BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
PHẠM VĂN DEN
HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
NGHỀ NUÔI SÒ HUYẾT Anadara granosa (Linnaeus, 1758)
THEO HƯỚNG BỀN VỮNG TẠI ĐẦM THỊ TƯỜNG,
TỈNH CÀ MAU
LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHÁNH HÒA, 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
PHẠM VĂN DEN
HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
NGHỀ NUÔI SÒ HUYẾT Anadara granosa (Linnaeus, 1758)
THEO HƯỚNG BỀN VỮNG TẠI ĐẦM THỊ TƯỜNG,
TỈNH CÀ MAU
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Ngành:
Nuôi trồng Thủy sản
Mã số:
Cà Mau, ngày 15 tháng 06 năm 2017
Tác giả luận văn
Phạm Văn Den
iii
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập và nghiên cứu tại trường, tôi đã nhận được sự giúp đỡ
từ Ban giám hiệu trường Đại học Nha Trang, Viện Nuôi trồng thủy sản, Khoa Sau đại
học đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi được học tập, nghiên cứu, hoàn thành khóa học và
đề tài tốt nghiệp.
Đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của TS. Lê Anh Tuấn người đã dìu dắt tôi trên
còn đường nghiên cứu khoa học, trực tiếp hướng dẫn chu đáo cho tôi trong suốt thời
gian định hướng, triển khai đề tài và viết luận văn tốt nghiệp. Tôi cũng xin gửi lời cảm
ơn đến PGS. TS. Trương Quốc Phú - Trường đại học Cần Thơ, ThS. Ngô Văn Lương Trung tâm Khuyến nông tỉnh Cà Mau đã có những góp ý, chỉnh sửa giúp tôi hoàn
thiện báo cáo.
Qua đây, cho tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô trong Viện
Nuôi trồng Thủy sản, lãnh đạo UBND huyện Phú Tân, Phòng nông nghiệp và phát
triển nông thôn huyện Phú Tân và các đồng nghiệp, các bạn trong lớp cao học CH56,
và cuối cùng là gia đình đã tạo điều kiện, động viên tôi, chia sẻ những kinh nghiệm
quý báu giúp tôi hoàn thành khóa học.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Cà Mau, ngày 15 tháng 06 năm 2017
Tác giả luận văn
Phạm Văn Den
iv
2.2. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................................ 23
2.2.1. Sơ đồ khối nội dung của đề tài ............................................................................23
2.2.2. Thu thập số liệu ...................................................................................................24
2.2.3. Phương pháp phân tích sinh hóa mẫu sò huyết nuôi ...........................................25
2.2.4. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu ..............................................................25
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ......................................27
3.1. Hiện trạng kinh tế - xã hội của các hộ nuôi sò huyết ............................................. 27
3.1.1. Tuổi của chủ hộ nuôi ...........................................................................................27
3.1.2. Giới tính của chủ hộ nuôi ....................................................................................27
3.1.3. Số nhân khẩu và lao động của hộ nuôi ................................................................28
3.1.4. Trình độ học vấn của chủ hộ nuôi .......................................................................28
3.1.5. Trình độ chuyên môn của chủ hộ nuôi ................................................................29
3.1.6. Quy mô của hộ nuôi.............................................................................................30
3.1.7. Cơ sở hạ tầng, chính sách quản lý .......................................................................30
3.2. Hiện trạng kỹ thuật nghề nuôi sò huyết .................................................................. 31
3.2.1. Hình thức và mùa vụ nuôi ...................................................................................31
3.2.2. Hệ thống công trình nuôi .....................................................................................32
3.2.3. Nguồn giống ........................................................................................................34
3.2.4. Chăm sóc và quản lý............................................................................................37
3.2.5. Bệnh thường gặp và biện pháp phòng trị ............................................................39
3.2.6. Thu hoạch ............................................................................................................40
3.3. Hiệu quả kinh tế - xã hội, môi trường của nghề nuôi sò huyết .............................. 41
3.3.1. Hiệu quả kinh tế - xã hội .....................................................................................41
3.3.2. Hiệu quả môi trường ............................................................................................42
vi
3.4. Các giải pháp phát triển nghề nuôi sò huyết theo hướng bền vững ....................... 43
3.4.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến tính bền vững của nghề nuôi sò huyết ......................43
3.4.2. Đề xuất giải pháp phát triển nghề nuôi sò huyết theo hướng bền vững ..............46
FAO:
Tổ chức nông lương thế giới
GDP:
Tổng sản phẩm nội địa (quốc nội)
GRDP:
Tổng sản phẩm trên địa bàn
KT-XH:
Kinh tế - Xã hội
SUMA:
Hỗ trợ Nuôi trồng Thuỷ sản nước lợ và nước mặn
TTBQ:
Tăng trưởng bình quân
UBND:
Ủy ban Nhân dân
VietGAP:
Hình 1.2. Bản đồ phân bố của sò huyết (màu đỏ) trên thế giới .......................................5
Hình 1.3. Vị trí địa lý tỉnh Cà Mau................................................................................16
Hình 2.1. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu của đề tài ...................................................23
Hình 3.1. Một góc của bãi nuôi .....................................................................................33
Hình 3.2. Khai thác sò giống .........................................................................................34
Hình 3.3. Chòi canh giữ sò huyết nuôi ..........................................................................38
Hình 3.4. Dụng cụ thu hoạch sò huyết ..........................................................................40
Hình 3.5. Sò huyết thương phẩm được thu hoạch .........................................................42
Hình 3.6. Cây vấn đề xác định nguyên nhân của sự phát triển nghề nuôi sò huyết ở
Đầm Thị Tường chưa bền vững ....................................................................................47
x
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Đề tài được thực hiện với vấn đề nghiên cứu là “Hiện trạng và đề xuất giải
pháp phát triển nghề nuôi sò huyết Anadara granosa (Linnaeus, 1758) theo hướng bền
vững tại Đầm Thị Tường, tỉnh Cà Mau”. Mục tiêu của đề tài cung cấp những thông tin
khoa học và thực tiễn về tình hình kinh tế - xã hội, hiện trạng kỹ thuật và hiệu quả kinh
tế xã hội làm cơ sở cho các nhà quản lý, hoạch định chính sách đưa ra các giải pháp
phát triển nghề nuôi sò huyết tại Đầm Thị Tường theo hướng hiệu quả và bền vững.
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 10/2015 - 10/2016 tại Đầm Thị Tường,
tỉnh Cà Mau. Số liệu thứ cấp được thu thập từ các cơ quan quản lý tại địa phương, số
liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra qua phiếu và phỏng vấn trực tiếp toàn bộ
120 hộ nuôi trên Đầm Thị Tường. Kết quả nghiên cứu cho thấy, chủ hộ nuôi sò huyết
đều là nam giới, tuổi trung bình là 46. Các hộ nuôi không có trình độ chuyên môn
chiếm tới 93,3%, nuôi chủ yếu theo quy mô nhỏ 1 - 9 ha/hộ và không có sự liên kết. Sò
huyết được nuôi theo hình thức nuôi đơn hoặc nuôi kết hợp trong các ao nuôi tôm, cá.
Nguồn giống sò hoàn toàn được khai thác từ tự nhiên, cỡ giống 1.000 - 3.000 con/kg
chiếm 93,3%, mật độ nuôi từ 20 - 300 con/m2. Kỹ thuật nuôi nhìn chung đơn giản, chỉ
bệnh bùng phát... Bên cạnh đó, các nghiên cứu đánh giá về hiện trạng kỹ thuật, hiệu
quả kinh kế xã hội của nghề nuôi sò huyết vẫn chưa được quan tâm dẫn đến những
khó khăn trong việc quản lý, phát triển nghề nuôi sò huyết theo hướng bền vững.
Trước thực trạng trên, được sự đồng ý của Trường Đại học Nha trang, tôi thực
hiện đề tài “Hiện trạng và đề xuất giải pháp phát triển nghề nuôi sò huyết Anadara
granosa (Linaeus, 1758) theo hướng bền vững tại Đầm Thị Tường, tỉnh Cà Mau”
nhằm đánh giá hiện trạng và đưa ra những giải pháp triển ổn định, bền vững.
Mục tiêu của đề tài: Đánh giá hiện trạng nghề nuôi sò huyết tại Đầm Thị
Tường, tỉnh Cà Mau từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển bền vững nghề nuôi
sò huyết tại địa phương.
Nội dung nghiên cứu: Đề tài được nghiên cứu với 2 nội dung chính:
1. Đánh giá hiện trạng của nghề nuôi sò huyết tại Đầm Thị Tường.
2. Đề xuất một số giải pháp phát triển nghề nuôi sò huyết theo hướng bền vững.
2
Ý nghĩa của đề tài: Đề tài góp phần cung cấp những thông tin khoa học về
hiện trạng nghề nuôi sò huyết tại Cà Mau làm tài liệu tham khảo cho mục đích nghiên
cứu, giảng dạy và sản xuất. Đề tài cũng giúp định hướng một số giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả của nghề nuôi sò huyết tại Đầm Thị Tường theo hướng bền vững.
3
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN
1.1. Đặc điểm sinh học của sò huyết
1.1.1. Vị trí phân loại và đặc điểm hình thái
Sò huyết là một loài sò trong họ Arcidae được phân loại từ rất lâu đời bởi các
nhà phân loại học. Về phân loại, sò huyết thuộc ngành động vật thân mềm Mollusca,
thuộc giống Anadara là A. cornea, A. nodifera, A. antiquata, A. inflata, A. granosa và
A. pilula. Chúng phân bố ở nơi có đáy bùn, cát và bùn cát, san hô. Ở những nơi đáy
mềm, chúng thường phân bố với mật độ cao hơn, từ 40 - 48 con/m2. Tanaka (1971)
[46] cho rằng, loài A. broughtonii phân bố ở đáy bùn điển hình. Ting và ctv (1972)
[47], Broom (1985) [24], Oon (1986) [39]… cũng có kết luận tương tự đối với loài A.
subcrenata và A. granosa ở vùng ven biển Selangor của Malaysia. Nhìn chung, các
loài trong giống sò huyết đều phát triển tốt ở các đầm phá, vũng vịnh nông, nền đáy
mềm, bùn dày từ 46 – 76 cm. Tuy nhiên, loài A. natiquata lại sống ở đáy cát thuộc
vùng triều. Boonruang and Janekarn (1983) [22] cũng tìm thấy sò huyết ở Thái Lan
phân bố ở những nền đáy có tỷ lệ cát chiếm tới 70 - 80%.
Ở Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Chính (1996) [1] nhận thấy sò huyết phân
bố chủ yếu ở vùng triều đến nơi có độ sâu vài chục mét nước. Sò navi (Arca
navicularis) sống ở nơi có chất đáy cứng, nhiều cát sỏi, vỏ động vật thân mềm, sâu 5 –
5
20 m. Hai loài sò huyết và sò lông (A. antiquata) sống ở vùng có đáy bùn pha cát hoặc
bùn có lẫn vỏ động vật thân mềm. Sò lông phân bố rộng ở hầu hết các vùng ven biển.
Sò huyết cũng là loài phân bố rộng, từ Quảng Ninh đến Cà Mau. Trong đó, Kiên
Giang và Quảng Ninh là hai địa phương có sản lượng cao nhất. Theo Nguyễn Hữu
Phụng (1999) [10], sò huyết chủ yếu phân bố ở các vùng có đáy bùn nhuyễn hoặc bùn
cát với cỡ hạt từ 0,003 - 0,062 mm.
Về độ mặn, không phải tất cả các loài thuộc giống Anadara đều rộng muối.
Nhiều nghiên cứu nhận thấy sò huyết thường phân bố ở những bãi bùn ven bờ nơi có
độ mặn từ 28 - 31‰. Tuy nhiên, các vùng này vào mùa mưa độ mặn cũng giảm thấp
xuống tới 5 - 10‰ [24]. Nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn lên sinh trưởng và tỷ lệ
sống của sò huyết giai đoạn 20 - 28 mm, Pathansali (1966) [41] nhận thấy, ở độ mặn
8‰, sò huyết chết sau 8 ngày; ở độ mặn 12‰, chúng không hoạt động và chỉ sống
được thêm vài ngày; ở độ mặn 17‰, chỉ khoảng 50% số cá thể hoạt động; ở 23‰, sò
hoạt động bình thường. Đối với sò bột, độ mặn thích hợp từ 21 - 25‰, dưới 3,8‰ hay
có thể chịu đựng khá tốt nhưng tỷ lệ sống giảm dần sau 24 giờ, rồi chết nhiều sau 48
giờ. Hàm lượng oxy hòa tan thích hợp cho sò huyết là từ 5,0 - 7,0 mg/l [5].
1.1.3. Đặc điểm sinh trưởng
Tốc độ sinh trưởng của sò huyết nhìn chung tương đối chậm. Ngoài tự nhiên, sò
huyết 6 tháng tuổi mới đạt chiều dài 4 - 5 mm. Trong nuôi nhân tạo, phải mất hơn một
năm chúng mới đạt cỡ 30 mm [24]. Tuy nhiên, tốc độ sinh trưởng của sò huyết có thể
được cải thiện nếu thức ăn được cung cấp đầy đủ, san thưa mật độ, môi trường thích
hợp. Khi nuôi với mật độ nhỏ hơn 10,5 con/m2, sò huyết có thể đạt chiều dài 18 – 32
mm sau 9 tháng nuôi. Ngược lại, ở mật độ nuôi 525 - 1.050 con/m2, phải sau 10 - 12
tháng, sò huyết mới đạt kích thước này [41].
Tương tự như nhiều loài động vật thân mềm khác, tốc độ sinh trưởng của sò
huyết phụ thuộc vào nhiều yếu tố, đặc biệt là giai đoạn phát triển. Từ năm thứ hai trở
đi, tốc độ sinh trưởng của sò huyết chậm hơn nhiều so với năm đầu [41]. Sò huyết chỉ
sinh trưởng nhanh trong 1 - 2 năm đầu, sau đó giảm rõ rệt từ năm thứ 3 trở đi. Tuổi thọ
trung bình của sò huyết khoảng 7 - 8 năm. Sò nuôi ở vùng hạ triều lớn nhanh hơn so
với vùng trung triều do có nguồn thức ăn dồi dào [16]. Tốc độ tăng trưởng trung bình
của sò huyết là 3 mm/tháng. Trong đó, giai đoạn 6 - 10 mm, tốc độ sinh trưởng nhanh
nhất (5 mm/tháng) trong khi giai đoạn từ 30 mm, tốc độ sinh trưởng giảm rõ rệt [9].
Tốc độ sinh trưởng của sò huyết cũng phụ thuộc lớn vào môi trường nuôi, tốc độ dòng
7
chảy, mức độ ô nhiễm của thủy vực [28]. Chúng đều là những yếu tố cần được cân
nhắc trong quá trình chọn địa điểm nuôi thương phẩm.
1.1.4. Đặc điểm dinh dưỡng
Các loài trong giống Anadara dinh dưỡng bằng cách chọn lọc mồi. Thức ăn
được chuyển đến miệng nhờ quá trình vận động, lọc của các tiêm mao trên các tơ
mang. Đồng thời, nhờ sự vận động của mép màng áo và các tiêm mao, dòng nước
mang thức ăn và oxy vào trong cơ thể và các mảnh vụn lớn sẽ được đẩy ra ngoài. Chu
kỳ đóng mở nắp vỏ để lọc thức ăn và hô hấp diễn ra 1 - 2 phút/lần. Thành phần thức ăn
nhiên, ở loài A. senilis, Yoloye (1974) [55] và Yankson (1982) [54] nhận thấy, giai
đoạn trước 5 tháng tuổi, tất cả các mẫu thu được đều là sò đực, từ 6 tháng tuổi, có vài
cá thể lưỡng tính, gần 12 tháng tuổi, tỷ lệ đực cái là 1 : 3. Đồng thời, tỷ lệ này sẽ thay
đổi thường xuyên trong quần đàn sò huyết trưởng thành.
Kích thước thành thục sinh dục của sò huyết có sự khác biệt tùy theo loài. Nhìn
chung, chúng thành thục từ giai đoạn 6 tháng tuổi, tương ứng với kích cỡ 18 - 21 mm
[41]. Tuy nhiên, loài A. senilis thành thục sinh dục sớm hơn từ khi đạt chiều dài từ 10 20 mm trong khi loài A. tuberculosa và A. broughtonii chỉ thành thục khi đạt kích cỡ
từ 36 mm và từ 48 mm [49], [54]. Tỷ lệ đực cái vào mùa sinh sản của sò huyết cũng có
sự khác biệt tùy theo loài 1 : 1 ở loài A. granosa nhưng lại là 1 : 2 ở loài A. indica, A.
subcrenata và A. senilis [24], [34], [47], [54]. Giới tính của sò huyết nhìn chung có thể
phân biệt qua màu sắc của tuyến sinh dục, con đực thường có màu kem còn con cái có
màu cam. Tỷ lệ giới tính thường chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như giai đoạn phát
triển, nhiệt độ và độ mặn [54].
Ở Việt Nam, khi nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản của sò huyết ở Trà
Vinh, Trương Sỹ Kỳ và ctv (1996) [3] nhận thấy kích thước thành thục lần đầu là 22
mm, tỷ lệ đực : cái xấp xỉ 1,5 : 1,0, sức sinh sản tuyệt đối từ 0,52 - 2,41 triệu trứng.
Theo Nguyễn Thị Xuân Thu và Nguyễn Văn Hà (1999) [15], tỷ lệ đực cái trong quần
đàn tự nhiên ở đầm Nha Phu có sự thay đổi theo tháng và nhóm kích thước nhưng ổn
định trong khoảng 1,0 : 2,2, sức sinh sản tuyệt đối từ 0,23 - 1,29 triệu trứng.
Mùa vụ sinh sản
9
Theo Pathansali (1966) [41] và Broom (1985) [24], sò huyết có thể sinh sản
quanh năm nhưng tập trung vào một số thời điểm nhất định. Ở Malaysia, mùa vụ sinh
sản chính từ tháng 6 - 10 và cao nhất vào tháng 8 - 9. Sự thay đổi nhiệt độ và độ mặn
theo mùa được cho là có liên quan đến mùa vụ sinh sản của sò huyết [24], [35], [39].
Các loài sò khác trong giống sò huyết phân bố ở nhiều vùng địa lý khác nhau cũng thể
hiện tập tính sinh sản theo mùa như trên loài A. senilis, A. subcrenata, A. boughtonii
[55]. Ở Việt Nam, sò huyết cũng sinh sản quanh năm có sự khác biệt theo vùng, tập
con/m2. Chất đáy thích hợp cho nuôi sò huyết là cát, đất sét và đất bùn. Cỡ sò huyết
giống nuôi thích hợp từ 4 - 10 mm tương ứng với mật độ khoảng 5.000 con/kg [39].
Ba yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sinh trưởng của sò huyết ngoài bãi nuôi gồm
thành phần chất đáy, độ mặn và độ dốc của nền đáy. Vùng thích hợp cho nuôi sò là
vùng triều, đáy bùn mịn, mềm, ít sóng gió, gần cửa sông, độ mặn từ 10 - 30‰.
Theo Narasimham (1980) [37], khi nuôi thương phẩm sò huyết từ cỡ 23,0 mm
và 5,5 g/con, mật độ 175 con/m2, sau 5,5 tháng, sò đạt kích cỡ 39,2 mm, 28,5 g/con,
tốc độ tăng trưởng 2,9 mm/tháng, tỷ lệ sống đạt 83,4%. Sản lượng này gần gấp đôi so
với sản lượng trung bình sò huyết nuôi tại Malaysia (20,7 tấn/ha/năm). Từ năm 1980,
Philippines tiến hành nhiều nghiên cứu về sản xuất giống và nuôi thương phẩm sò
huyết từ quy mô thí nghiệm đến các bãi nuôi tự nhiên. Kết quả đã sản xuất giống nhân
tạo thành công tuy nhiên con giống tự nhiên vẫn được ưa chuộng hơn.
Ở Indonesia, sò là đối tượng động vật thân mềm quan trọng nhất, theo sau là
điệp, trai và hầu. Nghề nuôi sò huyết phổ biến từ năm 1965 và chủ yếu dựa vào con
giống tự nhiên. Sò được khai thác quanh năm, mùa cao điểm từ tháng 12 đến tháng 3
năm sau. Kích thước sò khai thác từ 1 - 5 cm. Vùng khai thác giống có độ mặn 25‰,
sâu từ 1,4 m, đáy bùn nhão dày 25 cm, độ trong 2 m. Trung tâm sản xuất sò lớn nhất ở
Indonesia là phía Bắc đảo Sumatra với khoảng 85% tổng lượng giống cả nước. Trong
giai đoạn từ năm 1978 – 1983, sản lượng sò huyết hàng năm đạt 28.993 tấn/năm.
Theo Tookwinas (1985) [48], nghề nuôi sò huyết ở Thái Lan bắt đầu từ năm
1930. Tuy nhiên bị gián đoạn vào năm 1972 - 1973 do môi trường bị ô nhiễm nặng.
Nguồn giống chủ yếu được nhập từ Malaysia.
1.2.2. Tình hình khai thác và nuôi sò huyết ở Việt Nam
Ở Việt Nam, Nguyễn Hữu Phụng (1999) [10], sản lượng sò huyết của nước ta
tập trùng vào 4 loài A. granosa, A. antiquata, A. subcrenata và A. navicularis. Ở ven
11
biển miền Bắc (Quảng Ninh - Thừa Thiên Huế), sản lượng 2 loài A. granosa và A.
subcrenata đạt 2.000 – 2.200 tấn/năm. Vùng ven biển miền Trung (Đà Nẵng – Vũng
12
Những hạn chế trong sinh sản nhân tạo sò huyết có thể là do những nghiên cứu
cơ bản chưa được tiến hành một cách đầy đủ, có hệ thống, đồng bộ, số mẫu và thời
gian nghiên cứu còn ít, chưa tìm được môi trường sống, chế độ dinh dưỡng thích hợp
cho các giai đoạn ấu trùng và con non. Do đó, những thành tựu đạt được trong sản xuất
giống nhân tạo sò huyết thời gian qua hạn chế hơn nhiều so với các đối tượng động vật
thân mềm khác như vẹm xanh, trai ngọc, ốc hương…
1.2.3. Tình hình chung của nghề nuôi sò huyết tại Cà Mau
1.2.3.1. Sự hình thành và phát triển nghề nuôi sò huyết tại Cà Mau
Cà Mau có nhiều điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển nuôi trồng thủy
sản. Với 3 mặt giáp biển, hệ thống sông ngòi chằng chịt, 2 chế độ thủy triều đặc trưng
(nhật triều Biển Tây và bán nhật triều Biển Đông) đã tạo nên 3 vùng sinh thái mặn,
ngọt, lợ khác nhau. Khí hậu ở Cà Mau quanh năm ôn hoà với 2 mùa mưa nắng rõ rệt.
Cà Mau là tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Đồng bằng sông Cửu Long, là trung tâm
lớn về thủy sản đặc biệt là nuôi tôm. Năm 2015, diện tích nuôi tôm của Cà Mau đạt
trên 266.000 ha (chiếm 40% cả nước), sản lượng tôm đạt 500.000 tấn (25% cả nước),
kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD (42% cả nước). Giá trị thủy sản chiếm 30% GDP
của tỉnh. Nghề nuôi trồng thủy sản phát triển đã góp phần giải quyết công ăn việc làm,
gia tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho trên 140.000 lao động tại địa phương.
Bảng 3.1. Diện tích và sản lượng sò huyết ở Cà Mau giai đoạn 2013 – 2016
Chỉ tiêu
Diện tích (ha)
2013
2014
2015
11.080
44,0
35,6
101,8
Tăng trưởng (%/năm)
Năng suất (tấn/ha)
2,5
Tăng trưởng (%/năm)
Sản lượng (tấn)
Tăng trưởng (%/năm)
2.812
2016
TTBQ*
35,6
17,8
60,5
Tăng trưởng (%/năm)
Năng suất (tấn/ha)
Tăng trưởng (%/năm)
525
2015
2016
130
215
250
73,3
65,4
16,3
8
10
10
73,7
*TTBQ - Tăng trưởng bình quân, nguồn [17] và tính toán của tác giả.
Đầm Thị Tường có tiềm năng, lợi thế rất lớn để phát triển nuôi trồng thuỷ sản,
đặc biệt là nuôi sò huyết. Với diện tích lớn, nhiều cửa sông lớn, nhỏ nối liền với biển,
chế độ thủy triều đặc trưng đã tạo nên một vùng sinh thái lý tưởng cho sinh sản, sinh
trưởng và phát triển của nhiều loài thuỷ sản có giá trị kinh tế cao, tạo nguồn con giống
14
thủy sản tự nhiên dồi dào cung cấp cho các vùng nuôi lân cận. Trong thời gian qua,
đầm đã được người nuôi và các cơ quan chức năng quan tâm đầu tư phát triển nên đã
đạt được nhiều kết quả tích cực. Hiện tại, diện tích nuôi sò huyết tại đầm là 250 ha với
120 hộ nuôi, năng suất trung bình đạt 10 tấn/ha.
Từ khi được chính thức đưa vào nuôi thương phẩm tại Đầm Thị Tường, sò
huyết thể hiện khả năng thích nghi rất tốt và mang lại hiệu quả kinh tế cao. Diện tích
nuôi, năng suất, sản lượng sò nuôi hàng năm tăng lên đáng kể. Trong giai đoạn từ năm
2013 - 2016, diện tích nuôi tăng 3,3 lần (từ 75 - 250 ha), năng suất tăng 1,4 lần, sản
lượng tăng 4,8 lần (từ 525 - 2.500 tấn). Tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm đạt
51,2%/năm về diện tích, 13,1%/năm về năng suất và 73,7%/năm về sản lượng. Lợi
nhuận từ nuôi sò huyết đạt từ 200 - 300 triệu đồng/ha/vụ, cá biệt có hộ lãi trên 400
triệu đồng/ha/vụ. Như vậy, so với những chỉ tiêu chung của toàn tỉnh, có thể nhận
thấy, mặc dù diện tích nuôi sò huyết tại Đầm Thị Tường chỉ chiếm khoảng 9% nhưng
năng suất gấp 2,5 lần, sản lượng chiếm 22,5% vào năm 2016. Các chỉ tiêu tăng trưởng
về diện tích, năng suất, sản lượng của nghề nuôi sò huyết ở Đầm Thị Tường đều cao
hơn so với mặt bằng chung của tỉnh Cà Mau.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành công đã đạt được trong thời gian qua thì nghề
nuôi sò huyết tại Đầm Thị Tường cũng đang gặp một số khó khăn về ô nhiễm môi