngân hàng, công tác xử lý nợ của các NHTM
đang được triển khai. Sự hình thành và phát triển của các công ty quản lý nợ và khai thác tài
sản cần phải chú trọng và phát huy và xây dựng mô hình phù hợp với tình hình thực tế nước
ta hiện nay. Đây là vấn đề quan trọng và rất cần thiết để hình thành một thị trường mua bán
nợ hoạt động nhằm giúp các DN đang gặp khó khăn tài chính cũng như tiếp cận các nguồn
tài chính mới, khơi thông dòng chảy tạo đà phát triển kinh tế.
2.2 Thực trạng mua bán nợ tại các NHTM Việt Nam hiện nay
2.2.1 Thực trạng tình hình nợ xấu của Việt Nam giai đoạn 2011-2015.
12
Theo con số thống kê được công bố cho thấy: Xét trên toàn ngành NH, tỷ lệ nợ xấu giữa
các năm có sự biến động trên mức 3%. Đặc biệt vào năm 2012, tỷ lệ này lên đến con số
4.09%. Năm 2013, đánh dấu sự ra đời của VAMC, đã làm cho tỉ lệ nợ xấu có xu hướng
giảm, tuy nhiên ta vẫn thấy sự giảm vẫn là nhất thời và chưa có dấu hiệu giảm thực thụ.
Tuy nhiên, sự chính xác của các con số này trên thực tế còn là một vấn đề rất nan giải
nợ xấu tại thời điểm cuối năm 2013 sẽ không đổi hoặc tăng so với cuối năm 2012.
2.2.1.2 Giai đoạn 2014-2015
Giai đoạn 2014- 2015 với tiến trình tái cấu trúc ngành ngân hàng Việt Nam đã có những
cải thiện đáng ghi nhận. Trong đó, với xử lý nợ xấu, chỉ sau hơn 1 năm kể từ khi VAMC ra
đời, công ty này đã mua được khối lượng nợ xấu lên tới trên 100.000 tỷ đồng từ các ngân
hàng thương mại Việt Nam trong năm qua và dự kiến mua thêm trên 80.000 tỷ đồng nợ xấu
trong năm nay.
14
Riêng năm 2014, VAMC đã mua khoảng 90.000 - 95.000 tỷ đồng nợ xấu với giá mua là
trên 70.000 tỷ đồng. Mặt khác, VAMC đẩy mạnh mua nợ xấu của ngân hàng, nhưng đó là
nợ xấu trong quá khứ, tức nợ xấu đã phát sinh.
Sau M&A của một loạt các phi vụ như: Ngân hàng nhà nước mua lại các ngân hàng xây
dựng VNCB, ngân hàng dầu khí GP Bank, và ngân hàng đại dương Ocenbank với mức giá 0
đồng cùng và quá trình tái cơ cấu, nợ xấu của các ngân hàng thương mại được đưa về dưới
ngưỡng an toàn 3%. Hơn nữa, sau sự chỉ đạo NHNN Việt Nam đã ban hành Thông tư
36/2014/TT-NHNN có hiệu lực từ ngày 1/2/2015, buộc các nhà băng thắt chặt lại nguồn tiền
tín dụng vào chứng khoán.
Cho tới thời điểm này, tỷ lệ nợ xấu vẫn ở mức cao hơn so với mục tiêu 3% của Đề án Tái
cơ cấu. Các TCTD yếu kém tuy đã được khu biệt và xử lý, nhưng tiến độ vẫn chậm. Báo
cáo đánh giá chính sách tiền tệ quý I/2015 và dự báo quý II/2015 của Trung tâm Nghiên cứu
BIDV cho biết, nợ xấu trong quý I tăng so với cuối năm 2014. Nếu như tháng 12/2014, tỷ lệ
nợ xấu toàn ngành là 3,25% thì sang tháng 1/2015 tăng lên 3,46% và lên 3,59% trong tháng
2/2015. Tuy nhiên, Báo cáo cũng cho rằng, đây là vấn đề mang tính quy luật (nợ xấu đầu
năm nay thường tăng so với cuối năm trước do các TCTD tích cực xử lý nợ xấu trong
những tháng cuối năm) và vẫn thấp hơn so với cùng kỳ (tháng 1/2014: 3,74%; tháng
2/2014: 3,86%).
2.2.1.3 Giai đoạn 2015 – Quý 1, 2017
đồng, đó là chưa kể đến 37.760 tỷ đồng nợ xấu bán cho VAMC. Như vậy tổng nợ xấu của
Sacombank gồm nợ bán cho VAMC ước tính khoảng 47.843 tỷ đồng. Điểm tích cực là nợ
có khả năng mất vốn của Sacombank giảm khoảng 7%, còn 6.600 tỷ đồng.
17
Tỷ lệ nợ xấu của 10 ngân hàng tính đến 31/03/2017
Kế đến là Eximbank, trong kỳ tỷ lệ nợ xấu tăng và chạm ngưỡng 3%, tương đương con số
tuyệt đối là 2.589 tỷ đồng. Nợ có khả năng mất vốn chiếm 1.262 tỷ đồng, tăng đến 11%.
BIDV là “ông lớn” duy nhất nằm trong top 3 có tỷ lệ nợ xấu cao với 2,14%, tăng đáng kể so
với con số 1,99% vào cuối 2016. Tổng nợ xấu của ngân hàng này trong 3 tháng đầu năm
2017 đã tăng thêm 13%, lên mức 16.250 tỷ đồng. Đây có thể được xem là ngân hàng thương
mại cổ phần có tổng nợ xấu cao nhất.
Nợ có khả năng mất vốn của 10 ngân hàng tính đến 31/03/2017
Tỷ lệ nợ xấu đứng thứ 4 trong danh sách là VIB với 1,96%, con số này giảm đáng kể so với
mức 2,58% vào 2016. Tổng nợ xấu của VIB đã giảm nhiều nhất với gần 20% trong 3 tháng
đầu năm 2017, còn 1.247 tỷ đồng; trong đó nợ có khả năng mất vốn giảm gần 13%, còn
khoảng 1.167 tỷ đồng.
Ngược lại, trong kỳ Techcombank có tỷ lệ nợ xấu tăng từ 1.58% lên 1.89%. Tổng nợ xấu
tăng gần 16%, lên hơn 2.600 tỷ đồng. Nợ có khả năng mất vốn chiếm đến 1.506 tỷ đồng,
tăng 10% so với thời điểm cuối năm 2016.
Một ngân hàng đáng chú ý khác là MBB, tỷ lệ nợ xấu tính đến 31/3/2017 là 1,35%, tăng so
với cuối 2016. Cơ cấu nợ xấu cho thấy nợ có khả năng mất vốn tăng vọt gần 40%, lên 854
18
tỷ đồng. Nợ nhóm 2 cũng tăng lên gấp rưỡi với 730 tỷ đồng; ngược lại thì nợ nhóm 1 giảm
xuất hiện từ năm 2003 với sự ra đời và hoạt động của Công ty Mua bán nợ và tài sản tồn
đọng của doanh nghiệp (DN) - Bộ Tài chính (DATC) theo Quyết định số 109/2003/QĐ-TTg
ngày 5/6/2003 của Thủ tướng Chính phủ.
Tháng 6/2013, Công ty Quản lý tài sản các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) được
thành lập và hoạt động theo Quyết định số 843/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Quyết
định số 1459/QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước.
Dưới đây là một số điểm khác biệt về mô hình, mục tiêu của hai công ty này:
Với hoạt động trọng tâm, xuyên suốt là mua, bán nợ và tài sản, hỗ trợ doanh nghiệp và
các tổ chức tín dụng trong xử lý nợ xấu, từ năm 2004, DATC đã tham gia hàng trăm phương
án xử lý nợ và tài sản theo nhiệm vụ chính phủ giao và theo cơ chế thị trường với giá trị sổ
sách của các khoản nợ và tài sản trên 85.000 tỷ đồng. Năm 2013, DATC đã ký được 11 hợp
đồng mua bán nợ, giá trị các khoản nợ là 1.210 tỷ đồng, giá vốn mua nợ là 441,8 tỷ đồng (tỷ
lệ mua nợ bình quân là 36,5 %), đạt 83% so với kế hoạch năm 2013, tăng gấp 1,8 lần so với
thực hiện năm 2012. Doanh thu từ hoạt động mua bán nợ ước đạt 380 tỷ đồng, đạt 103% so
với kế hoạch năm 2013, tăng gấp 1,95 lần so với thực hiện năm 2012.
20
Doanh số mua nợ trong giai đoạn 2015 - 2016 tăng 285% so với doanh số thực hiện giai
đoạn 2010 - 2014, luỹ kế từ 2010 đến nay đã mua nợ của các DN với doanh số 6.707 tỷ
đồng. Bên cạnh việc đẩy mạnh mua nợ, DATC luôn tăng cường hoạt động thu nợ, xử lý nợ,
riêng năm 2016, hoạt động này mang lại doanh thu hơn 1.990 tỷ đồng cho DATC.
Đồng thời với kết quả hoạt động mua bán nợ như trên, Công ty đã triển khai một số
phương án mua bán nợ, tập trung đàm phán với các ngân hàng thương mại để mua nợ xấu,
xử lý tài chính, tái cơ cấu DN khách nợ, chủ yếu là các tập đoàn, tổng Công ty nhà nước,
trước mắt, tập trung đàm phán mua nợ của các DN thuộc Tổng Công ty Tầu thủy Việt Nam
– SBIC (các DN thuộc Vinashin trước đây) và các DN thuộc Tổng công ty Hàng hải Việt
Nam (Vinalines).
giá… chính sách xuất nhập khẩu, hàng tiêu dùng… thay đổi quy hoạch xây dựng hạ tầng,
thay đổi cơ chế tài chính, cơ chế sử dụng đất đai… cũng ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động
của các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp, khiến các đối tượng này rơi vào thế bị động, do đó
nó gián tiếp ảnh hưởng đến chất lượng nợ của các đối tượng này tại NHTM. Chúng ta có thể
lấy ví dụ như sự thay đổi trong lãi suất: với mặt bằng lãi suất có xu hướng tăng nhanh sẽ
làm gia tăng các khoản nợ xấu. Trong lịch sử, hậu quả của lãi suất tăng không có điểm dừng
đã được chứng minh khá nhiều. Khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 với sự tăng mạnh
của lãi suất thị trường các nước trong khu vực. Ở thời điểm đó, lãi suất ở Indonesia tăng
mạnh, và khi vượt trên 30% thì các ngân hàng bắt đầu phá sản.
Điều này có thể được giải thích dễ dàng: những doanh nghiệp mạnh sẽ không chấp nhận
mức lãi suất quá cao, họ có khả năng tìm đến những nguồn vốn khác thông qua thị trường
chứng khoán. Nghi vấn đặt ra đối với những doanh nghiệp dám chấp thuận mức lãi suất cao.
Phần lớn sự chấp thuận đó xuất phát từ sự thiếu vốn trầm trọng, năng lực tài chính hạn chế,
độ tín nhiệm thấp nên không tiếp cận được những nguồn vốn khác. Và tất nhiên, nguy cơ nợ
xấu ngân hàng tăng lên từ nhóm đối tượng này.
2.3.1.3 Môi trường pháp lý
Môi trường pháp lý cho hoạt động ngân hàng chưa đầy đủ là nguyên nhân quan trọng
góp phần gây ra nợ xấu. Sự bất cập và chồng chéo của các luật sẽ khiến cơ quan hữu quan
lúng túng trong việc xử lý tranh chấp về tài sản đảm bảo, các quy định về kế toán kiểm toán
22
chưa đủ sức mạnh thực hiện sẽ khiến số liệu không đủ cơ sở vững chắc để thẩm định cho
vay.
2.3.1.4 Tín dụng chỉ định của chính phủ
Theo lý thuyết và kinh nghiệm của các nước có nền kinh tế kế hoạch hóa
hoặc chuyển đổi, nợ xấu thường là do vấn đề các NHTM quốc doanh bị ràng buộc tài
chính “mềm”, dẫn đến việc các ngân hàng không quan tâm đánh giá sát sao năng lực
Một chính sách tín dụng dụng không đầy đủ, không đồng bộ và thống nhất sẽ dẫn
tới việc cấp tín dụng không đúng đối tượng, tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cho ngân hàng.
Mặt khác để thu hút khách hàng và chiếm lĩnh thị phần, nhiều NHTM đã bỏ qua một
số bước trong quy trình tín dụng, cơ chế cho vay được đơn giản hóa, tự ý hạ thấp tiêu chuẩn
đánh giá khách hàng. Bài học vẫn còn đó, khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 xuất phát từ
thị trường tài chính Hoa Kỳ có nguồn gốc sâu sa chính là những món cho vay dưới chuẩn.
Đây là những khoản cho vay chất lượng thấp với mức rủi ro cao. Các khoản vho vay này
không được xem xét kỹ lưỡng về khả năng thanh toán của khách hàng như: thu nhập hàng
năm, tiểu sử nghề nghiệp, tài sản… và thường được bảo đảm bởi rất ít hoặc không có giấy
tờ chứng minh khả năng tài chính của người đi vay.
2.3.2 Công tác tổ chức kiểm tra, kiểm soát
Nhiệm vụ của công tác kiểm tra, kiểm soát là phát hiện sớm những sai phạm trong
hoạt động cho vay đề ngăn ngừa rủi ro. Tuy nhiên, công tác tổ chức, kiểm tra, kiểm soát của
các NHTM nếu quá yếu kém và lỏng lẻo sẽ dẫn đến việc phát hiện và xử lý không kịp thời
những trường hợp vi phạm, lợi dụng trong hoạt động cho vay, và nợ xấu phát sinh là điều tất
yếu
24
2.3.3 Chất lượng cán bộ ngân hàng
Cán bộ tín dụng là người trực tiếp giao dịch với khách hàng, nắm bắt đặc điểm cũng
như chất lượng khách hàng, khoản vay. Điều này đòi hỏi cán bộ tín dụng phải có kiến thức,
kinh nghiệm làm việc cũng như khả năng phân tích, dự báo ... Một bộ phân cán bộ tín dụng
trình độ yếu kém không đánh giá được hết các khả năng rủi ro liên quan đến khoản vay sẽ
dần đến quyết định cho vay sai lầm và nguy cơ phát sinh nợ xấu rất cao.
Một số cán bộ của hệ thống NHTM sa sút về phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp, thiếu vững
vàng do đó đã lợi dụng công việc được giao để móc ngoặc với con nợ, lợi dụng kẽ hở của
luật pháp để làm giàu bất hợp pháp, gây thiệt hại về tài sản và tiền vốn.
Ngoài ra, năng lực quản trị điều hành của ban lãnh đạo ngân hàng không tốt như: Buông