TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
BÀI GIẢNG
(Lưu hành nội bộ,dành cho học viên hệ đại học, Liên thông VLVH)
ĐẠO ĐỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
Ở TIỂU HỌC
Nhóm tác giả:
Th.s Lương Thị Lan Huệ
Th.s Nguyễn Thị Như Nguyệt
Th.s Phan Thị Thu Hà
Năm 2017
1
MỤC LỤC
NỘI DUNG
TRANG
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐẠO ĐỨC.......................................................4
1.1 Khái niệm đạo đức.....................................................................................................4
1.2 Chức năng của đạo đức..............................................................................................5
1.3 Những phẩm chất đạo đức cơ bản của con người Việt Nam.....................................7
CHƯƠNG 2 ĐẠO ĐỨC LÀ MỘT KHOA HỌC ....................................................................12
2.1. Đối tượng của Đạo đức học................................................................................................12
2.2. Một số phạm trù cơ bản của Đạo đức học..........................................................................12
này nhằm cung cấp cho sinh viên một số kiến thức về đạo đức, phương pháp giáo dục, dạy học
đạo đứcở tiểu học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo, thực hành soạn và
giảng thử trong môi trường giả định. Hy vọng giáo trình sẽ là tài liệu nghiên cứu bổ ích cho
sinh viên chuyên ngành Giáo dục chính trị và Địa-GDCD, Cao đẳng, đại học Tiểu học
Quảng Bình, tháng 7 năm 2017
Giảng viên
3
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐẠO ĐỨC (2LT)
1.1. KHÁI NIỆM ĐẠO ĐỨC
Một trong những đặc trưng của loài người là con người sống trong cộng đồng, xã
hội với những mối quan hệ đa dạng với những người xung quanh. Mỗi một cá nhân có
những nhu cầu, lợi ích của bản thân, của gia đình... Một hành động của cá nhân nào đó,
rất có thể mang lại lợi ích riêng cho người đó nhưng lại làm tổn hại đến lợi ích của
người xung quanh, của cộng đồng, xã hội. Để xã hội tồn tại và phát triển mỗi cá nhân
trong xã hội cần thực hiện những hành vi, thể hiện thái độ phù hợp trên cơ sở lợi ích
của cộng đồng, xã hội, lợi ích của người khác và của bản thân mình. Những cách đối xử
thích hợp được sự tán đồng, ủng hộ của đa số thành viên trong cộng đồng, xã hội và
được nhiều người khác noi theo. Dần dần chúng sẽ trở thành quy tắc xử sự chung của
những cá nhân trong cộng đồng, xã hội nhằm điều chỉnh hành vi cá nhân cho phù hợp
lợi ích xã hội, đồng thời, phán xét và khắc phục những mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân
và lợi ích xã hội. Những hành vi ứng xử theo các quy tắc này được coi là thiện, là đạo
đức. Những hành động ngược lại - có hại cho lợi ích cộng đồng, xã hội, của người khác,
bị coi là ác, vô đạo đức và do đó. Bị lên án, phê phán.
Khi nói đến giá trị đạo đức, chỉ có thể là tích cực hoặc tiêu cực, không có giá trị
trung hòa. Nếu có người không cư xử tốt thì có nghĩa là cư xử tồi rồi. Ví dụ như không
cứu người lúc hoạn nạn trong khi mình có khả năng đương nhiên là xấu. Như vậy có thể
hội và xã hội nói chung liên quan đến lợi ích của con người, cộng đồng xã hội.
Đạo đức của con người không chỉ mang tính xã hội mà còn có tính tự giác. Khái
niệm tự giác ở đây không hoàn toàn mang tính lý trí Mà nó chỉ bao hàm ý thức của con
người về lợi ích của mình và mối tương quan lợi ích này với lợi ích của những người
xung quanh, của cộng đồng xã hội. Sự đánh giá của cá nhân về mối quan hệ những lợi
ích đó có tác dụng định hướng cho con người hành động.
Sự đánh giá bao giờ cũng biểu hiện qua một thái độ của chủ thể liên quan đến một
quan hệ xác định - Tích cực hay tiêu cực, tán thành hay phản đối, chấp nhận hay phủ
nhận. Cả lý trí, tình cảm và ý chí đều tham gia vào việc đánh giá. Việc đánh giá về một
kết cục lợi ích của bản thân, lợi ích của những người xung quanh, cộng đồng xã hội.
Điều này phù hợp rất nhiều vào ý thức đạo đức của con người - những quan niệm của
cá nhân về những quy tắc xử sự này và những tương quan các lợi ích.
Đạo đức của con người được thể hiện qua hành vi đạo đức. Thông thường, hành vi
đạo đức do ý thức đạo đức quy định, khi đó có sự thống nhất giữa ý thức và hành vi.
Tuy nhiên trong thực tế, không phải điều đó luôn luôn xảy ra, đặc biệt là trong những
trường hợp có sự xung đột giữa lợi ích cá nhân với lợi ích của người khác và với lợi ích
cộng đồng xã hội.
1.2 CHỨC NĂNG CỦA ĐẠO ĐỨC
1.2.1. Chức năng nhận thức
Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, đạo đức giúp con người nhận thức về
thế giới xung quanh liên quan đến cách ứng xử của mình với người khác, cộng đồng xã
hội. Mỗi một người phải nhận thức được rằng, mình là một thành viên trong xã hội nên
phải cư xử theo những quy tắc chuẩn mực đạo đức mà xã hội yêu cầu, những việc mình
làm không được phép gây tổn hại cho người khác, cho cộng đồng xã hội. Với nhận thức
đúng đắn, con người biết được sự cần thiết của việc thực hiện hành vi đạo đức phù hợp,
những hành vi, việc làm được khuyến khích, nhận được sự đồng tình của những người
xung quanh, của cộng đồng xã hội; những hành vi bị lên án…
Ở cấp độ cao hơn, đạo đức giúp con người hiểu được vai trò của đạo đức trong sự
phát triển xã hội, trong việc mang lại hạnh phúc cho cá nhân cho gia đình và cả xã hội
nói chung, những phẩm chất đạo đức vào mỗi con người chân chính cần rèn luyện.
biết việc làm này nhưng con người đó thấy được “kết cục”không tốt xảy ra (ví dụ như
với người khác, với bản thân…), từ cái ân hận về những việc mình làm. Trong những
trường hợp đó, anh ta (hay chị ta) sẽ điều chỉnh lại hành vi của mình. Cụ thể là, khi gặp
những tình huống tương tự, người này sẽ không làm những việc như vậy nữa mà phải
làm những việc khác, làm cách khác (ít ra cũng không để điều xấu này xảy ra với những
người xung quanh, với bản thân mình…). Đó chính là sự điều chỉnh của đạo đức từ phía
cộng đồng xã hội và từ phía bản thân.
Sự điều chỉnh hành vi con được thể hiện trong những trường hợp con người làm
được việc tốt. Khi đó anh ta (hay chị ta) được khen người (nếu việc làm đó mang lại lợi
ích cho cộng đồng xã hội và được người khác biết đến), hai con người này từ cảm thấy
thoải mái, vui mừng khi mình làm được việc tốt. Từ đó anh ta (hay chị ta) tự nhủ mình,
sẽ tiếp tục thực hiện hành vi tương tự.
Qua đây chúng ta cũng thấy, sự định hướng hành vi của đạo đức phụ thuộc phần
lớn vào nhận thức, sự điều chỉnh phụ thuộc vào sự đánh giá của nó.
6
1.2.3. Chức năng đánh giá
Bất kỳ một hành vi đó lúc nào cũng được đánh giá - từ những người xung quanh
và từ chính bản thân mình. Ngoài thước đo cơ bản của sự đánh giá này là những quy
tắc, chuẩn mực đạo đức xã hội, việc đánh giá còn dựa vào điều kiện thực hiện, động cơ,
kết quả…
Đánh giá từ xã hội có thể là khen người, đồng tình (nếu hành vi đó phù hợp với
các quy tắc, chuẩn mực đạo đức, mang lại những kết quả tốt đẹp, có lợi), ngược lại, sẽ
bị lên án, phê phán (Nếu hành vi này trái ngược lại những quy tắc, chuẩn mực đạo đức
mang lại những điều xấu, có hại).
Đánh giá từ bản thân chính là “tòa án lương tâm”. Khi con người làm được điều
tốt thì thấy thanh thản, thoải mái, điều đó mang lại niềm vui, sự thỏa mãn cho người đó.
Ngược lại, khi ai đó làm điều xấu, điều ác thì thấy ân hận, day dứt, hối tiếc, điều đó làm
cho anh ta (hay chị ta) từ buồn phiền, có khi cả sự đau khổ.
lướt qua mọi nguy hiểm khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước”(Hồ
Chí Minh). Biết bao tấm gương yêu nước, anh hùng lẫm liệt qua bao cuộc chiến tranh
đã làm sáng ngời lịch sử dân tộc ta - Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt,
Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung, Hồ Chí Minh... Đặc biệt, Thánh
Gióng dù là nhân vật truyền thuyết, những tấm gương về một cậu bé 3 tuổi đã biết cưỡi
ngựa sắt, dùng roi sắt cùng nhân dân đánh giặc Ân, có lẽ trên thế giới chỉ có ở Việt
Nam! Trong lòng nhân dân, những nhà yêu nước vĩ đại như chú bé làng Gióng, Trần
Hưng Đạo, Hồ Chí Minh... đã trở thành những vị thánh.
Lòng yêu nước gắn liền với yêu quê hương, biết ơn quê hương. Những ngôi nhà,
cây đa, bến nước, sân đình, lũy tre làng, mảnh ruộng, mồ mả tổ tiên... luôn thiêng liêng
đối với mỗi con người. Quê hương là vùng quê nghèo, đất cằn sỏi đá, người dân luôn
phải vật lộn với thiên nhiên thì nó vẫn có sức gợi nhớ, lay động những ẩn kính trong
tâm hồn, tình cảm của mỗi người Việt Nam! Lòng yêu quê hương là một cội nguồn của
lòng yêu nước.
Lòng yêu nước gắn liền với tự hào dân tộc, tự hào về truyền thống dựng nước và
giữ nước, những người đã ngã xuống vì độc lập tự do của dân tộc Việt Nam…
Lòng yêu nước được thể hiện qua việc tôn trọng những nét truyền thống văn hóa
tốt đẹp của dân tộc, giữ gìn sự trong sáng ngôn ngữ, chống lại những gì cổ hủ, lạc hậu
gây cản trở sự phát triển xã hội, bênh vực đồng bào mình, đoàn kết với các dân tộc anh
em, tôn kính Quốc kỳ, Quốc Ca, không làm điều gì tổn hại đến Quốc thể…
Lòng yêu nước đối lập, trái ngược với sự phản bội tổ quốc, sự hy sinh lợi ích dân
tộc vì lợi ích cục bộ, cá nhân, gây hấn với các dân tộc khác…
1.3.2. Lòng nhân ái
Là lòng yêu thương, quý mến, tôn trọng con người, hết lòng vì lợi ích, tính mạng
của người khác mà không phân biệt vị thế xã hội, giàu nghèo, giới tính, tôn giáo, tuổi
tác…
Các nhà nghiên cứu cho rằng, lòng nhân ái có ngọn nguồn từ thời Công xã nguyên
thủy - đó là tình yêu thương đã liên kết các thành viên trong thị tộc, bộ lạc với nhau
trong cuộc đấu tranh vì lợi ích chung. Tình cảm này phát triển qua các thời kỳ lịch sử và
được khẳng định như là giá trị nhân văn trong cuộc đấu tranh chống lại áp bức, đàn áp,
Cuộc sống của con người có rất nhiều nhu cầu khác nhau và chỉ sinh những nhu
cầu ấy được thỏa mãn thì con người mới tồn tại và phát triển được. Chính lao động là
phương tiện quan trọng nhất đáp ứng nhu cầu. Bởi vì, chỉ có lao động con người mới
làm ra những của cải vật chất cần thiết phục vụ cho nhu cầu của mình. Vì vậy, mọi
người trong xã hội đều phải tham gia lao động theo khả năng và điều kiện của mình.
Và, yêu lao động như là một trong những phẩm chất quan trọng nhất của mỗi con
người.
Ý nghĩa đạo đức của lao động thể hiện ở tính chất xã hội của nó - lao động không
chỉ mang lại lợi ích cho bản thân, gia đình mà còn cho cộng đồng xã hội. Chỉ khi con
người lao động để làm ra của cải vật chất và tinh thần thì mới có thể mang lại hạnh
phúc cho người khác, trước hết là những người trong gia đình, mới có thể thực hiện đầy
đủ nghĩa vụ đạo đức, mới có điều kiện thể hiện lòng nhân ái... Như vậy, suy cho cùng,
lao động là thiện, giúp con người cách làm điều ác. Ngược lại, nếu con người có khả
năng lao động nhưng không chịu lao động thì đó là kẻ ăn bám, sống dựa dẫm vào mồ
hôi, nước mắt của người khác - con người này không mang lại hạnh phúc cho những
người khác, không thực hiện được nghĩa vụ đạo đức của mình, không bao giờ thể hiện
lòng nhân ái. Lười lao động là ác và chính nó dễ dẫn con người làm những điều ác khác
- “nhàn cư vi bất thiện”!
9
Yêu lao động trước hết thể hiện thái độ đối với công việc lao động - hăng hái,
siêng năng, cần cù, nhiệt tình, chăm chỉ, tích cực lao động. Con người yêu lao động
luôn nghĩ ra việc để làm, dù đó là việc nhà, hay việc ở cơ quan, công sở…, không nề hà
việc lớn, việc nhỏ. Con người đó cảm thấy bức rứt, khó chịu khi ngồi không nhàn rỗi.
Yêu lao động gắn liền với quý trọng sản phẩm lao động. Mỗi một khi chính mình
bỏ công sức, làm ra sản phẩm (trực tiếp hay gián tiếp) con người mới thấy được giá trị
đích thực của nó, bởi trong kết quả lao động đó có mồ hôi, nước mắt, trí tuệ của mình.
Con người yêu lao động luôn trân trọng, tiết kiệm, giữ gìn, bảo vệ không chỉ sản phẩm
lao động, tài sản chính mình mà còn những thành quả lao động của người khác, tài sản
bị lên án, bị đào thải.
10
Một trong những biểu hiện quan trọng nhất của tinh thần tập thể, tính cộng đồng là
chấp hành nội quy, quyết định của tập thể cộng đồng. Việc thực hiện những quy định
của tập thể cộng đồng là yếu tố quan trọng hàng đầu đảm bảo không chỉ cho tập thể,
cộng đồng phát triển, mà còn khẳng định vị thế sự tồn tại của cá nhân trong tập thể,
cộng đồng đó. Suy cho cùng, việc thực hiện những nội quy, quyết định của tập thể,
cộng đồng là yếu tố đảm bảo thống nhất giữa hai lợi ích - cá nhân và tập thể.
Biểu hiện cụ thể của việc chấp hành nội quy, quyết định của tập thể, cộng đồng là
tính kỷ luật. Người có kỷ luật tự giác là người không chỉ thực hiện tốt những quy định
của tập thể cộng đồng mà còn sẵn sàng hi sinh mọi quyền lợi cá nhân, hoàn thành tốt
mọi nhiệm vụ mệnh lệnh của cấp trên giao phó trong các tình huống khác nhau…
Trong quá trình hoạt động trong tập thể, sống ở cộng đồng, mỗi người cần phải
biết hợp tác phối hợp tương trợ lẫn nhau, vì công việc chung, lợi ích chung. Rất có thể
trong quá trình đó nảy sinh nhiều mâu thuẫn cần giải quyết. Khi đó, các thành viên cần
biết trao đổi đàm phán thỏa thuận với nhau nhằm dung hòa lợi ích cả hai bên (những lợi
ích của tập thể, cộng đồng luôn được đặt lên trên). Bên cạnh đó, tập thể, cộng đồng
không được triệt tiêu lợi ích cá nhân, và lợi ích cá nhân chỉ bị triệt tiêu khi cá nhân đó
tự nguyện. Đây sẽ là hành vi đạo đức khi cá nhân hi sinh lợi ích của bản thân vì lợi ích
tập thể cộng đồng.
Tinh thần tập thể, tính cộng đồng không những không cấm đoán hay phủ nhận mà
còn khuyến khích sự cạnh tranh lành mạnh. Đó là sự khẳng định chính mình, vươn lên
của các thành viên, cá nhân phù hợp với những quy định của tập thể cộng đồng. Sự kinh
doanh này không chỉ có lợi cho cá nhân mà còn mang lại lợi ích cho cả tập thể, cộng
đồng.
11
Cái thiện là cái tốt lành, cái khó lợi, cái có ích, mang lại những điều tốt đẹp cho xã
hội cộng đồng, con người, vì sự tiến bộ xã hội. Cái thiện là những cái phù hợp với
chuẩn mực đạo đức xã hội, được xã hội thừa nhận, đồng tình, cổ vũ, được khuyến khích
thực hiện. Cái thiện được bộc lộ qua hành động, việc làm trong thực tiễn cuộc sống.
Theo quan niệm truyền thống của dân tộc, cái thiện được thể hiện rất đa dạng như: Biết
12
quan tâm giúp đỡ người khác,”Lá lành đùm lá rách”, “Bầu ơi thương lấy bí cùng/Tuy
rằng khác giống nhưng chung một giàn”, kính trọng người già, hi sinh vì Tổ quốc…
Đối lập với cái thiện là cái ác. Cái ác là cái xấu, cái có hại, mang lại những điều
đau khổ, bất hạnh cho con người, có khi còn gây ra sự bất ổn cho cộng đồng xã hội,
trong này sự tiến bộ xã hội, chống lại loài người. Như vậy, cái ác trái ngược với đạo
đức xã hội và do đó, nó bị lên án, phê phán. Cái ác biểu hiện không chỉ qua hành vi cụ
thể, mà có khi được thể hiện qua suy nghĩ, ý nghĩ, động cơ xấu xa, ích kỷ, hèn hạ...
Những biểu hiện của cái ác cũng rất khác nhau - trộm cắp, cướp bóc, đánh đập người
khác, giết người, bỏ rơi con người trong hoạn nạn, tham lam cá nhân, vì lợi ích cá nhân
mà thiệt hại lợi ích của người khác, lợi ích của cộng đồng xã hội…
Dù cái thiện và cái ác là những giá trị đối lập nhau nhưng không phải là bất biến
và có mối quan hệ nhất định với nhau. Cái thiện và cái ác luôn biến đổi theo sự phát
triển của xã hội loài người và mỗi một dân tộc, giai cấp, chế độ... đều có quan niệm của
mình về cái thiện, cái ác. Về điều này, Ph. Ăng ghen đã từng khẳng định: “từ dân tộc
này sang dân tộc khác, từ thời đại này sang thời đại khác, những quan niệm về cái thiện
và cái ác đã biến đổi nhiều đến mức chúng thường trái ngược hẳn nhau”. Ví như, “trung
quân”(trung thành với vua chúa) là 1 giá trị quan trọng của đạo đức phong kiến (cái
thiện), và bất kỳ hành vi, thầm kín lời nói nào trái với quy định trên, “đụng chạm”đến
vua chúa (cái ác) không những bị lên án mà còn bị trừng phạt. Ngày nay, người dân có
quyền phê bình, phê phán lãnh đạo của mình (kể cả tổng thống). Nếu những lời phê
phán đó là khách quan, mang lại sự thay đổi tích cực cho xã hội... còn được xem là điều
thiện. Bên cạnh đó, giữa các quốc gia, các dân tộc trên thế giới cũng có nhiều quan
Động cơ tốt, kết quả tốt - được gọi là thiện;
Động cơ tốt; kết quả xấu - không được coi là ác;
Động cơ xấu, kết quả tốt - không được coi là thiện;
Động cơ xấu, kết quả xấu - được coi là ác;
Trong thực tiễn cuộc sống, việc xác định một hành vi là thiện hay ác là hoàn toàn
không dễ dàng. Bởi lẽ đằng sau mỗi hàng vi ẩn chứa động cơ, mục đích nào đó mà
người khác không phải bao giờ cũng nhận ra. Ngoài ra để làm một việc thiện con người
không chỉ có động cơ, mục đích tốt (thiện tâm), mà còn phải có những điều kiện
phương tiện thực hiện... Khi con người nào đó làm được một việc thiện mà chưa chắc
đã được những người xung quanh gọi là thiện, người tốt, có đạo đức Nhưng nếu ai đó
chỉ là một điều ác thôi cũng dễ bị đánh giá là ác, người xấu.
Mặc dù trong xã hội hiện đại, cái thiện và cái ác còn tồn tại song hành, đan xen
nhau. Nhưng lý tưởng cao đẹp của loài người nói chung và của các quốc gia, dân tộc
tiến bộ nói riêng là xây dựng một xã hội văn minh, hiện đại mà trong đó cái thiện ngự
trị tuyệt đối, cái ác bị đẩy lùi. Để xây dựng được xã hội lí tưởng đó, trước hết, mỗi một
cá nhân là một tấm gương sáng về làm điều thiện, cổ vũ cho cái thiện, tránh xa cái ác,
lên án cái ác.
2.2.2. Nghĩa vụ
pháp lý. Điểm chung của hai nghĩa vụ này đều là nhằm định hướng, điều chỉnh hành vi
và hoạt động của con người phù hợp với các chuẩn mực xã hội. Song, nghĩa vụ đòi hỏi
công dân tôn trọng, thực hiện pháp luật hiện hành (như Luật giao thông khi tham gia
giao thông, Luật doanh nghiệp đối với các doanh nhân, Pháp lệnh Thuế thu nhập đối
với người có thu nhập cao...). Việc thực hiện nghĩa vụ pháp lý có thể mang tính chất tự
giác nhưng chưa phải là cái thôi thúc bên trong và chịu sự cưỡng chế từ bên ngoài, bị
trừng phạt bởi các lực lượng bảo vệ pháp luật (công an, Viện kiểm sát, tòa án) nếu vi
phạm. Còn nghĩa vụ đạo đức mang tính tự giác cho con người ý thức được trách nhiệm
đạo đức của mình, được tình cảm thúc đẩy và nó mang lại cho con người cảm giác thích
thú, vui sướng, thoải mái mỗi khi thực hiện được nghĩa vụ của mình. Nếu không thực
hiện nghĩa vụ đạo đức thì lương tâm day dứt, bị xã hội phê phán, lên án. Tuy nhiên sự
phân biệt trên chỉ mang tính chất tương đối và nghĩa vụ đạo đức là nghĩa vụ pháp lý có
mối quan hệ khăng khít với nhau - điều đóng góp vào việc giữ gìn kỷ cương và phát
triển xã hội. Nghĩa vụ đạo đức thúc đẩy con người thực hiện nghĩa vụ pháp lý. Nghĩa vụ
pháp lý là biểu hiện của việc thực hiện nghĩa vụ đạo đức... Xã hội càng văn minh, tiến
bộ thì nghĩa vụ pháp lý càng được chuyển hóa thành nghĩa vụ đạo đức
2.2.3. Lương tâm
Khi gặp tình huống đạo đức, đặc biệt khi đó không có sự chứng kiến của người
khác, con người sẽ làm điều thiện hay điều ác? điều đó phụ thuộc nhiều yếu tố, đặc biệt
là lương tâm. Lương tâm là tiếng nói bên trong chỉ dẫn, thôi thúc con người làm những
điều thiện, theo nghĩa vụ của mình và phê phán ngăn cản con người làm điều ác. Hay
nói cách khác, Lương tâm là tổng hòa ý thức trách nhiệm và tình cảm đạo đức của cá
nhân về sự tự đánh giá, tự giám sát động cơ, hành vi của mình và tự yêu cầu mình thực
hiện các chuẩn mực đạo đức xã hội.
15
Tại sao con người thực hiện hành vi đạo đức đúng đắn mà không làm điều trái
ngược? có thể do sợ bị trừng phạt, xấu hổ với người khác hoặc hổ thẹn với chính mình.
Khi con người thực hiện hành vi mà do sợ sự trừng phạt hay xấu hổ trước dư luận
nó giúp con người tự đánh giá, tự điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với
chuẩn mực đạo đức xã hội, làm tròn nghĩa vụ đạo đức của mình. Khi đó, hành vi của
con người trở nên tự nguyện, tự giác theo tiếng gọi bên trong của lý trí và con tim mà
không phải sự ràng buộc từ bên ngoài. Lương tâm còn giúp con người vượt qua khó
khăn, đặc biệt là vượt qua chính mình để làm điều thiện, không làm những điều ác, giữ
gìn được nhân cách cao thượng, dù ở hoàn cảnh nào. Đúng như A.X. Macarenco đã
từng nói, đại ý, người có đạo đức là người làm cả những việc mình không thích khi
không có ai nhìn thấy.
16
Ngược lại, người không có lương tâm thường làm những việc bất nhân, bất nghĩa,
vô đạo đức miễn là mang lại lợi ích dục vọng thấp hèn của mình - cướp của, giết người,
trả thù cá nhân, phản bội người thân, phản bội tổ quốc... Họ còn sống giả dối, giả nhân,
giả nghĩa, có khi rất nguy hiểm cho xã hội. Không có lương tâm, họ có thể ý thức được
việc mình làm nhưng không thể có tình cảm đích thực và chỉ thực hiện hành vi đạo đức
khi biết chắc chắn rằng có người nhìn thấy, có người khác biết đến hay chỉ mang lại lợi
ích cho mình. Rõ ràng, đó là hành vi không tự giác ở những con người đó không có cảm
giác ân hận, cắn rứt lương tâm trước những việc làm vô nhân đạo gây tổn thương, đau
khổ cho người khác, cho xã hội.
2.2.4. Hạnh phúc
Con người luôn mơ ước xây dựng một cuộc sống tự do, hạnh phúc, trong đó, các
yếu tố chân, thiện, mỹ ngự trị tuyệt đối. Cuộc sống hạnh phúc là khát vọng của từng cá
nhân và của xã hội nói chung.
Theo quan niệm truyền thống, hạnh phúc con người gắn liền với cuộc sống gia
đình - có một gia đình ấm êm, vợ chồng yêu thương nhau, con cái khỏe mạnh, ngoan
ngoãn, học giỏi, kinh tế sung túc... Khi đó, con người có cảm giác sung sướng, phấn
chấn, thỏa mãn về những điều mình mong muốn đã đạt được.
Theo nghĩa rộng, hạnh phúc là cảm giác về sự khoan khoái của tồn tại. Con người
chỉ khoan khoái trong trường hợp những nhu cầu cơ bản của mình được thỏa mãn. Hay
không cản trở được cảm giác hạnh phúc của “Hai Trái Tim Vàng” (nhu cầu tinh thần).
Những trường hợp khác - rất nhiều người dùng tiền bạc kiếm được phục vụ cho nhu cầu
tinh thần - mua tivi, dàn máy nghe nhạc, đi du lịch, lo cho con học tập, kể cả du học…
Trong những nhu cầu tinh thần, nhu cầu đạo đức chiếm vị trí quan trọng đặc biệt.
Vì trong cuộc sống của mình, không ai thoát được mối quan hệ đạo đức - với những
người xung quanh, với công việc, với xã hội, với môi trường… Hạnh phúc thực sự chỉ
đến với những người có đạo đức - biết làm việc thiện, thực hiện nghĩa vụ của mình.
Nhờ những nhu cầu đạo đức được thỏa mãn, hạnh phúc làm cho con người hài lòng về
cuộc sống, tin tưởng những giá trị xã hội, nâng cao tính tích cực hoạt động của mình,
vượt qua khó khăn để vươn lên... Khi đó, con người sẽ càng nâng cao ý thức nghĩa vụ,
tự giác làm việc thiện, lương tâm càng thanh thản, trong sáng.
Hạnh phúc của con người vừa mang tính chủ quan, vừa mang tính khách quan.
Tính chủ quan thể hiện ở chỗ, mỗi một con người có quan niệm riêng của mình về hạnh
phúc, có điều kiện và khả năng của mình để đạt những nguyện vọng, nhu cầu cá nhân.
Rất có thể đối với anh A hạnh phúc là gia đình yên ấm, con cái tiến bộ, việc làm ổn
định, có nhà để ở... Nhưng, đối với anh B, những yếu tố đó chưa làm anh ta thỏa mãn anh ta cần có xe ô tô đắt tiền, vợ đẹp, con cái học giỏi, được đi du lịch nước ngoài...
Với nhiều người, khi đáp ứng được những nhu cầu so với “mặt bằng xã hội” là hạnh
phúc, còn với những người khác thì phải vượt trên “mặt bằng” đó mới là hạnh phúc. Để
thỏa mãn những nhu cầu của mình, có người rất nỗ lực, có ý chí vươn lên để quyết tâm
“đấu tranh”, có kẻ thì sống kiểu “há miệng chờ sung”...
Tính khách quan của hạnh phúc thể hiện ở chỗ, những nhu cầu của con người và
việc đáp ứng chúng phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế - xã hội. Khi kinh tế - xã hội của
đất nước càng phát triển thì nhu cầu con người, quan niệm về hạnh phúc cũng thay đổi
theo. Ví như, khi đất nước còn nghèo nàn lạc hậu (trong chiến tranh trước đây chẳng
hạn) chiếc xe máy là thứ xa xỉ, có chiếc xe đạp để đi lại là nhu cầu chính đáng. Con
ngày nay, khi Việt Nam đã là thành viên của Tổ chức thương mại thế giới, xe máy trở
nên quá phổ biến và nhiều người mơ ước ô tô riêng…
Tính khách quan của hạnh phúc con người còn thể hiện ở sự đánh giá, thừa nhận
của xã hội. Sự đánh giá này là phụ thuộc vào sự phát triển của xã hội, khả năng của xã
hội đáp ứng những nhu cầu khác nhau của con người, quan niệm xã hội về hạnh phúc,
Tuy nhiên, việc giáo dục đạo đức qua các môn học và qua hoạt động ngoài giờ lên
lớp ở tiểu học chưa thật sự có tính hệ thống nên hiệu quả giáo dục còn hạn chế. Vì vậy,
cần có một môn học với chức năng chủ yếu là giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học
một
cách
có
hệ
thống
–
đó
là
môn
Đạo
đức.
Môn Đạo đức có vị trí đặc biệt quan trọng mà không một môn học nào có thể thay thế
được. Bởi lẽ, chức năng của nó là giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học với hệ thống
chuẩn mực hành vi đạo đức được quy định trong chương trình môn học này. Để thực
hiện được điều này, môn Đạo đức thực hiện ba nhiệm vụ là:
- Hình thành cho học sinh ý thức về những chuẩn mực hành vi đạo đức (tri thức và
niềm tin), từ đó, định hướng cho các em các giá trị đạo đức phù hợp với những chuẩn
mực được quy định trong chương trình môn Đạo đức;
- Giáo dục cho học sinh những xúc cảm, thái độ, tình cảm đạo đức đúng đắn liên
quan đến các chuẩn mực hành vi quy định;
- Hình thành cho các em những kĩ năng, hành vi phù hợp với các chuẩn mực và
trên cơ sở đó, rèn luyện thói quen đạo đức tính cực
Như vậy, các môn học khác không thay thế được môn Đạo đức là vì:
- Môn Đạo đức thực hiện đồng thời cả ba nhiệm vụ giáo dục đạo đức;
19
học tiếp lên trung học cơ sở. Trong những môn học ở cấp học này, Giáo dục công dân
là môn học có chức năng giáo dục đạo đức, pháp luật cho học sinh. Môn Đạo đức ở tiểu
học với hệ thống chuẩn mực hành vi cụ thể sẽ tạo cơ sở, nền tảng cho quá trình dạy học
môn Giáo dục công dân mà nội dung gồn những phẩm chất, bổm phận đạo đức và pháp
luật với mức độ khái quát cao hơn, sâu sắc hơn.
Như vậy, môn Đạo đức đóng vai trò cực kì quan trong không chỉ trong việc giáo
dục đạo đức cho học sinh tiểu học mà còn là cơ sở để thực hiện quá trình dạy học môn
Giáo dục công dân ở Trung học cơ sở.
3.2 MỤC TIÊU MÔN ĐẠO ĐỨC
Mục tiêu dạy học môn Đạo đức được quy định trong chương trình giáo dục phổ
thông môn Giáo dục công dân cuả Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành ngày 05 tháng 5
năm 2006.
Mục tiêu môn học này có những đặc điểm cần chú ý là:
20
- Đây là kết quả mong muốn cần đạt được ở học sinh qua quá trình dạy học môn
Đạo đức (mà không phải ở giáo viên, chương trình hay tài liệu dạy học môn Đạo
đức…);
- Những mục tiêu này có tác dụng cho việc tổ chức quá trình dạy học môn Đạo
đức để đạt những kết quả trên;
- Chúng là một căn cứ quan trọng để đánh giá kết quả dạy học môn Đạo đức;
- Những mục tiêu này phản ánh các khía cạnh khác nhau của chuẩn mục hành vi
đạo đức – hiểu biết về chuẩn mực, thái độ liên quan và việc thực hiện chuẩn mục đó.
Cụ thể, việc dạy học môn Đạo đức cần đạt được những mục tiêu sau:
3.2.1 Mục tiêu về tri thức
Mục tiêu về tri thức của môn Đạo đức là: Sau khi học môn này, học sinh nêu lên
được những tri thức cơ bản, cần thiết về các chuẩn mực hành vi đạo đức phù hợp với
lứa tuổi, phản ánh các mối quan hệ hằng ngày thường gặp của các em, từ đó, bước đầu,
các em có niềm tin đạo đức đúng đắn.
sinh, sử dụng chúng đúng mục đích, có hành động nhẹ tay với chúng…
+ Tránh những hành động như gây mất vệ sinh, làm bẩn, làm xấu, gây hư hỏng
chúng…
Để đạt được mục tiêu này, cần tổ chức cho học sinh phân tích, đánh giá những
hành vi, việc làm, hiện tượng cụ thể để các em thấy được lợi ích của việc làm đúng, tốt
(hay, tác hại của việc làm sai, xấu), nêu các cách xử lý tình huống tương tự trong cuộc
sống rồi lựa chọn cách phù hợp… Và từ đó, tự học sinh rút ra bài học đạo đức tương
ứng. Song song, cần tạo điều kiện cho học sinh tiểu học độc lập hãy trao đổi, hợp tác
với bạn để tự phát hiện ra khi thức về bản chất của chuẩn mực hành vi. Tri thức, niềm
tin cần được củng cố, khắc sâu qua việc tổ chức cho các em vận dụng để giải quyết các
bài tập đa dạng, qua việc thực hiện hành vi trong cuộc sống hàng ngày.
3.2.2. Mục tiêu về kỹ năng, hành vi
Mục tiêu về kỹ năng, hành vi của môn Đạo đức là: Sau khi học môn này, học sinh
có những kỹ năng vận dụng bài học đạo đức, lựa chọn và thực hiện được các hành vi
phù hợp với những chuẩn mực hành vi quy định và trên cơ sở đó, các em rèn luyện
được thói quen đạo đức tích cực.
Kỹ năng, hành vi được coi là kết quả quan trọng nhất của việc dạy học môn Đạo
đức (nhưng đồng thời cũng là khó khăn nhất) vì đạo đức của con người nói chung và
của học sinh tiểu học nói riêng được đánh giá chủ yếu qua hành động, việc làm mà
không phải chỉ qua lời nói.
Những kỹ năng, hành vi này thường bao gồm:
- Biết tự nhận xét hành vi của bản thân;
- Biết nhận xét, đánh giá hành vi của người khác;
- Biết xử lý những tình huống đạo đức tương tự trong cuộc sống;
- Biết thực hiện các thao tác, hành động đúng đắn theo mẫu qua trò chơi hoạt
cảnh…;
- Biết đánh giá những vấn đề thực tiễn liên quan đến bài đạo đức;
- Thực hiện được những hành vi tích cực trong cuộc sống hàng ngày của mình phù
hợp với các chuẩn mực hành vi…
Ví dụ: Mục tiêu về kỹ năng, hành vi của bài “Giữ gìn các công trình công
giàu tình người hơn.
Những thái độ tình cảm này bao gồm:
- Thái độ tự giác, tích cực thực hiện hành vi theo chuẩn mực quy định;
- Thái độ đồng tình đối với hành động tích cực; thái độ phê phán đối với hành
động tiêu cực;
- Tình cảm đối với những đối tượng khác nhau do các bài đạo đức quy định.
Ví dụ: Mục tiêu về thái độ của bài “Giữ gìn các công trình công cộng”(lớp 4) có
thể được đưa ra như sau.
Học sinh bày tỏ được những thái độ, tình cảm:
- Tích cực, tự giác thực hiện việc giữ gìn các công trình công cộng nơi các em qua
lại;
- Đồng tình với hành động biết giữ gìn các công trình công cộng; phê phán những
hành động gây hại, làm hỏng các công trình công cộng;
- Yêu quý, tôn trọng các công trình công cộng.
Thái độ, tình cảm của học sinh nảy sinh, được hình thành trong quá trình nhận
thức các chuẩn mực hành vi đạo đức (ví dụ, một chuyện kể hấp dẫn, sinh động dễ làm
cho học sinh có thái độ đồng tình với hành động tốt, yêu mến nhân vật tích cực trong
đó…), hình thành kỹ năng (các em tỏ thái độ hài lòng khi đánh giá một hiện tượng tích
cực trong thực tế…), thực hiện hành vi đạo đức trong cuộc sống thực tiễn hàng ngày
(học sinh tích cực tham gia công việc, yêu quý, tôn trọng đối tượng mà mình thực hiện
hành vi…).
Một số lưu ý:
Một là, khi xác định các mục tiêu của từng bài đạo đức, cần căn cứ vào tính chất
của bài, khả năng của học sinh, điều kiện để thực hiện đưa ra những nội dung cụ thể của
từng mục tiêu sao cho phù hợp (xem phân tích các ví dụ ở chương thứ năm, mục III.
Vấn đề soạn bài trong dạy học môn Đạo đức).
Hai là, ba mục tiêu trên đây của môn Đạo đức có mối quan hệ mật thiết với nhau tác động lẫn nhau, hỗ trợ cho nhau, thống nhất với nhau:
23
phương và khả năng của các em, giáo viên cần dự kiến và đòi hỏi học sinh thực hiện
được những việc làm cụ thể thiết thực - lao động trực nhật lớp, chăm sóc cây xanh, xây
dựng vườn trường (bài “Giữ gìn trường lớp sạch đẹp”), chăm sóc, bảo vệ cây trồng, vật
nuôi ở gia đình (bài “Chăm sóc, bảo vệ cây trồng, vật nuôi”), chăm sóc, giữ gìn nghĩa
trang liệt sĩ (bài “Biết ơn thương binh, liệt sĩ”)…
Qua việc tham gia những hoạt động giáo dục như vậy, tri thức đạo đức ở các em
trở nên bền vững, ý thức tự giác được hình thành, thái độ và tình cảm của học sinh trở
nên thực chất và, hành vi, thói quen gắn liền với nhu cầu thực tế của các em.
Ngược lại, nếu việc dạy học môn Đạo đức có phụ thuộc vào sách vở, nặng về lý
thuyết suông, xa rời thực tế, ít thực hành, không tổ chức hoạt động cho học sinh, các em
không được tham gia giải quyết những vấn đề liên quan cuộc sống bản thân thì kết quả
sẽ rất phiến diện, hiệu quả giáo dục sẽ giảm đi nhiều lần. Cụ thể là, nếu chỉ qua sách, vở
bài tập đạo đức, các em mới phần nào nắm được một ít kiến thức về các chuẩn mực
24
hành vi đạo đức mà chưa thể có thái độ, tình cảm bền vững và đặc biệt là, khó có thể
hình thành được hành vi và thói quen tương ứng.
3.3.2.Tính cụ thể của các chuẩn mực hành vi đạo đức
Dạy học môn Đạo Đức, về bản chất là quá trình chuyển hóa các chuẩn mực đạo
đức (như những giá trị xã hội) hành hành vi thói quen tương ứng như ở học sinh (như là
giá trị cá nhân). Để việc chuyển hóa này có hiệu quả, một yêu cầu sư phạm Quan trọng
là, những chuẩn mực đó phải vừa sức với các em. Trong lúc đó, Tư duy trực quan - cụ
thể của học sinh tiểu học còn chiếm ưu thế, kinh nghiệm sống còn nghèo nàn, cho nên
khả năng nhận thức còn hạn chế. Các em mới nhận thức được các chuẩn mực đạo đức
gắn liền với những tình huống cụ thể thường gặp trong cuộc sống hàng ngày của mình,
mà chưa đủ năng lực lãnh hội được những chuẩn mực có mức độ khái quát cao, trên
bình diện lý luận. Vì vậy, các chuẩn mực đạo đức được đưa ra trong chương trình môn
đạo đức là những chuẩn mực đạo đức cụ thể, phù hợp với khả năng nhận thức, cuộc
sống thực của học sinh tiểu học và tính bắt chước của các em. Ví dụ, về mối quan hệ