VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HUỲNH HỮU NAM
PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA
THỪA PHÁT LẠI TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60.38.01.07
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, 2017
Công trình này được hoàn thành tại:
Học viện Khoa học Xã hội – cơ sở tại Thành Phố
Hồ Chí Minh
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. DƯƠNG ANH SƠN
Phản biện 1: TS. Đặng Vũ Huân
Phản biện 2: TS. Hồ Ngọc Hiển
Luận văn sẽ được bảo vệ trước hội đồng chấm Luận
Văn Thạc Sĩ họp tại Học viện Khoa học Xã hội – Cơ sở
tại Thành Phố Hồ Chí Minh
Vào lúc 18h00 ngày 09 tháng 10 năm 2017
39 – NQ/TW ngày 17 tháng 4 năm 2015 của Bộ Chính trị về tinh
giảm biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.
Bên cạnh đó, hoạt động của Thừa phát lại đã bổ sung nguồn chứng
1
cứ, tạo thêm công cụ pháp lý để người dân bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của mình khi tham gia các giao dịch dân sự, kinh tế và trong
giải quyết tranh chấp; đồng thời, người dân cũng có thêm sự lựa chọn
phù hợp trong việc yêu cầu thi hành án, quyết định của Tòa án.
Qua nghiên cứu tình hình từ mô hình thí điểm văn phòng Thừa
phát lại đầu tiên, đến năm 2016 thực hiện đề án quy hoạch mạng lưới
văn phòng Thừa phát lại trên địa bàn Thành phố đến năm 2020; hiện
tại Thành phố Hồ Chí Minh có 11 Văn phòng Thừa phát lại hoạt
động có hiệu quả. Qua tổng kết hàng năm của thanh tra Sở Tư pháp
cho thấy, vẫn còn nhiều hạn chế trong các hoạt động về tống đạt, lập
vi bằng, xác minh điều kiện thi hành án, tổ chức thi hành án. Nhằm
chỉ ra thực trạng các ưu điểm, hạn chế và đề xuất những giải pháp
mang tính đòn bẩy tạo động lực cho các văn phòng Thừa phát lại
phát triển và hoạt đồng nền nếp, tuân thủ pháp luật đem lại lợi ích
cho nhân dân, giảm tải cho hoạt động của các cơ quan tư pháp, giúp
tăng cường công tác quản lý Nhà nước theo đúng chủ trương của
Đảng và Nhà nước ta về chiến lược cải cách tư pháp trong tình hình
mới. Tiếp cận tình hình nêu trên, đã đặt ra nhu cầu bức thiết cả về lý
luận và thực tiễn cần được nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ
thống vấn đề Thừa phát lại tại thành phố Hồ Chí Minh.
Vì vậy, tác giả chọn đề tài “Pháp luật về hoạt động của Thừa
phát lại từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài thạc sĩ.
Chương 1.
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TỔ CHỨC THỪA PHÁT LẠI
từng việc, chỉ định một nhân viên để giao cho việc thi hành lệnh,
mệnh lệnh hoặc án. Ở những nơi nào đã có Thừa phát lại riêng, thì
đương sự có quyền nhờ Thừa phát lại riêng thi hành án hoặc mệnh
lệnh”[5]. Như vậy, những năm đầu của chính quyền cách mạng, tổ
chức thi hành án dân sự ở Việt Nam tiếp tục được giao cho tổ chức
Thừa phát lại đảm nhiệm.
3
Từ năm 1950 đến năm 1975 và từ sau Hiệp định Giơnevơ năm
1954. Bằng Sắc lệnh số 85/SL của Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 22
tháng 5 năm 1950 về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng đã bãi
bỏ nhiệm vụ Thừa phát lại và Ban Tư pháp xã làm nhiệm vụ thi hành
án mà thay thế vào đó là Thẩm phán huyện làm nhiệm vụ thi hành án
dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chánh án. Còn ở miền địch tạm chiếm
với hai văn bản pháp lý đặc biệt quan trọng trong lĩnh vực thi hành án
là Nghị định số 111 ngày 04 tháng 02 năm 1950 về ấn định pháp quy
Thừa phát lại do chính quyền Bảo Đại ban hành và Bộ luật dân sự,
thương sự tố tụng ngày 20 tháng 12 năm 1972 do chính quyền
Nguyễn Văn Thiệu ban hành đã lấy lại quyền hạn của Thừa phát lại.
1.1.3. Giai đoạn từ năm 1975 đến nay
Sau 30 tháng 4 năm 1975, nước Việt Nam được hoàn toàn thống
nhất non sông thu về một mối, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội
trên toàn quốc. Về kinh tế, Việt Nam duy trì chế độ tập trung bao cấp
với thành phần kinh tế chủ đạo là kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể.
Việc phân chia sản phẩm theo bình quân đầu người và do Nhà nước
thực hiện, yếu tố “cạnh tranh” theo đúng nghĩa của nó gần như bị
triệt tiêu trong hầu hết các mặt của đời sống xã hội. Các tranh chấp
dân sự, kinh tế, thương mại,.. ít có cơ hội phát sinh hoặc phát sinh
không đáng kể và ít phức tạp. Nếu có phát sinh tranh chấp thì phần
cũng làm nảy sinh nhiều hơn các nhu cầu pháp lý cần phải đáp ứng.
Các nhu cầu pháp lý này đòi hỏi cần có một hệ thống pháp luật
đầy đủ điều chỉnh có hiệu quả các quan hệ xã hội, tạo mặt bằng an
toàn pháp lý ổn định cho sinh hoạt xã hội. Mặt khác, khi người dân
có nhu cầu tự bảo vệ và ngăn chặn các hành vi xâm hại đến lợi ích
hợp pháp của bản thân mình, thì có thể triệu dụng một tổ chức hoặc
cá nhân bảo vệ cho mình.
5
1.2.3. Thừa phát lại và sự hội nhập cộng đồng thế giới và khu
vực:
Trong tiến trình hội nhập của Nhà nước ta, một lĩnh vực hợp tác
không thể thiếu được đó là lĩnh vực tư pháp. Sự tương đồng về kinh
tế đòi hỏi phải có một hệ thống pháp luật và hệ thống các cơ quan tư
pháp và cơ quan bổ trợ tư pháp thích ứng và hoàn chỉnh đi kèm. Hệ
thống pháp luật và hệ thống các cơ quan tư pháp đó chính là môi
trường và phương tiện bảo đảm không những chỉ lợi ích của các nhà
kinh doanh mà còn cả lợi ích của tất cả cá nhân, tổ chức khác trong
nền kinh tế thị trường. Trong trào lưu đó, buộc chúng ta phải hoàn
thiện các cơ quan tư pháp để phục vụ cho công cuộc đổi mới của đất
nước. Cho nên sự ra đời của chế định Thừa phát lại là một mắt xích,
một minh chứng cho sự hoàn thiện đó.
1.2.4. Tiến trình tái lập tổ chức Thừa phát lại:
Nằm trong tiến trình cải cách tư pháp do Đảng ta khởi xướng và
lãnh đạo, chủ trương xã hội hóa công tác thi hành án dân sự nói riêng
và một số hoạt động bổ trợ tư pháp nói chung là một yêu cầu cấp
thiết, nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh. Chủ trương này đã được đặt ra tại Nghị
là: thừa của thừa hành; phát là chuyển phát, báo phát; lại là làm việc
của thư lại.
Theo Nghị định 135 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị
định 61 thì: “Thừa phát lại là người có các tiêu chuẩn, được Nhà
nước bổ nhiệm và trao quyền để làm các công việc theo quy định của
Nghị định này và pháp luật có liên quan”.
1.4. Vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của tổ chức
Thừa phát lại trong hoạt động tư pháp hiện nay
1.4.1. Về vai trò của tổ chức Thừa phát lại
1.4.1.1. Trợ giúp các cơ quan tư pháp trong hoạt động tố tụng
- Trợ giúp cho cơ quan Tòa án trong việc tống đạt văn bản và thu
thập chứng cứ
7
Trong hoạt động tố tụng hiện nay của cơ quan Tòa án thì việc
tống đạt văn bản được xem là một trong những công việc đầu tiên mà
cơ quan Tòa án phải làm trong quá trình xét xử vụ án.
Thừa phát lại ra đời và hoạt động không những đáp ứng được
những yêu cầu chặt chẽ về hình thức của thủ tục tố tụng, mà còn
đóng vai trò quan trọng trong việc giúp cơ quan Tòa án thu thập, bổ
sung chứng cứ để phục vụ cho quá trình xét xử. Việc thu thập, bổ
sung chứng cứ để buộc tội đương sự thuộc về trách nhiệm của các cơ
quan tư pháp điều này không những làm mất đi rất nhiều thời gian,
công sức của các cơ quan chức năng mà còn làm ảnh hưởng nhiều
đến công tác chuyên môn.
Để thuận tiện trong việc thu thập chứng cứ, đặc biệt trong việc thu
thập, bổ sung chứng cứ của Tòa án thì tổ chức Thừa phát lại là thích
hợp nhất.
- Trợ giúp cho cơ quan Thi hành án dân sự trong việc tống đạt
cầu của đương sự. Thừa phát lại không tổ chức thi hành các bản án,
quyết định thuộc diện Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự chủ
động ra quyết định thi hành án.
1.4.3. Quyền hạn của tổ chức Thừa phát lại
Yêu cầu cơ quan Nhà nước, tổ chức và cá nhân cung cấp thông tin,
tài liệu để xác định những sự kiện pháp lý có liên quan. Nếu bị từ
chối, Thừa phát lại có thể lập biên bản để ghi nhận sự từ chối đó.
Quyền được pháp luật bảo vệ về danh dự, nhân phẩm, tính mạng
và tài sản khi thực hiện nhiệm vụ; quyền được bồi dưỡng về nghiệp
vụ; được thuê người giúp việc (thợ chụp hình, thông dịch viên), tìm
nhân chứng, yêu cầu giám định để xác định sự kiện pháp lý; được từ
chối không làm một công việc gì đó nếu trái với pháp luật hoặc điều
lệ hoạt động của văn phòng
Được thu lệ phí khi thực hiện nhiệm vụ theo giá quy định quy
định. Mặc khác, bên cạnh những quyền hạn nêu trên thì trong lĩnh
9
vực thi hành án dân sự, Thừa phát lại còn có quyền như Chấp hành
viên.
1.4.4. Trách nhiệm của tổ chức Thừa phát lại
Thừa phát lại không được từ chối các yêu cầu của đương sự, trừ
trường hợp người được yêu cầu là bà con, thân thuộc. Khi thi hành
nhiệm vụ, Thừa phát lại có nghĩa vụ tuân theo trình tự thủ tục do
pháp luật quy định.
Thừa phát lại phải mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp để đảm
bảo bồi thường thiệt hại cho đương sự, nếu Thừa phát lại có lỗi do
mình gây ra; có nghĩa vụ nộp thuế, nghĩa vụ báo cáo với cơ quan
quản lý theo quy định.
1.5. Hoạt động của tổ chức Thừa phát lại của một số nước trên
bang Đức
Ở Đức được gọi là Chấp hành viên, là một Công chức tư pháp
hạng trung, giữ vai trò chấp hành của Tòa án, chịu sự giám sát nghiệp
vụ của Thẩm phán được phân công. Chấp hành viên được tổ chức
theo quản hạt của các Tòa án quận, nhưng không nằm trong cơ cấu tổ
chức của Tòa án. Chấp hành viên là một mắc xích được tổ chức độc
lập trong hệ thống các cơ quan bảo vệ pháp luật, chịu trách nhiệm chi
phí cho hoạt động của trụ sở, chấp hành viên có con dấu riêng, giao
dịch bằng tên gọi và chức danh của mình. Những công việc cụ thể
của chấp hành viên do Phòng lục sự của Tòa án phân công.
Chấp hành viên có các nhiệm vụ: giao văn kiện, giấy tờ cho các
bên đương tụng trong vụ án dân sự theo yêu cầu của một bên; lập
chứng thư phản đối các hối phiếu; giao chứng thư thể hiện yêu cầu, ý
chí của người triệu dụng cho một người khác; tổ chức thi hành các
bản án đối với loại án mà luật định. Khi thực hiện công việc thi hành
án, chấp hành viên có thể kê biên, bán đấu giá động sản, các giấy tờ
có giá trị, yêu cầu trả lại đồ vật và bắt giữ người phải thi hành án để
buộc cam kết thực hiện,…
11
Chấp hành viên được có các quyền như: khám nhà, khám nơi để
tài sản của người phải thi hành án, được dùng vũ lực khi gặp phải sự
chống đối bằng cách yêu cầu lực lượng cảnh sát hỗ trợ.
Kết luận chương 1
Tóm lại, các phần trình bày nêu trên đã sơ lược sự hình thành và
phát triển của Thừa phát lại ở Việt Nam, giới thiệu về khái niệm, vai
trò, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thừa phát lại. Đây được
xem là phần khái quát và khung pháp lý của sự hình thành và tái lập
tổ chức Thừa phát lại, thể hiện tính đổi mới, tính cấp thiết trong công
hành, quản lý các hoạt động chính, quan trọng trong phạm vi chức
năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình theo quy định của pháp luật.
Người đứng đầu văn phòng Thừa phát lại phải là Thừa phát lại và là
người đại diện theo pháp luật. Trưởng văn phòng phải là Thừa phát
lại có thẻ hành nghề Thừa phát lại đứng tên; không được chuyển
nhượng, cho thuê lại; không được thành lập chi nhánh của văn phòng.
Hồ sơ thành lập và đăng ký hoạt động của văn phòng được quy
định như các doanh nghiệp kinh doanh có điều kiện. Văn phòng
Thừa phát lại là tổ chức hành nghề của Thừa phát lại, có trụ sở, con
dấu và tài khoản riêng, hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính.
Như vậy, văn phòng Thừa phát lại hoạt động như là đơn vị kinh tế tư
nhân, do tư nhân thành lập, tự chủ về tất cả các hoạt động của mình.
2.1.2. Tổ chức bộ máy của Văn phòng Thừa phát lại
Trưởng văn phòng phải là Thừa phát lại, là người đại diện theo
pháp luật của văn phòng Thừa phát lại. Thừa phát lại là thành viên
sáng lập, trong trường hợp nhiều người cùng tham gia thành lập văn
phòng Thừa phát lại
Thư ký nghiệp vụ Thừa phát lại là nhân viên văn phòng Thừa phát
lại giúp Thừa phát lại thực hiện các công việc nghiệp vụ pháp lý. Thư
ký nghiệp vụ Thừa phát lại phải có các tiêu chuẩn như: là công dân
13
Việt Nam, có sức khỏe, có phẩm chất đạo đức tốt; không có tiền án,
có bằng cử nhân Luật, không kiêm nhiệm hành nghề Công chứng,
Luật sư và những công việc khác theo quy định của pháp luật.
2.1.3. Đoàn Thừa phát lại
Đoàn Thừa phát lại là một tổ chức nghề nghiệp của Thừa phát lại,
và được thành lập tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khi
có từ hai Thừa phát lại trở lên đăng ký thành lập. Ủy ban Nhân dân
thuận việc tống đạt phải do chính Thừa phát lại thực hiện
Việc tống đạt văn bản của cơ quan Tòa án và cơ quan Thi hành
án dân sự được coi là hoàn thành khi đã được thực hiện theo đúng
quy định.
Chi phí cho việc tống đạt được thực hiện theo sự thỏa thuận giữa
văn phòng Thừa phát lại với các cơ quan có yêu cầu.
2.2.2. Lập vi bằng theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức
Vi bằng là văn bản do Thừa phát lại lập, ghi nhận sự kiện, hành
vi được dùng làm chứng cứ trong xét xử và trong các quan hệ pháp
luật khác. Thừa phát lại có quyền lập vi bằng đối với các sự kiện,
hành vi theo yêu cầu của đương sự, trừ các trường hợp vi phạm quy
định về bảo đảm an ninh, quốc phòng, đời tư, đạo đức xã hội và các
trường hợp pháp luật cấm.
Vi bằng vừa có giá trị pháp lý làm chứng cứ để Tòa án xem xét
khi giải quyết vụ án, vừa là căn cứ để thực hiện các giao dịch hợp
pháp khác. Vi bằng phải được lập thành văn bản bằng tiếng Việt và
được đăng ký tại Sở Tư pháp thành phố theo quy định.
2.2.3. Xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của đương
sự
Theo quy định của pháp luật thì người được thi hành án phải cung
cấp kết quả xác minh điều kiện thi hành án, tức là phải chứng minh
người phải thi hành án có tài sản để thi hành án khi yêu cầu thi hành
án.
15
Người được thi hành án ngoài việc tự mình phải xác minh điều
kiện của người phải thi hành án còn có thể yêu cầu Thừa phát lại thực
hiện công việc này.
Thừa phát lại có thẩm quyền như Chấp hành viên của cơ quan Thi
CỦA TỔ CHỨC THỪA PHÁT LẠI TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH
3.1. Thực trạng về hoạt động của Thừa phát lại tại thành phố
Hồ Chí Minh
Với số lượng 11 văn phòng Thừa phát lại trên 24 quận, huyện
(văn phòng Thừa phát lại Quận 1, Quận 5, Quận 8, Quận 10, Quận
Gò Vấp, Quận Bình Thạnh, Quận Tân Bình, Quận Bình Tân, Quận
Thủ Đức, Huyện Hóc Môn, Huyện Bình Chánh), trong đó có 7 văn
phòng hoạt động theo loại hình công ty hợp danh và 4 văn phòng
hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân. Tại 11 văn phòng này,
hiện có 46 Thừa phát lại hành nghề, 76 Thư ký nghiệp vụ Thừa phát
lại, 75 nhân viên khác, so với tổng số trên 10 triệu dân của thành phố
thì có vẽ lực lượng này còn khá khiêm tốn.
3.1.1.Về thực hiện việc tống đạt theo yêu cầu của Tòa án và cơ
quan thi hành án dân sư:
Giai đoạn 2011- 2016 đã thực hiện tống đạt 553.972 văn bản với
tổng chi phí tống đạt là 39.946.793.000 đồng; trong đó thực hiện tống
đạt văn bản của Tòa án là 378.525 văn bản, chi phí tống đạt thu được
là 27.463.043.000 đồng; thực hiện tống đạt văn bản của cơ quan Thi
hành án dân sự là 175.447 văn bản, chi phí tống đạt thu được là
12.483.750.000 đồng.
Hiện nay, trên địa bàn Thành phố được thống nhất thỏa thuận giữa
các cơ quan và các văn phòng Thừa phát lại là phân chia theo địa hạt.
Chi phí cho việc tống đạt đối với trường hợp sử dụng ngân sách
Nhà nước để chi trả thì hiện nay là không hợp lý, không đảm bảo chi
phí cho việc tống đạt.
17
3.1.2. Về thực hiện lập vi bằng theo yêu cầu của cá nhân, cơ
việc này, vì chỉ có 02 trong tổng số 418 vụ việc yêu cầu xác minh là
không xác minh được. Các vụ việc xác minh được của Thừa phát lại
đã hỗ trợ kịp thời và hiệu quả cho người yêu cầu trong việc bảo vệ
quyền và lợi ích của họ khi thi hành án.
Trong quá trình xác minh điều kiện thi hành án trên địa bàn
Thành phố, Thừa phát lại vẫn còn vướng trong trường hợp thực hiện
việc xác minh nhưng lại không có thẩm quyền áp dụng các biện pháp
ngăn chặn.
3.1.4. Về thực hiện trực tiếp tổ chức thi hành các bản án quyết
định của Tòa án theo yêu cầu của đương sự
Trong giai đoạn 2011 – 2016, các văn phòng Thừa phát lại đã thụ
lý 213 vụ việc thi hành theo yêu cầu của đương sự, trong đó có 156
vụ việc đã chấm dứt thi hành; với giá trị thi hành án về tiền là
620.635.727.590 đồng và 18 lượng vàng; doanh thu (gồm: chi phí thi
hành án theo quy định và khoản thu khác theo thỏa thuận) là
3.537.768.426 đồng. Nếu so sánh với số lượng thi hành án của các cơ
quan Thi hành án tương ứng với các văn phòng Thừa phát lại ở các
quận, huyện thì có độ chênh lệch rất lớn (6.009 vụ việc với
1.812.831.909.099 đồng).
Lĩnh vực tổ chức thi hành án là lĩnh vực hết sức khó khăn. Muốn
thi hành án phải xây dựng kế hoạch và được duyệt của Cục Trưởng
Thi hành án dân sự, có huy động lực lượng,..
Đối với trường hợp tổ chức cưỡng chế thi hành án có huy động
lực lượng của Thừa phát lại, có quy định cụ thể về trách nhiệm của
người phê duyệt kế hoạch cưỡng chế và ra quyết định cưỡng chế thi
hành án khi toàn bộ thủ tục thi hành án lại do Thừa phát lại thực hiện,
điều này gây ảnh hưởng tâm lý không nhỏ đến người phê duyệt kế
hoạch cưỡng chế (Cục Trưởng thia hành án dân sự). Đồng thời, nếu
trong quá trình thực hiện cưỡng chế phát sinh các tình huống ảnh
trong thị trường cung cấp dịch vụ pháp lý, huy động được nguồn lực
20
xã hội về nhân lực và tài chính, tạo công ăn việc làm cho người lao
động, tận dụng được chất xám của đội ngũ trí thức, luật gia,..
Hoạt động của Thừa phát lại góp phần thúc đẩy ổn định, trật tự
trong giao lưu dân sự, kinh tế thông qua hoạt động lập vi bằng, tạo
lập chứng cứ giúp chủ động bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá
nhân, tổ chức và cho hoạt động xét xử của Tòa án.
3.2.2. Những hạn chế về hoạt động của tổ chức Thừa phát lại
3.2.2.1. Hạn chế về nhận thức của người dân, xã hội và các cơ
quan Nhà nước về tổ chức Thừa phát lại
Trên thực tế hiện nay nhận thức của các cơ quan, cán bộ, công
chức vẫn chưa đầy đủ về chế định Thừa phát lại. Do đó, việc phối
hợp, hỗ trợ giữa tổ chức Thừa phát lại và các cơ quan hữu quan hiện
nay chưa thật sự thống nhất.
Còn tình trạng lấy lý do “Luật chuyên ngành không có quy định”
đề từ chối thực hiện. Điều này đã dẫn đến những khó khăn nhất định
cho hoạt động của tổ chức Thừa phát lại hiện nay.
3.2.2.2. Hạn chế về công tác thông tin tuyên truyền
Vẫn còn tình trạng một số cơ quan Nhà nước, cán bộ, công chức
chưa thông suốt về tư tưởng đối với chế định Thừa phát lại; vẫn còn
một bộ phận người dân chưa biết nhiều, thậm chí chưa yên tâm sử
dụng dịch vụ do Thừa phát lại cung cấp.
3.2.2.3. Hạn chế về văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh cho
hoạt động của Thừa phát lại
Việc các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn còn chậm, ít có
văn bản hướng dẫn, chưa có Luật về Thừa phát lại.
Ngoài ra, các văn bản quy phạm pháp luật về tổ chức và hoạt
cần cho phép việc ủy quyền hay phối hợp thực hiện xác minh điều
kiện thi hành án giữa các văn phòng Thừa phát lại; cho phép người
được thi hành án nếu không thống nhất với kết quả xác minh của
Chấp hành viên thì vẫn có quyền yêu cầu yêu cầu Thừa phát lại xác
minh lại, bổ sung; Về trực tiếp tổ chức thi hành án, cần có quy định
22
cụ thể về phương án xử lý và thủ tục chuyển giao giữa Thừa phát lại
và cơ quan Thi hành án dân sự trong việc phối hợp xử lý tài sản của
người phải thi hành án trong một vụ án có nhiều đương sự.
- Cần tập trung xây dựng quy hoạch về việc thành lập các Văn
phòng Thừa phát lại ở những địa phương chưa có Văn phòng.
- Cần thiết trong thời gian tới là nên ban hành Luật về tổ chức
Thừa phát lại, cũng như ban hành các Quy tắc đạo đức hành nghề để
đảm bảo hiệu lực pháp lý đối với hoạt động Thừa phát lại.
- Cần mở rộng, giao quyền nhiều hơn ở lĩnh vực kinh tế, dân sự và
hôn nhân gia đình. Từng bước bỏ hẳn tổ chức Thi hành án Dân sự
nhằm đáp ứng chủ trương tinh giảm biên chế trong hệ thống cơ quan
công quyền, giảm chi phí ngân sách Nhà nước.
Kết luận chương 3
Ở chương này tác giả nêu thực trạng về hoạt động của tổ chức
Thừa phát lại tại Thành phố Hồ Chí Minh có minh chứng bằng các số
liệu cụ thể để so sánh, đánh giá, phân tích nhằm khẳng định sự vai trò
cần thiết của Thừa phát lại. Qua đó, đánh giá những tác động tích cực
của tổ chức Thừa phát lại đối với kinh tế, xã hội, các cơ quan tư pháp
và đối với người dân; bên cạnh đó, cũng chỉ ra các mặt hạn chế, các
vấn đề còn tồn tại về thực tiễn và sự điều chỉnh của các văn bản quy
phạm pháp luật về Thừa phát lại.