PHÂN TÍCH CÁC BƯỚC ĐỂ CHUẨN BỊ CHO NGÂN HÀNG TMCP
NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM BƯỚC VÀO CUỘC CẠNH TRANH TRÊN QUY
MÔ QUỐC TẾ
NỘI DUNG
.
Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) được thành lập Ngày
01 tháng 04 năm 1963. Sau 46 năm hoạt động, Vietcombank đã phát triển thành một
ngân hàng đa năng. Bên cạnh vị thế vững chắc trong lĩnh vực ngân hàng bán buôn với
nhiều khách hàng truyền thống là các tổng công ty và doanh nghiệp lớn, Vietcombank
đã xây xựng thành công nền tảng phân phối rộng và đa dạng, tạo đà cho việc mở rộng
hoạt động ngân hàng bán lẻ và phục vụ doanh nghiệp vừa và nhỏ với các sản phẩm, dịch
vụ ngân hàng hiện đại và chất lương cao. Ngân hàng còn đầu tư vào nhiều lĩnh vực khác
như chứng khoán, quản lý quỹ đầu tư, bảo hiểm nhân thọ, kinh doanh bất động sản, phát
triển cơ sở hạ tầng v.v… thông qua các công ty con và công ty liên doanh.
Được xếp hạng là một trong 23 doanh nghiệp đặc biệt. Vietcombank luôn giữ vai
trò chủ lực trong hệ thống Ngân hàng Việt Nam, với uy tín trong các lĩnh vực ngân hàng
bán buôn, kinh doanh vốn, tài trợ thương mại, thanh toán quốc tế và ứng dụng công
nghệ tiên tiến trong hoạt động ngân hàng.
Vietcombank đã tập trung áp dụng phương thức quản trị ngân hàng hiện đại, mở
rộng và nâng cấp mạng lưới chi nhánh và phòng giao dịch. Cho đến nay, mạng lưới của
ngân hàng đã vươn rộng ra nhiều địa bàn và nhiều lĩnh vực.
Với bề dày kinh nghiệm hoạt động ngân hàng đối ngoại và sau nhiều bước đi quá
độ. Vietcombank đã từng bước tiếp cận, nhanh chóng thích nghi với nền kinh tế thị
trường, giữ vai trò chủ lực trong hệ thống NHTM Việt Nam. Vietcombank là một trong
những thành viên đầu tiên của hiệp hội ngân hàng Việt Nam và là thành viên của nhiều
hiệp hội tài chính khác như Hiệp hội Ngân hàng Châu Á, tổ chức thanh toán thẻ Quốc tế
Amex Expres năm 2002. Trong năm 2008, Vietcombank cũng đã nhận được hiều danh
1
2
ngân hàng thương mại gần như không có lợi thế hoặc lợi thế chỉ ở dạng tiềm năng tuy
nhiên do biết cách khai thác và sử dụng một cách hợp lý hiệu quả các lợi thế tiềm năng
đó đã nâng cao được năng lực cạnh tranh của mình trên thương trường.
1. Tổng quan về thị phần của các Ngân hàng
Nhìn chung trong những năm gần đây, thị phần của các ngân hàng không có sự
thay đổi đáng kể.
Hình 1: Cơ cấu thị phần huy động (đơn vị: %)
Hình 2: Cơ cấu thị phần tín dụng( %)
(Nguồn: Dữ liệu được tổng hợp tương đối từ Ngân hàng Nhà nước và một số ngân hàng
thương mại; khối ngân hàng quốc doanh bao gồm cả Ngân hàng Chính sách Xã hội)
Số liệu thống kê của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, nếu như cuối năm 2007,
khối ngân hàng quốc doanh (Agribank, Vietcombank, VietinBank, BIDV, MHB và Ngân
3
hàng Chính sách Xã hội) còn áp đảo ở cả thị phần cho vay và huy động, lần lượt là
59,3% và 59,5%; thì đến cuối năm 2010 chỉ còn tương ứng 51,36% và đặc biệt là thị
phần huy động chỉ còn 45,29%. Đó là do khối ngân hàng thương mại cổ phần đã có một
bước phát triển nhanh chóng về quy mô, đặc biệt là trong giai đoạn bùng nổ của thị
trường chứng khoán 2006 - 2007, tạo nên sự dịch chuyển thị phần mạnh mẽ như vậy.
-
Năng lực cạnh tranh hệ thống kênh phân phối:
Cầu nối trực tiếp giữa NHTM và khách hàng, quyết định đến khả năng cạnh
thông… Tính đến cuối cuối năm 2013 đã tăng hơn 1.600% về số lượng thẻ phát hành;
tăng khoảng 470% về giá trị giao dịch thẻ và tăng khoảng 600% về số lượng giao dịch
thẻ so với cuối năm 2006; tỷ lệ sử dụng thẻ ngân hàng so với các phương tiện TTKDTM
khác đang có xu hướng tăng lên (đến cuối năm 2012, thanh toán bằng thẻ ngân hàng đã
chiếm khoảng 8,57% về số lượng giao dịch TTKDTM). Tính đến cuối cuối năm 2013,
lượng thẻ phát hành đạt 60 triệu thẻ, với 47 tổ chức phát hành và khoảng 339 thương
hiệu thẻ.
-
Chỉ số uy tín của thương hiệu (BEI):
Là nhân tố mang tính quyết định trong việc lựa chọn ngân hàng để gắn bó đối với
khách hàng. Những bước phát triển của hệ thống ngân hàng trong thời gian qua đã dần
dần tạo lập được những nhân tố mang tính giá trị cốt lõi của thương hiệu cho hệ thống
ngân hàng Việt Nam. Một số ngân hàng đã quan tâm đến việc tạo dựng thương hiệu cho
mình, như đã thay đổi logo, đã thiết lập tầm nhìn, sứ mệnh, mục tiêu, đã thiết lập hệ
thống nhận diện thương hiệu thống nhất cho ngân hàng và các chi nhánh, đã xây dựng
quy chế quản lý thương hiệu, đã thiết lập bộ phận đồ họa phục vụ mục đích truyền thông
và nội dung nhận diện thương hiệu… Trong đó, VCB dẫn đầu hệ thống ngân hàng về
chỉ số sức mạnh thương hiệu toàn quốc, thể hiện qua chỉ số sức mạnh thương hiệu BEI
là 3,0; tiếp theo là Đông Á, AGRB (BEI là 1,9) và ACB (BEI là 1,7). Tại Hà Nội,
Vietcombank vẫn đứng vững ở vị trí dẫn đầu với chỉ số BEI là 4,2, vượt qua mức bình
quân của các nước khu vực Châu Á Thái Bình Dương. Tại TP Hồ Chí Minh, vị trí dẫn
đầu về sức mạnh thương hiệu thuộc về ACB (BEI là 2,6), tiếp theo là Đông Á (BEI là
2,3) trong khi chỉ số thương hiệu của Vietcombank tại thị trường này bị sụt giảm (BEI là
2,1) và tiếp theo là AGRB (BEI là 1,5)
5
và điều chỉnh các quyết định kinh doanh.
Môi trường tự nhiên: bao gồm các yếu tố như vị trí địa lý, khí hậu, đất đai, nước,
tài nguyên khoáng sản...Trong nhiều trường hợp môi trường tự nhiên là một nhân tố
quan trọng để hình thành lợi thế cạnh tranh.
Môi trường công nghệ: Trình độ khoa học công nghệ có ý nghĩa quyết định đến
hai yếu tố cơ bản nhất tạo nên sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, đó là chất
lượng và giá bán. Khoa học công nghệ tác động đến chi phí cá biệt của doanh nghiệp,
qua đó tạo nên sức cạnh tranh của doanh nghiệp nói chung.
Môi trường vi mô:
Môi trường vi mô còn gọi là môi trường cạnh tranh, đây là môi trường gắn trực
tiếp hoạt động và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Vì thế phần lớn các hoạt động
của doanh nghiệp đều tập trung và bị chi phối ở môi trường này.
Các yếu tố của môi trường vi mô:
Các đối thủ cạnh tranh tiềm năng: là những người sắp tham gia vào ngành và sẽ
cạnh tranh với doanh nghiệp. Các đối thủ tiềm ẩn này biết rất rõ về ngành sắp tham gia
và các doanh nghiệp trong ngành nhưng các doanh nghiệp trong ngành lại không biết gì
về họ. Tuy nhiên, có một số rào cản xâm nhập đối với các đối tượng này như: lợi thế
kinh tế theo quy mô, sự khác biệt của sản phẩm, các đòi hỏi về vốn, chi phí chuyển đổi,
khả năng tiếp cận với kênh phân phối, những bất lợi về chi phí không liên quan đến qui
mô.
7
Các đối thủ cạnh tranh hiện tại trong ngành: là các doanh nghiệp đang tham gia
trong thị trường hiện tại. Các đối thủ này tạo ra một áp lực thường xuyên và đe dọa trực
tiếp đến doanh nghiệp, do đó các doanh nghiệp sẽ tạo ra các cuộc chiến về giá rất gay
gắt.
Các sản phẩm thay thế: là những sản phẩm có cùng công năng như các sản phẩm
của ngành. Khi giá của sản phẩm chính tăng thì sẽ khuyến khích xu hướng sử dụng sản
Sản xuất: Chức năng của sản xuất trong hoạt động kinh doanh bao gồm tất cả các
hoạt động nhằm biến đổi đầu vào thành hàng hóa và dịch vụ. Quản trị sản xuất là quản
trị đầu vào, quá trình biến đổi và đầu ra, những yếu tố này khác nhau tùy theo ngành
nghề và môi trường.
Nghiên cứu và phát triển: hoạt động nghiên cứu và phát riển có 2 hình thức cơ
bản
Nghiên cứu và phát triển bên trong.
Nghiên cứu và phát triển từ bên ngoài.
Hệ thống thông tin: đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của doanh
nghiệp. Nó cung cấp các thông tin cần thiết cho các nhà quản trị khi ra quyết định. Đủ
thông tin và xử lý thông tin, một mặt giúp cho doanh nghiệp hạn chế rủi ro trong kinh
doanh, mặt khác thông tin có thể tìm và tạo ra lợi thế so sánh của doanh nghiệp trên
thương trường, chuẩn bị đưa ra đúng thời thời điểm những sản phẩm mới thay thế để
tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
Cạnh tranh ngân hàng ngày càng gay gắt hơn giữa ngân hàng trong nước lẫn các
ngân hàng nước ngoài. Càng ngày càng có nhiều ngân hàng nước ngoài vào Việt Nam.
Lợi thế của họ là có nhiều vốn, có tiềm lực tài chính và quản lý. Còn cạnh tranh giữa
các ngân hàng trong nước là điểu hiển nhiên. Nhưng sự cạnh tranh dù là giữa nội –
ngoại hay nội – nội vẫn là cần thiết. Vì như thế các ngân hàng sẽ không ngừng cải thiện,
không ngừng gia tăng chất lượng dịch vụ, luôn luôn sáng tạo để làm thỏa mãn những
đòi hỏi của đất nước, của người dân và các doanh nghiệp.
9
Năm 2008, sự kiện cổ phần hóa Vietcombank đã thu hút sự quan tâm của đông
đảo giới đầu tư và truyền thông. Trong điều kiện nền kinh tế có những khó khăn nhất
định, việc cổ phần hóa Vietcombank được coi là thuận lợi. Tuy nhiên, trong năm qua các
tổ chức tín dụng đã thực sự bước vào cuộc cạnh tranh gay gắt. Hàng loạt các NHTMCP
đã phát triển đột phá về quy mô hoạt động cũng như năng lực cạnh tranh với nhiều biện
Luật Cạnh tranh và kiểm soát độc quyền, đưa luật này trở thành công cụ để Chính phủ
kiểm soát họat động cạnh tranh. Cải cách DNNN, tạo ra sân chơi bình đẳng hơn cho các
doanh nghiệp cạnh tranh. Tăng cường vai trò thanh tra, giám sát của NHNN đối với
hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng, đảm bảo cho các ngân hàng hoạt động
an toàn và hiệu quả, tránh tình trạng cạnh tranh không lành mạnh giữa các TCTD.
- Từ phía VCB
Thứ nhất: Tăng cường năng lực tài chính
Khẩn trương tăng vốn điều lệ và xử lý dứt điểm nợ tồn đọng nhằm lành mạnh
hoá tình hình tài chính, nâng cao khả năng cạnh tranh và chống rủi ro dựa trên những
tiêu chuẩn và quy định của Chính phủ, NHNH.
Thứ hai: Nâng cao công tác quản trị tài sản bằng cách hoàn thiện và đẩy mạnh
công tác báo cáo thống kê, đảm bảo chính xác số liệu báo cáo; Xây dựng và ứng dụng
mô hình quản trị tài sản trong hoạt động kinh doanh. Đưa công tác quản trị tài sản lên
một vị trí mới, cần xác lập tầm quan trọng của công tác quản trị này. Phối hợp nhịp
nhàng và đồng bộ giữa quản trị rủi ro tín dụng - quản trị rủi ro thanh khỏan trong quản
trị tài sản.
Thứ ba: Nâng cao chất lượng dịch vụ để thu hút, tạo dựng niềm tin, gắn bó của
khách hàng.
VCB cần phải đào tạo đội ngũ nhân viên, xây dựng môi trường làm việc mang
tính chuyên nghiệp, thân thiện, thông tin hoạt động phải minh bạch, cung ứng các sản
phẩm tốt nhất, nhanh chóng kịp thời. Bên cạnh đó tăng cường hiệu quả công tác
marketing, đảm bảo phân đoạn chính xác thị trường, xác định đúng đối tượng khách
hàng mục tiêu, từ đó có biện pháp chủ động tiếp cận thích hợp. Hoạt động Marketing
tốt không những tăng tuy tín, thương hiệu mà còn góp phần giúp NHTM thu được lợi
nhuận nhiều hơn, vững mạnh hơn và phát triển hơn.
Thứ tư, cần đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ
11
Triển khai các loại hình dịch vụ mới, mở rộng đối tượng và phạm vi khách hàng,