ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TẠ LAN PHƢƠNG
NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG
CỦA CÁC CHẾ ĐỘ NƢỚC TỚI SINH TRƢỞNG,
PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT LÚA AN DÂN 11
TẠI XÃ XUÂN PHƢƠNG HUYỆN PHÚ BÌNH,
TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
THÁI NGUYÊN - 2015
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TẠ LAN PHƢƠNG
NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG
CỦA CÁC CHẾ ĐỘ NƢỚC TỚI SINH TRƢỞNG,
PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT LÚA AN DÂN 11
TẠI XÃ XUÂN PHƢƠNG HUYỆN PHÚ BÌNH,
TỈNH THÁI NGUYÊN
Ngành: Khoa học cây trồng
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập và thực hiện đề tài này, tôi đã nhận được sự
quan tâm giúp đỡ của Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên,
Khoa sau đại học, các thầy giáo, cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp, cơ quan và
gia đình.
Trước tiên tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo
PGS.TS. Hoàng Văn Phụ - người hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ tôi
trong quá trình hoàn thành luận văn này.
Đồng thời tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới toàn thể các thầy, cô giáo trong
Phòng Đào tạo, các thầy giáo, cô giáo giảng dạy chuyên ngành, Phòng thí
nghiệm trung tâm Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã giúp đỡ hoàn
thiện bản luận văn này.
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất tới tất cả bạn
bè, đồng nghiệp, cơ quan, gia đình và người thân đã quan tâm động viên tôi
trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Tạ Lan Phương
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................... i
iv
2.3. Phương pháp nghiên cứu ....................................................................... 30
2.3.1. Các chỉ tiêu theo dõi ........................................................................... 32
2.3.2. Phương pháp theo dõi và phân tích mẫu ............................................. 33
2.4. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu ................................................. 38
Chƣơng 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ...................... 39
3.1. Điều kiện thời tiết khí hậu, thời tiết của Thái Nguyên ............................ 39
3.2. Ảnh hưởng của các chế độ nước khác nhau đến sinh trưởng của giống
lúa An dân 11 trong điều kiện vụ mùa 2014 tại xã Xuân Phương,
huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên...................................................... 42
3.2.1. Thời gian sinh trưởng (TGST) ............................................................ 42
3.2.2. Ảnh hưởng của các chế độ nước khác nhau đến chiều cao cây và
khả năng chống đổ đến giống lúa An dân 11 ...................................... 43
3.2.3. Khả năng đẻ nhánh của giống lúa An dân 11 ...................................... 45
3.2.4. Ảnh hưởng của các chế độ nước khác nhau đến sinh trưởng của bộ rễ ..... 49
3.2.5. Ảnh hưởng của các chế độ nước khác nhau đến trọng lượng khô của
bộ rễ lúa ............................................................................................. 53
3.2.6. Ảnh hưởng của các chế độ nước khác nhau đến khả năng tích lũy
vật chất khô thân, lá, bông và toàn khóm ............................................ 59
3.3. Ảnh hưởng của các chế độ nước khác nhau đến khả năng chống chịu
sâu bệnh ............................................................................................. 61
3.4. Ảnh hưởng của các chế độ nước khác nhau đến các yếu tố cấu thành
năng suất và năng suất giống lúa An dân 11 - vụ mùa 2014 ................ 63
3.5. Ảnh hưởng của các chế độ nước khác nhau đến dung trọng đất. ................. 67
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ........................................................................ 69
1. Kết luận .................................................................................................... 69
2. Đề nghị ..................................................................................................... 70
: Viện nghiên cứu lúa Quốc tế
NLP
: Nông lộ phơi
NSLT
: Năng suất lý thuyết
NSTT
: Năng suất thực thu
TGST
: Thời gian sinh trưởng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1.
Trung bình diễn biến thời tiết khí hậu Thái Nguyên qua các
năm từ 2005 - 2014. .................................................................. 39
Ảnh hưởng của các chế độ nước khác nhau tới khả năng tích
luỹ vật chất khô lá, thân, bông và toàn khóm giống lúa An dân
11 vụ mùa 2014 ......................................................................... 59
Bảng 3.9.
Năng suấ t và các yế u tố cấ u thành năng suấ t ............................. 64
Bảng 3.10. Ảnh hưởng của các chế độ nước đến dung trọng đất ................. 67
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
vii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1.
Diễn biến khí hậu Tỉnh Thái Nguyên từ năm 2005 - 2014 ......... 40
Hình 3.2. Động thái đẻ nhánh của giống An Dân 11 .................................. 47
Hình 3.3. Ảnh hưởng của các chế độ nước khác nhau đến đường kính
rễ lúa .......................................................................................... 50
Hình 3.4. Ảnh hưởng của các chế độ nước khác nhau đến chiều dài
rễ/m2 ........................................................................................... 53
Hình 3.5. Biểu đồ khả năng tích lũy chất khô rễ/khóm An dân 11 giai
đoạn trỗ vụ mùa 2014 ................................................................. 57
châu Á sẽ giảm tới 15% đến 54% so với năm 1990. Tình trạng suy kiệt nguồn
nước trong hệ thống sông, hạ lưu các hồ chứa trên cả nước và nước dưới đất ở
nhiều vùng đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng. Nguyên nhân là do tác động
của biến đổi khí hậu dẫn đến lượng mưa hàng năm ngày càng có xu hướng
giảm, nhiệt độ đang có xu hướng ngày càng tăng lên dẫn đến lượng bốc hơi
nước cũng tăng theo. Rừng bị tàn phá và cháy rừng, đã làm diện tích và độ
che phủ trong những năm gần đây giảm mạnh dẫn đến giảm khả năng dự trữ
và điều tiết nước. Sự phát triển của đô thị hóa ngày càng nhanh, trong khi đó
nguồn nước đang đối mặt với nguy cơ ô nhiễm. Đối với nước cho nông
nghiệp, sự suy giảm về lượng nước dành cho tưới càng nhanh hơn do sự cạnh
tranh khốc liệt của các ngành kinh tế sử dụng nước khác như công nghiệp, cấp
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
2
nước cho đô thị, nuôi trồng thủy sản... Vì những ngành này có mức độ ưu tiên
cao hơn, do sự cần thiết hơn hay lợi nhuận cao hơn. Một trong những giải pháp
nhằm khai thác sử dụng nước bền vững tài nguyên nước là sử dựng nước hợp
lý và tiết kiệm, sử dụng nước hiệu quả trong nông nghiệp sẽ là định hướng
mang tính chất lâu dài.
Vì những lý do này, việc tiết kiệm nguồn nước và tăng cường hệ số sử
dụng nước cho lúa là việc làm cần thiết mang tính chiến lược. Vì vậy, chúng
tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của các chế độ
nước tới sinh trưởng, phát triển và năng suất lúa An dân 11 tại xã Xuân
Phương huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên”.
2. Mục tiêu của đề tài
Nghiên cứu ảnh hưởng của các chế độ tưới nước đến sinh trưởng, phát
4
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Nước là tài nguyên có ý nghĩa quyết định đối với sự sống và phát triển
của con người và xã hội loài người [2].
Nước có vai trò quan trọng trong đời song cây trồng nói chung, nước là
thành phần chủ yếu cấu tạo cơ thể và giúp các quá trình sinh lý và sinh hóa
diễn ra bình thường. Nước đóng vai trò quan trọng trong quá trình quang hợp
để tổng hợp chất hữu cơ của cây lúa. Đây là quá trình hấp thụ và chuyển
quang năng thành hóa năng tích trữ trong các phân tử carbonhydrate.
Ngoài ra, nước còn là điều kiện ngoại cảnh không thể thiếu đối với cây
lúa. Nước có tác dụng điều hòa tiểu khí hậu trong ruộng, tạo điều kiện cho
việc cung cấp dưỡng chất, làm giảm nhiệt độ, muối, phèn, độc tố và cỏ dại
trong ruộng lúa.
Trong canh tác lúa, nước là yếu tố đầu tiên ảnh hưởng đến quá trình sinh
trưởng, phát triển và năng suất lúa. Theo Goutchin, 2010 để tạo được một đơn
vị thân lá cây lúa cần 400 - 450 đơn vị nước, con số tương tự đối với hạt là
300 - 350 [8]. Cây lúa rất cần nước, tuy nhiên mỗi giai đoạn cây lúa lại có nhu
cầu khác nhau về nước. Ở ruộng không bị ngập nước, không khí trong đất đầy
đủ nên rễ hô hấp thuận lợi, sinh trưởng mạnh và cây lúa phân nhánh nhiều. Ở
ruộng nước đất thiếu không khí cây phải hút oxy từ trên không nhờ các bộ
phận trên mặt đất để vận chuyển đến rễ làm cho rễ lúa hô hấp được thuận lợi.
Ruộng nước nếu thiếu oxy rễ sinh trưởng kém, ăn nông, phát triển theo chiều
ngang. Do đó cây hút kali và silic kém.
Cần phải tìm ra những giải pháp để tăng tính hiệu quả sử dụng nguồn
nước (bao gồm cả nước tưới tiêu và nước mưa) trong nông nghiệp.
1.2. Thực trạng áp dụng canh tác lúa theo SRI ở Việt Nam
Thực trạng áp dụng canh tác lúa theo SRI ở Việt Nam Theo thống kê
của Cục BVTV (Bộ NN-PTNT), đến năm 2014 đã có 29 tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương ứng dụng canh tác lúa theo SRI. Ngoài ra, một số tổ chức
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
6
phi chính phủ Quốc tế cũng hỗ trợ cho nông dân nghèo ở một số tỉnh ĐBSCL
áp dụng SRI. Tổng diện tích áp dụng SRI trên toàn quốc hiện nay là 394.894
ha, trong đó áp dụng trên lúa gieo thẳng 42.403 ha, canh tác SRI từng phần
361.930 ha, SRI toàn phần 32.964 ha (chiếm khoảng 8% tổng diện tích ứng
dụng SRI). Đến nay, diện tích áp dụng canh tác SRI toàn phần còn tương đối
khiêm tốn, đây có thể là nguyên nhân dẫn đến hiệu quả của SRI ở Việt Nam
chưa cao bằng so với một số khu vực khác trên thế giới. Một trong các
nguyên nhân diện tích canh tác SRI toàn phần chưa cao là do điều kiện hạ
tầng, kỹ thuật tưới chưa được quan tâm đầu tư xây dựng, nghiên cứu đầy đủ.
Theo đánh giá, các yêu cầu về hạ tầng, áp dụng kỹ thuật tưới để triển khai
canh tác SRI toàn phần gồm: Thứ nhất, có khu đồng ruộng tương đối rộng để
canh tác đồng bộ SRI (từ 5 -10 ha trở lên), điều kiện hạ tầng tốt, bao gồm
ruộng đất bằng phẳng, nguồn nước chủ động, hệ thống tưới, tiêu hoàn chỉnh.
Các yêu cầu trên để tạo điện kiện áp dụng tưới theo phương pháp ướt - khô
xen kẽ, duy trì đồng đều mực nước trong ruộng chỉ từ 1 - 2 cm, thực hiện lịch
tưới, tiêu đồng thời cho toàn khu ruộng; Thứ hai, có sự phối hợp tốt giữa
người sử dụng nước (người dân, doanh nghiệp trồng lúa), người cung cấp
của Tổng cục Thủy lợi, các nội dung được hướng dẫn có thể xem xét để phục
vụ canh tác SRI. Nhìn chung, cơ sở khoa học, các tiêu chuẩn, quy chuẩn,
hướng dẫn canh tác SRI tương đối đầy đủ. Tuy nhiên, để hoàn thiện, hỗ trợ
các địa phương, doanh nghiệp thúc đẩy canh tác SRI, cần bổ sung thêm
hướng dẫn kỹ thuật về bố trí, xây dựng cơ sở hạ tầng cho canh tác SRI, trọng
tâm là các nội dung liên quan đến kỹ thuật san phẳng ruộng, bố trí hệ thống
kênh tưới, tiêu và hướng dẫn kỹ thuật tưới ướt - khô xen kẽ, phù hợp với canh
tác từng vùng, miền...
1.3. Tình hình tƣới nƣớc cho lúa trên thế giới và Việt Nam
Khan hiếm nguồn nước hiện đã trở thành một thực trạng đe dọa khoảng
62 tỷ người trên thế giới. Nhiệt độ tăng cao do tác động của biến đổi khí hậu
sẽ làm tăng nhu cầu về nước cho hoạt động trồng trọt. Vì thế, sự khan hiếm
nước càng trở nên nghiêm trọng hơn. Tính đến năm 2025, sẽ có 15-20 triệu
hec-ta trong tổng số 79 triệu hec-ta diện tích trồng lúa cần được tưới tiêu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
8
(cung cấp 3/4 tổng nguồn cung lúa gạo cho thế giới) sẽ bị khan hiếm về
nguồn nước [33]. Cũng theo ước tính, đến năm 2015, để xóa đói và suy dinh
dưỡng cho dân số thế giới, cần có lượng nước ngọt bổ sung tương đương với
lượng nước ngọt hiện đang được sử dụng phục vụ ngành nông nghiệp, công
nghiệp và sinh hoạt hộ gia đình [28].
Cần phải tìm ra những giải pháp để tăng tính hiệu quả sử dụng nguồn
nước (bao gồm cả nước tưới tiêu và nước mưa) trong nông nghiệp.
SRI là giải pháp tối ưu nhất cho người nông dân và các quốc gia
nhằm thúc đẩy sự phát triển trong sản xuất nông nghiệp dựa vào cộng đồng.
ích của SRI là "lúa gạo nhiều hơn, thu nhập cao hơn, ít tiêu tốn nước hơn”, cụ
thể: sản lượng tăng 47%, nước tiết kiệm 40%, giảm chi phí trên mỗi hecta là
23% và tăng thu nhập là 68%/hecta [20].
Hệ thống canh tác lúa cải tiến SRI đã được Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn Việt Nam công nhận là một tiến bộ kỹ thuật mới và đã áp
dụng tại 22 tỉnh thành của Việt Nam kể từ năm 2003. Kết quả của hệ thống
này hứa hẹn về mặt hiệu quả kinh tế cũng như sản xuất nông nghiệp bền
vững. Mục đích chính của SRI là phát triển một hệ thống sản xuất lúa bền
vững bao gồm nhóm các ý tưởng. Nguyên tắc và các ứng dụng thực tiễn dựa
trên quản lý hiệu quả việc canh tác lúa để tối đa hóa năng suất. SRI đã được
thử nghiệm thành công trong những điều kiện đa dạng tại một số địa phương
ở Việt Nam, đặc biệt là những hộ nông dân có ít ruộng. Người dân, các cán bộ
nông nghiệp và các nhà nghiên cứu đã nhận thấy rằng SRI tạo ra sản lượng
cao hơn cũng nhờ giảm nhu cầu của vật tư đầu vào, như giảm phân bón hóa
học, thuốc trừ sâu, nước tưới. SRI cũng làm cho đất giữ được độ phì nhiêu và
bảo vệ môi trường khỏi ô nhiễm.
Trong quá trình sinh trưởng, phát triển của cây lúa, rễ đóng vai trò rất
quan trọng, nó là cơ quan hút dinh dưỡng và vận chuyển chất dinh dưỡng nuôi
cây. Rễ lúa thuộc loại rễ chùm, có cấu tạo sơ cấp, sau khi lúa nảy mầm, rễ
mầm xuất hiện, tồn tại 5-7 ngày rồi rụng đi. Từ các đốt trên thân mọc ra các rễ
phụ, phát triển nhanh tạo thành rễ chùm, ăn nông.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
10
Số lượng và trọng lượng rễ tăng dần theo thời gian sinh trưởng từ cấy, đẻ
nhánh, làm đòng và đạt cao nhất lúc trỗ bông, sau đó giảm dần đến khi lúa
11
lên, rễ lại phát triển sâu xuống tầng đất dưới nên lúc này hệ rễ có hình quả
trứng để lộn ngược. Hình dạng của hệ rễ ngoài ảnh hưởng của tính di truyền
còn phụ thuộc nhiều vào nhiệt độ đất, chiều sâu của lớp đất cày và tình hình
bón phân, sự phân bố của phân bón [18].
Rễ cây lúa chủ yếu phát triển ở nơi mà rễ thấy có ẩm và nhiều chất
dinh dưỡng. Chúng ta có thể làm cho rễ ăn sâu và đều khi rải phân ở những
lớp đất khác nhau, mục đích là làm cho rễ sử dụng được một khối lượng
dinh dưỡng lớn nhất. Ngược lại rễ cây có khuynh hướng chỉ tập trung nhiều
ở trên mặt khi có các nguyên tố dinh dưỡng ở đó, và như vậy sẽ làm cho
cây trồng dễ bị hạn hơn [18].
1.3.1. Tình hình tưới nước cho lúa trên thế giới
Trên thế giới hiện nay có khoảng 3,5 tỷ người được cung cấp từ 35 đến
60% lượng calo hàng ngày từ nguồn lương thực chính là lúa gạo. Về khả năng
thích nghi, lúa là cây lương thực có thể thích ứng rộng về điều kiện thủy văn,
loại hình đất đai và khí hậu. Tuỳ thuộc và điều kiện thủy văn, nguồn nước, sự
cung cấp nước cho cây lúa có thể chia làm hai loại: Có tưới và phụ thuộc
nước mưa. Kết quả điều tra cho thấy, hơn 70% sản lượng gạo xuất phát từ
phần diện tích được tưới nước (chủ yếu từ các nước châu Á). Đây là khu vực
có nguồn nước được coi là dồi dào nên nghề trồng lúa rất phát triển [17]. Tuy
vậy, theo đánh giá của nhiều chuyên gia, nước đang ngày càng trở nên khan
hiếm. Đến năm 2025, lượng nước cung cấp tính theo đầu người của khu vực
châu Á dự đoán có thể bị giảm từ 15% đến 54% so với năm 1990 (Gueưa,
1998). Thống kê của các chuyên gia thuộc tổ chức Khí tượng thế giới và cơ
quan phát triển Liên hợp quốc (UNDP), châu Á là vùng bị thiếu nước nặng nề
dẫn tới hạn hán hàng năm rất nghiêm trọng. Trung Quốc là một trong những
nước sẽ thiếu nước trầm trọng. Mặc dù áp dụng nhiều biện pháp tưới tiết kiệm
nước nhưng vẫn bị thiếu nước cho nông nghiệp dẫn tới thiếu lương thực. Hậu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
vụ và bảo vệ sản xuất, phát triển đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
Về tưới, đến nay đã có 104.548 công trình thủy nông lớn, vừa và nhỏ phục vụ
tưới cho tổng diện tích 2.065.062 ha canh tác (theo thiết kế) [1]. Trong đó hồ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
13
chứa vừa và lớn có 743 hồ, trạm bơm điện có 1796 trạm bơm, đập dâng có
1.017 cái, cống lấy nước có 4716 cái [10]. Xét về tỷ lệ diện tích canh tác được
tới, Việt Nam có tỷ lệ diện tích canh tác được tưới là 52% [10], cao hơn nhiều
so với các nước trên thế giới và khu vực. Đạt được kết quả trên là do có
đường lối đúng đắn của Đảng, sự đầu tư lớn của Nhà nước và sự đóng góp to
lớn của nhân dân liên tục trong nhiều thập kỷ qua. Về tỷ lệ các hộ sử dụng
nước, Việt Nam có tỷ lệ nước dùng cho tưới thuộc vào loại cao nhất trên thế
giới, chiếm tới 95% tổng lượng nước dùng của cả nước. Theo dự đoán của các
chuyên gia, đến năm 2025, nhu cầu dùng nước cho các ngành kinh tế của Việt
Nam vào khoảng 90 tỷ m3, chiếm 10,8% lượng nước chảy vào lãnh thổ Việt
Nam và chiếm 27% lượng nước sản sinh ra trên lãnh thổ, đây là tỷ lệ quá cao
so với khuyến cáo của các nhà khoa học trên thế giới.
1.4. Tình hình nghiên cứu về tƣới nƣớc tiết kiệm cho lúa trên thế giới và
Việt Nam
1.4.1. Tình hình nghiên cứu về tưới nước tiết kiệm cho lúa trên thế giới
Trong nhiều năm qua tình trạng thiếu nước phục vụ cho sản xuất nông
nghiệp đã gây sức ép lên hệ thống sản xuất lúa gạo, một trong nhưng cây
trồng tiêu tốn nhiều lượng nước nhất, theo tính toán lượng nước cần cung cấp
cho lúa cao gấp 3 - 4 lần so với các loại cây trồng thuộc họ hòa thảo khác.
Việc cắt giảm khoảng 10% lượng nước cho hệ thống canh tác lúa gạo sẽ cung
Trong 60 ngày đầu (sau khi cấy đến kết thúc đẻ nhánh), tất cả các ô
ruộng thí nghiệm được duy trì một lớp nước 50 mm. Sau đó các ô được tách
ra làm 3 nhóm với mức tưới mỗi nhóm là 2 mm/ngày; 4 mm/ngày và 6
mm/ngày; 5 ngày tưới một lần. Kết quả cho thấy trong thời gian thí nghiệm,
độ ẩm đồng ruộng trên tất cả các ô mộng thí nghiệm không giảm xuống dưới
50% sức chứa ẩm tối đa đồng ruộng. Ở mức tưới 2mm/ngày, năng suất lúa bị
giảm không đáng kể so với tưới ngập liên tục.
- Vụ khô năm 1969
Các thí nghiệm được mở rộng và thay đổi mức tưới áp dụng ngay sau khi
gieo cấy với mức tưới các nhóm ô thay đổi từ 8mm/ngày đến 2mm/ngày, cứ 5
ngày tưới một lần. Kết quả cho thấy ở mức tưới 7mm/ngày trở lên năng suất
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
15
lúa không giảm. Ở mức tưới 6 mm ngày trở xuống, năng suất lúa giảm rõ rệt.
Năng suất bằng không ở mức tưới 4mm/ngày.
Một số các nghiên cứu khác do Bhuiyan và Tuong tiến hành năm 1995
[24], kết quả cho thấy, đối với luá nước, không cần phải luôn luôn duy trì một
lớp nước trên ruộng nhằm đạt năng suất tối đa. Với biện pháp tưới nông lộ
phơi hợp lý áp dụng ngay từ đầu vụ gieo cấy, có thể giảm được lượng nước
tưới tối đa từ 40% đến 45% so với tưới ngập liên tục. Tuy nhiên phương pháp
này có nhược điểm là không hạn chế được cỏ dại. Có thể khắc phục hạn chế
của biện pháp này bằng việc áp dụng công thức tưới nông lộ phơi sau khi gieo
cấy từ 35 đến 40 ngày (khi tán lúa đã phủ kín mặt đất). Trong trường hợp này
có thể tiết kiệm được lượng nước tối đa từ 25 đến 35%.
* Các nghiên cứu ở Mỹ
được lượng nước mưa hiệu quả.
* Các nghiên cứu ở Nhật Bản
Phơi ruộng vào giữa giai đoạn sinh trưởng của lúa được công nhận là
yếu tố tăng năng suất lúa ở Nhật Bản. Biện pháp này đã được áp dụng từ
những năm cuối của thập kỷ 60 và ngày nay đã trở thành phổ biến ở Nhật
Bản. Tuy nhiên việc nghiên cứu tưới NLP mới được các nhà khoa học Nhật
Bản quan tâm nghiên cứu từ những năm đầu của thập kỷ 90 của thế kỷ 20.
Đáng chú ý là các nghiên cứu của Anbumozhi và các cộng sự được tiến hành
vào năm 1998. Bằng biện pháp tưới NLP với lớp nước mặt ruộng tối đa là 90
mm, áp dụng 30 ngày sau khi cấy. Kết quả như sau [21]:
- Năng suất lúa không giảm so với tưới ngập.
- Chỉ số sản phẩm lúa trên một đơn vị nước của phương pháp tưới nông
lộ phơi là 1.26kg/m3 so với 0.96kg/m3 của phương pháp tưới ngập.
- Việc tiết kiệm nước mà không làm giảm năng suất có thể thực hiện
được khi duy trì một chế độ nước trong điều kiện ngập-lộ hợp lý.
* Các nghiên cứu ở Ấn Độ
Ấn Độ là quốc gia có diện tích trồng lúa lớn nhất trên thế giới, và đứng
thứ hai về sản lượng lúa gạo sau Trung Quốc. Hơn một nửa diện tích trồng lúa
nước, cung cấp hơn 75% sản lượng lúa gạo, đã tiêu tốn hết 50-60% nguồn
nước ngọt rất hạn chế của đất nước này. Dân số Ấn Độ được dự kiến sẽ tăng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN