VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VÕ HOÀNG PHÚ
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BỒI DƯỠNG CHÍNH TRỊ
CHO CÔNG CHỨC CẤP CƠ SỞ TỪ THỰC TIỂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI - 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VÕ HOÀNG PHÚ
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BỒI DƯỠNG CHÍNH TRỊ
CHO CÔNG CHỨC CẤP CƠ SỞ TỪ THỰC TIỂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã Số: 60 34 04 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. TRẦN KHÁNH ĐỨC
1.4. Các nhân tố tác động đến thực hiện chính sách bồi dưỡng chính trị cho
công chức cấp cơ sở ........................................................................................ 35
1.4.1. Yếu tố khách quan ............................................................................. 35
1.4.2. Yếu tố chủ quan ................................................................................. 37
Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BỒI DƯỠNG
CHÍNH TRỊ CHO CÔNG CHỨC CẤP CƠ SỞ TẠI THÀNH PHỐ HỒ
CHÍ MINH ..................................................................................................... 40
2.1. Đặc điểm kinh tế - xã hội và đội ngũ cán bộ cấp cơ sở tại thành phố Hồ
Chí Minh ......................................................................................................... 40
2.2. Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách bồi dưỡng chính trị cho công
chức cấp cơ sở tại thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2010-2015 .................. 41
2.2.1. Thực trạng xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách bồi
dưỡng chính trị cho công chức cấp cơ sở ................................................... 41
2.2.2. Thực trạng tuyên truyền, phổ biến chính sách .................................. 44
2.2.3. Thực trạng phân công, phối hợp tổ chức thực hiện chính sách ....... 46
2.2.4. Thực trạng duy trì chính sách ........................................................... 54
2.2.5. Thực trạng điều chỉnh chính sách ..................................................... 55
2.2.6. Thực trạng theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách ... 55
2.2.7. Thực trạng đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm ................................ 55
2.3. Kết quả thực hiện chính sách bồi dưỡng chính trị cho công chức cấp cơ
sở tại thành phố Hồ Chí Minh ......................................................................... 56
2.4. Đánh giá chung việc thực hiện chính sách bồi dưỡng chính trị cho công
chức cấp cơ sở tại thành phố Hồ Chí Minh..................................................... 57
2.4.1. Ưu điểm ............................................................................................. 57
2.4.2. Hạn chế ............................................................................................. 58
2.4.3. Nguyên nhân của hạn chế ................................................................. 59
Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BỒI DƯỠNG
Trong bối cảnh thế giới ngày càng phức tạp, các thế lực thù địch luôn
lợi dụng mọi cơ hội, len sâu vào nội bộ, chống phá cách mạng Việt Nam.
Nâng cao trình độ cho đội ngũ công chức cấp cơ sở, trong đó có trình độ lý
luận chính trị, là một trong những nhiệm vụ then chốt, góp phần xây dựng hệ
thống chính trị ở cơ sở trong sạch, vững mạnh; triển khai hiệu quả đường lối,
chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống.
Việc bồi dưỡng chính trị phải trở thành nhiệm vụ thường xuyên, là yếu tố
then chốt nhằm triển khai các nội dung về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn
Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống,
những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ, nhất là trong
việc ngăn chặn hiện tượng lười học lý luận chính trị, một biểu hiện rất đáng
quan ngại, nếu không được ngăn chặn kịp thời, sự suy thoái đó sẽ dễ dàng dẫn
đến nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo,
quản lý.
Phường, xã, thị trấn là đơn vị hành chính cấp cơ sở, nơi thực hiện trực
tiếp và cụ thể các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Vì vậy, việc quan tâm xây dựng đội ngũ công chức ở cơ sở phường, xã, thị
trấn (gọi tắt là công chức cấp cơ sở) có đủ phẩm chất, năng lực, trình độ lý
luận chính trị là nhiệm vụ thường xuyên, có ý nghĩa hết sức quan trọng cả
trước mắt cũng như lâu dài trong sự nghiệp cách mạng của Đảng. Cấp
phường, xã, thị trấn luôn có vị trí rất quan trọng trong bộ máy chính quyền
của nước ta. Bảo đảm việc chấp hành các chủ trương, đường lối của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước, quyết định của Nhà nước, Chính quyền
cấp trên; đội ngũ công chức cấp cơ sở có một vai trò rất quan trọng, là lực
lượng nòng cốt, điều hành hoạt động của bộ máy tổ chức chính quyền cấp
phường, xã, thị trấn. Vì vậy, đội ngũ cán bộ công chức của hệ thống chính trị
cấp phường, xã, thị trấn là một trong những nhân tố có ý nghĩa chiến lược,
quyết định sự thành bại của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Cấp
1
2
Đặc biệt, trong điều kiện hiện nay, trong bối cảnh hội nhập khu vực và
quốc tế ngày càng sâu, rộng; trước những tác động của nền kinh tế thị trường,
bao gồm cả mặt tích cực và tiêu cực, việc giữ vững quan điểm, lập trường là
vấn đề quan trọng. Trên cơ sở lập trường giai cấp công nhân, công chức cần
nhận thức rõ hơn chức trách, nhiệm vụ của mình, có thái độ ứng xử với nhân
dân đúng đắn.
Trong những năm qua, thành phố Hồ Chí Minh là đơn vị đi đầu cả
nước về thực hiện cải cách hành chính. Trong đó việc đào tạo, bồi dưỡng đội
ngũ cán bộ, công chức được đặc biệt chú trọng với mục tiêu xây dựng một đội
ngũ cán bộ, công chức cơ sở vững mạnh về phẩm chất đạo đức, lý luận chính
trị sắc bén; và vững mạnh về chuyên môn là những yếu tố được quan tâm và
chú trọng.
Mặc dù trong những năm qua cấp ủy và chính quyền thành phố Hồ Chí
Minh đặc biệt quan tâm tới công tác thực hiện chính sách bồi dưỡng chính trị
cho công chức cấp cơ sở nhưng trên thực tế chưa đạt được chất lượng như
mong muốn. Việc đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, công chức cấp xã chưa thật
sự gắn với quy hoạch, sử dụng cán bộ; không ít nhân tài chưa được phát hiện.
Chất lượng và hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng chưa cao, nội dung chương trình
và phương pháp đào tạo chậm đổi mới, chưa gắn với tổng kết thực tiễn của
đất nước trong những năm đổi mới; hệ thống đào tạo chưa thật hợp lý. Tuy
nhiên còn tồn tại nhiều hạn chế về trình độ lý luận chính trị của một bộ phận
công chức cấp cơ sở còn chưa đáp ứng yêu cầu với công việc dẫn tới việc giải
quyết công việc hiệu quả chưa cao, chưa huy động được sự hưởng ứng, đồng
lòng trong nhân dân. Thực tế các vụ việc, các điểm nóng trong giải quyết mặt
bằng, xử lý các vụ việc tại cơ sở trong thời gian qua cũng có yếu tố giải quyết
thiếu quyết đoán, chưa khoa học của cán bộ cơ sở.
Thành phố Hồ Chí Minh, với vị trí vai trò là trung tâm chính trị, kinh
dung luận cứ đưa ra cơ sở lý luận trong sử dụng tiêu chuẩn cán bộ của Đảng
phù hợp với từng giai đoạn cách mạng, các quan điểm và phương hướng trong
việc nâng cao chất lượng công tác cán bộ. Điểm nổi bật của luận cứ là việc
đưa ra nội dung, “tiêu chuẩn cán bộ” đây là một quan điểm đổi mới trong
công tác cán bộ mà học viên có thể vận dụng và kế thừa trong luận văn của
mình để đưa ra các tiêu chuẩn hóa công chức cấp cơ sở phù hợp với thành phố
4
Hồ Chí Minh trong xu thế phát triển của thời đại và đặc trưng của thành phố
Hồ Chí Minh.
- Nguyễn Ngọc Hiến (Chủ biên – 2001) Các giải pháp thúc đẩy cải
cách hành chính ở Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. Tác giả cuốn
sách đã đưa ra quá trình cải cách hành chính ở nước ta, những khó khăn,
nguyên tắc và phương pháp thúc đẩy cải cách hành chính. Cải cách nhằm
nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức, đây là nội dung quan trọng
trong các nhiệm vụ trọng tâm cải cách hành chính nước ta giai đoạn 20102020. Luận văn có thể kế thừa những phương pháp cải cách hành chính trong
đó có nội dung cải cách đội ngũ cán bộ, công chức phù hợp với đặc điểm
công chức cơ sở của thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay.
- Nguyễn Phương Đông (2002), Vấn đề giáo dục tư tưởng chính trị,
đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Tạp chí Kiểm tra (07), tr 26-27.
Tác giả đã nêu lên tầm quan trọng và hiệu quả, hình thức, phương pháp giáo
dục tư tưởng chính trị, đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên hiện nay.
Luận văn có thể kế thừa những phương pháp khả thi trong giáo dục tư tưởng
chính trị, đạo đức cho cán bộ đảng viên cấp cơ sở để góp phần củng cố và
nâng cao phẩm chất đạo đức, chính trị của đội ngũ công chức cấp xã ở thành
phố Hồ Chí Minh.
- PGS.TS. Nguyễn Trọng Điền (Chủ biên – 2007), Về chế độ công vụ
Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia. Công trình nghiên cứu sâu về công chức,
công vụ và các cơ sở khoa học để hoàn thiện chế độ công vụ ở Việt Nam hiện
nghiệm xây dựng nền công vụ chính quy hiện đại của đất nước trong khu vực
và thế giới. Từ đó xác định các yêu cầu, tiêu chuẩn của cán bộ, công chức đáp
ứng đòi hỏi của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì
dân. Luận văn có thể kế thừa những kết quả nghiên cứu để đưa ra những tiêu
chuẩn để xây dựng một đội ngũ công chức cấp phường, xã, thị trấn phù hợp
với xu thế phát triển nói chung và phù hợp với điều kiện, đặc trưng của thành
phố Hồ Chí Minh nói riêng.
- Trần Hoàng Hạnh (2006), Hoàn thiện các qui định pháp luật về bầu
cử, tuyển dụng và bổ nhiệm cán bộ, công chức cấp phường, xã tại thành phố
Hồ Chí Minh. Luận văn Thạc sỹ Luật học, trường Đại học Luật Thành phố Hồ
Chí Minh.
6
- Trần Tuấn Duy (2007), Đào tạo nguồn cán bộ, công chức cấp xã và
việc sử dụng cán bộ, công chức cấp xã sau đào tạo nguồn tại Thành phố Hồ
Chí Minh. Luận văn Thạc sỹ Luật hành chính, trường Đại học Luật Thành
phố Hồ Chí Minh.
Các tác giả đều đã phân tích một cách hệ thống và tương đối toàn diện
về vấn đề chất lượng công chức; vấn đề đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao
chất lượng công chức nói chung dưới góc độ lý luận cũng như sự vận dụng lý
luận đó vào tình hình thực tiễn, đó đều là những công trình, sản phẩm trí tuệ
và đúc kết thực tiễn, là cơ sở kế thừa cho những nghiên cứu tiếp theo.
Tuy nhiên, đứng trước xu thế hội nhập và toàn cầu hóa, và trong thời
kỳ hội nhập thì vấn đề nâng cao chất lượng, bồi dưỡng chính trị cho đội ngũ
cán bộ công chức cấp cơ sở là một yêu cầu cấp thiết. Đặc biệt trong thời gian
gần đây (Tài liệu nghiên cứu Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành
Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khóa XI - Ban Tuyên giáo Trung ương,
NXB Chính trị quốc gia – Sự thật -2012), Đảng cộng sản Việt Nam nhận định
“Trong Đảng và trong xã hội ta hiện nay đã xuất hiện tình trạng suy thoái về
- Nghiên cứu, phân tích cơ sở lý luận, thực tế, thực trạng về thực hiện
chính sách bồi dưỡng chính trị cho công chức cấp cơ sở.
- Vận dụng lý thuyết về chính sách công để phân tích, khảo sát, đánh
giá việc thực hiện chính sách bồi dưỡng chính trị cho công chức cấp cơ sở từ
thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh.
- Phân tích quan điểm, định hướng và đề xuất các giải pháp chủ yếu
nhằm tăng cường việc thực hiện chính sách bồi dưỡng chính trị cho công chức
cấp cơ sở ở thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn tập trung nghiên cứu thực tiễn về thực hiện chính sách bồi
dưỡng chính trị cho công chức cấp cơ sở ở thành phố Hồ Chí Minh.
Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi không gian: Luận văn nghiên cứu việc thực hiện chính sách
bồi dưỡng chính trị cho công chức cấp cơ sở trên địa bàn thành phố Hồ Chí
Minh.
8
Phạm vi thời gian:
Luận văn nghiên cứu việc thực hiện chính sách bồi dưỡng chính trị cho
công chức cấp cơ sở trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2010-2015.
(Chọn thời điểm này là vì đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ trên theo
nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ Thành phố 2010 – 2015)
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận:
Luận văn vận dụng phương pháp nghiên cứu chính sách công kết hợp
với nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu thực tế với cách tiếp cận liên ngành,
đa ngành về khoa học xã hội với quy phạm chính sách công về chu trình
nhập quốc tế và khu vực; đòi hỏi khách quan của việc nâng cao trình độ
chuyên môn, chính trị của đội ngũ cán bộ công chức trong công cuộc xây
dựng một nền hành chính hiện đại, chuyên nghiệp, hiệu lực, hiệu quả.
Ý nghĩa thực tiễn:
Luận văn hệ thống hóa các lý luận liên quan về thực hiện chính sách
công, cung cấp những vấn đề thực tiễn của việc thực hiện một chính sách
công cụ thể của thành phố Hồ Chí Minh, từ đó, cung cấp cơ sở khoa học cho
các cơ quan, ban ngành của huyện và cấp trên trong việc thực hiện chính sách
ở địa phương trong thời gian tới.
7. Cơ cấu
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Luận văn được bố cục như sau:
Chương 1. Những vấn đề lý luận về chính sách công và thực hiện
chính sách công.
Chương 2. Thực trạng thực hiện chính sách bồi dưỡng chính trị cho
công chức cấp cơ sở tại thành phố Hồ Chí Minh.
Chương 3. Các giải pháp thực hiện chính sách bồi dưỡng chính trị cho
công chức cấp cơ sở tại thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới.
10
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH CÔNG VÀ
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CÔNG
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm chính sách
Theo Từ điển tiếng Việt thì “chính sách” là “sách lược và kế hoạch cụ
thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và
tình hình thực tế mà đề ra”.[32]
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam, “Chính sách là những chuẩn tắc cụ
- “Chính sách công bao gồm các quyết định chính trị đối với các
chương trình đang thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu xã hội” (Charles L.
Cochran và Eloise T. Malone).
- “Chính sách công là toàn bộ hoạt động của chính phủ, bất kể là hoạt
động trực tiếp hay thông qua các tổ chức nhà nước, có ảnh hưởng đến công
dân” (B. Guy Peters).
Có một định nghĩa gần đây cũng được thế giới chấp nhận một cách
rộng rãi. Đó là định nghĩa của William Jenkin, theo ông, “Chính sách công là
một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay
một nhóm nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải
pháp để đạt được các mục tiêu đó”.[35]
Còn ở Việt Nam, tác giả Lê Chi Mai của Học viện Hành chính quốc gia
có một số đúc kết quan trọng về nội hàm của chính sách công [31]. Đó là:
+ Nhà nước chính là chủ thể ban hành chính sách công. Nhà nước ở
đây được hiểu là bao gồm Quốc hội, các bộ, chính quyền địa phương các cấp.
+ Chính sách công là những quyết định hành động, thể hiện dự định
của nhà hoạch định chính sách về một vấn đề nào đó và những hành vi thực
hiện các dự định đó.
+ Mục đích của chính sách công là giải quyết một vấn đề đang đặt ra
trong đời sống kinh tế - xã hội theo những mục tiêu xác định.
Kế thừa những tư duy và đúc kết của các nhà nghiên cứu đi trước, tác
giả Đỗ Phú Hải đã đưa ra một khái niệm về chính sách công như sau: “Chính
12
sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có tính gắn kết của Nhà
nước nhằm lựa chọn mục tiêu và giải pháp thực hiện giải quyết các vấn đề
của xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định”.
Như vậy, mỗi khái niệm có một cách tiếp cận khác nhau, tuy nhiên, nội
hàm của chúng có một số điểm chung, cụ thể:
Vậy chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức nói chung và bồi dưỡng
chính trị nói riêng là tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Nhà
Nước về đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức với mục tiêu, giải pháp cụ thể
nhằm xây dựng đội ngũ công chức có năng lực, trình độ, đạo đức nghề nghiệp
đáp ứng yêu cầu cung ứng dịch vụ công có chất lượng cao cho người dân và
xã hội.
* Tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức
Tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng chính trị cho công
chức cấp cơ sở là một khâu hợp thành chu trình chính sách, là toàn bộ quá
trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách thành hiện thực, với đối tượng
chính sách nhằm mục tiêu hướng tới. Nếu thiếu vắng giai đoạn này thì chính
sách phát triển không thể tồn tại. So với các giai đoạn khác trong chu trình
chính sách phát triển đào tạo, bồi dưỡng công chức, tổ chức thực hiện chính
sách có vị trí đặc biệt quan trọng là bước hiện thực hoá đưa chính sách phát
triển đào tạo, bồi dưỡng công chức nói chung và bồi dưỡng chính trị nói riêng
vào đời sống xã hội. Tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công
chức là một giai đoạn triển khai trên thực tế với sự tham gia, sự phối hợp của
các chủ thể, đối tượng của chính sách trên cơ sở kế hoạch cụ thể do cơ quan
có thẩm quyền ban hành.
1.1.4. Khái niệm công chức và công chức cấp cơ sở
* Khái niệm Công chức
Năm 1998, Pháp lệnh Cán bộ, công chức ra đời, là văn bản pháp lý cao
nhất về cán bộ, công chức; dưới Pháp lệnh là Nghị định số 95/1998/NĐ-CP
ngày 17/11/1998 về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức. Nghị định đã
cụ thể hóa khái niệm công chức “là công dân Việt Nam, trong biên chế và
hưởng lương từ ngân sách nhà nước, bao gồm những người được tuyển dụng,
14
bổ nhiệm hoặc giao giữ một công việc thường xuyên, được phân loại theo
và toàn quốc. Đó chính là tác động hai chiều làm nổi bật vai trò đặc biệt quan
trọng của cơ sở. Nói đến chính quyền nhà nước ở cơ sở là nói đến chính
quyền cấp phường, xã, thị trấn. Phường, xã, thị trấn là một khái niệm hành
chính ở cơ sở, ổn định và cố định.
Như vậy, công chức cấp cơ sở là công chức cấp phường, xã, thị trấn.
(sau đây xin gọi là phường vì đa phần địa bàn hành chính ở thành phố Hồ
Chí Minh là phường)
Theo nghĩa rộng: Công chức cấp cơ sở là những người làm việc cho
chính quyền cấp cơ sở đến những người tham gia các hoạt động mang tính
thường xuyên như dân số, phụ nữ, làm việc ở các tổ chức chính trị, chính trị
xã hội. Phụ cấp của họ lấy từ Ngân sách nhà nước nhà nước hoặc có nguồn
gốc từ ngân sách nhà nước.
Theo nghĩa hẹp: Công chức cấp cơ sở là thuật ngữ chỉ những người làm
việc cho các cơ quan quản lý nhà nước ở cấp cơ sở. Quy định không quá 25
người cho 1 cấp cơ sở, bao gồm: cán bộ chuyên trách cấp phường, công chức
cấp phường; cán bộ không chuyên trách cấp phường. Như vậy, trong khuôn
khổ nghiên cứu của luận văn, tác giả chỉ đề cấp tới đội ngũ công chức cấp cơ
sở, đó là các chức danh công chức cơ sở
+ Trưởng Công an;
+ Chỉ huy trưởng quân sự;
+ Văn phòng - thống kê;
+ Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị
trấn), địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã);
+ Tài chính - kế toán;
+ Tư pháp - hộ tịch;
+ Văn hóa - xã hội.
Trong điều kiện hiện nay, làm việc ở cấp cơ sở còn có một lực lượng
lao động đặc biệt. Đó là những “công chức” của các cấp cao hơn được đưa về
năng lực phản ánh kỹ năng làm việc, khả năng hoàn việc của mỗi người nói
chung cũng như mỗi công chức cấp cơ sở nói riêng.
17
Thứ nhất, đối với mỗi công chức cấp phường phải kể đến năng lực lãnh
đạo, quản lý. Đa số công chức cấp cơ sở được đào tạo chưa bài bản, chủ yếu
dựa trên thâm niên công tác và kinh nghiệm công tác hoặc dựa vào các đợt tập
huấn ngắn ngày nên trong quá trình điều hành, hoạt động còn thiếu tính khoa
học, hiệu quả chưa cao.
Thứ hai là về trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ còn
nhiều bất cập cũng như những nguồn đảm bảo cho việc hình thành “nguồn”
công chức cấp phường đã và đang là những cản trở vô hình tới công cuộc cải
cách hành chính ở cấp cơ sở nói riêng và cải cách hành chính nhà nước nói
chung. Hạn chế về trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn sẽ hạn chế về khả
năng nhận thức và năng lực tổ chức thực hiện các văn bản của Đảng và Nhà
nước, cản trở việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của người
cán bộ, công chức. Vì vậy việc nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ cán
bộ cấp cơ sở là cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới.
Thứ ba là về trình độ lý luận chính trị: Lý luận chính trị là cơ sở xác
định lập trường, quan điểm của cán bộ, công chức nhà nước nói chung và đội
ngũ công chức cấp phường, xã, thị trấn nói riêng. Hiện nay, tỷ lệ cán bộ, công
chức chưa qua bồi dưỡng chính trị khá nhiều, những cán bộ công chức cấp cơ
sở đã qua đào tạo chủ yếu dừng lại ở trình độ trung cấp; điều này chưa đáp
ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành việc
phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội an ninh, quốc phòng ở đơn vị hành chính cơ
sở; đặc biệt trong thời kỳ công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn, xây dựng
đô thị văn minh với nhiều nội dung, tiêu chí đòi hỏi phải có kiến thức khoa
học, công nghệ... và bản lĩnh chính trị vững vàng, được cung cấp và thông tin
đầy đủ về bối cảnh trong và ngoài nước; tình hình diễn biến, âm mưu của thế
là nạn “nhận hối lộ”, “phong bì”, lợi dụng chức vụ, cửa quyền, gây phiền hà,
đòi hỏi vật chất của nhân dân.
Phẩm chất đạo đức nghề nghiệp của cán bộ công chức cấp cơ sở được
thể hiện thông qua ý thức tổ chức kỷ luật ở cơ quan, đơn vị và tinh thần trách
nhiệm của cán bộ công chức trong thực thi nhiệm vụ như: chấp hành nội quy,
quy chế làm việc của cơ quan, đơn vị, giữ gìn nếp sống văn hóa công sở, thời
19
gian làm việc, chấp hành sự phân công của tổ chức, có ý thức giữ gìn đoàn kết
nội bộ, tinh thần phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ và thể hiện sự sáng tạo,
dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trước những việc mình làm …
Như vậy việc đề cao phẩm chất chính trị, đạo đức của người cán bộ,
công chức cấp cơ sở là tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng đội ngũ cán
bộ công chức cấp cơ sở, đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh của chúng ta đã đúc
kết đạo đức cách mạng của người cán bộ trong những chữ vàng “ Cần, kiệm,
liêm, chính, chí công, vô tư” vẫn còn nguyên giá trị và tính thời sự cho đến
ngày này và mai sau.
- Khả năng hoàn thành nhiệm vụ.
Là tiêu chí cơ bản để đánh giá đúng đắn nhất những gì mà mỗi cán bộ
công chức cấp cơ sở làm được trong thời gian nhất định. Khả năng hoàn thành
nhiệm vụ được phản ánh thông qua mức độ thực hiện nhiệm vụ được giao
trong năm: thể hiện ở việc hoàn thành khối lượng công việc được giao; chất
lượng công việc hoàn thành; tiến độ triển khai thực hiện và hiệu quả của công
việc đó trong từng vị trí, từng giai đoạn, bao gồm cả những nhiệm vụ thường
xuyên và nhiệm vụ đột xuất.
Dựa trên kết quả đánh giá về khả năng hoàn thành nhiệm vụ của đội
ngũ công chức cấp phường có thể đánh giá được chất lượng hoạt động của đội
ngũ đó trong thực tiễn công tác. Một công chức cấp phường đạt chất lượng tốt
thì phải thường xuyên được đánh giá là hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và hoàn