Thực hiện chính sách việc làm từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh - Pdf 39

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM THANH HÀ

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH VIỆC LÀM
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành

: Chính sách công

Mã số

:

60 34 04 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. ĐỖ PHÚ HẢI

HÀ NỘI - 2016


LỜI CẢM ƠN
Quá trình học tập và nghiên cứu từ thực tiễn để thực hiện luận văn, bản
thân đã tiếp thu được những kiến thức quý báu từ sự quan tâm và tận tình giảng
dạy của Quý thầy, cô giáo Học viện Khoa học xã hội. Cùng với sự giúp đỡ tận tình
của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh đã cung cấp

1.1. Khái niệm thực hiện chính sách việc làm ....................................................... 9
1.2. Nội dung chính sách việc làm ...................................................................... 12
1.3. Cách tiếp cận và phương pháp tổ chức thực hiện chính sách việc làm......... 18
1.4.Trách nhiệm thực hiện của các chủ thể chính sách việc làm ......................... 27
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách việc làm .................... 30
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH VIỆC LÀMTỪ
THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ................................................... 36
2.1. Thực trạng thực hiện chính sách việc làm tại thành phố Hồ Chí Minh ........ 36
2.2. Kết quả thực hiện mục tiêu chính sách việc làm từ thực tiễn thành phố Hồ
Chí Minh. .............................................................................................................. 54
2.3. Đánh giá chung về việc tổ chức, thực hiện chính sách việc làm ở thành phố
Hồ Chí Minh. ........................................................................................................ 61
CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
VIỆC LÀM BỀN VỮNG Ở NƢỚC TA HIỆN NAY ........................................ 64
3.1. Mục tiêu thực hiện chính sách việc làm ..................................................... 64
3.2. Giải pháp tăng cường thực hiện chính sách việc làm. ................................ 65
KẾT LUẬN .......................................................................................................... 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................. 75
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

AEC

: Cộng đồng Kinh tế ASEAN

AFTA

: Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN


: Kinh tế - xã hội



: Lao động

LĐ-TB&XH

: Lao động - Thương binh và Xã hội

NLĐ

: Người lao động

TPP

: Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương

TW

: Trung ương

UBND

: Ủy ban nhân dân

WTO

: Tổ chức Thương mại thế giới

hiện chính sách việc làm nhằm thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 25 tháng
7 năm 2008 của Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X,
cũng như bảo đảm thực hiện các Điều ước quốc tế về việc làm mà Việt Nam đã và
đang chuẩn bị tham gia.
Giải quyết việc làm cho người lao động là vấn đề nóng bỏng, cấp thiết,
trước mắt, đầu tiên cũng như lâu dài cho từng ngành, từng địa phương, gia đình và
từng mỗi cá nhân. Vấn đề lao động việc làm và tình trạng thất nghiệp ngày càng
gia tăng nghiêm trọng đã ảnh hưởng đáng kể đến mục tiêu phát triển hài hòa, bền
vững, xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh trở thành một Thành phố hiện đại, văn
1


minh, có nền công nghiệp phát triển xứng đáng là trung tâm của Vùng kinh tế
trọng điểm phía Nam, cũng như Đông Nam Bộ và của cả nước trong tương lai,
góp phần thực hiện CNH, HĐH đất nước.
Tại Thành phố Hồ Chí Minh chính sách việc làm luôn được Đảng bộ và
chính quyền các cấp quan tâm chỉ đạo và nỗ lực thực hiện. Tuy nhiên, trên thực tế,
bên cạnh những thành tựu đạt được mỗi năm Thành phố giải quyết việc làm cho
khoảng 291.993 lượt lao động, tạo mới khoảng 123.834 chỗ làm, tỷ lệ thất nghiệp
giảm qua các năm, từ 4,73% năm 2011, giảm còn 4,5% vào cuối năm 2015 thì
những hạn chế, yếu kém của công tác giải quyết việc làm cũng bộc lộ. Đó là
nguồn lao động và việc làm thường xuyên biến động, số lao động không ổn định
việc làm, mất việc làm, tái bố trí việc làm hàng năm lớn, sự dịch chuyển lao động
giữa các ngành kinh tế, giữa các doanh nghiệp ngày một tăng gây mất ổn định
hoạt động sản xuất kinh doanh ở một số ngành nghề. Lao động phổ thông trên địa
bàn Thành phố ngày càng có xu hướng làm những công việc tự do hoặc tham gia
các loại hình dịch vụ có thu nhập cao. Lực lượng lao động có chuyên môn kỹ thuật
được đào tạo tại các trường, lớp chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của Thành
phố nhất là các ngành kinh tế mũi nhọn, đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề
thiếu hầu hết ở tất cả các ngành kinh tế quốc dân. Chất lượng đào tạo nghề vẫn

PTS. Nguyễn Hữu Dũng, PTS. Trần Hữu Trung (Chủ biên): "Về chính sách
giải quyết việt làm ở Việt Nam", Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1997. Các
tác giả đã trình bày tổng quát về phương pháp luận và phương pháp tiếp cận chính
sách công; làm rõ thực trạng chính sách việc làm ở Việt Nam hiện nay, từ đó, khuyến
nghị định hướng một số chính sách cụ thể về việc làm trong công cuộc CNH, HĐH.
Bài viết của PGS. TS Trần Việt Tiến (2012), “Chính sách việc làm ở Việt
Nam:Thực trạng và định hướng hoàn thiện”Tạp chí Kinh tế phát triển số 181,
tháng 7/2012, trang 40-47; bài viết đã góp phần làm rõ thực trạng chính sách việc
làm ở nước ta hiện nay, từ đó đưa ra định hướng các giải pháp hoàn thiện chính
sách việc làm tới năm 2020.
Bài viết của TS. Đỗ Phú Hải (2014), "Chính sách lao động - việc làm:
Thực trạng và giải pháp", Học viện khoa học xã hội thuộc Viện Hàn lâm khoa học
xã hội Việt Nam. Bài viết tập trung trình bày những kết quả nghiên cứu về vấn đề
3


lao động việc làm và các trở ngại chính sách, trên cơ sở mục tiêu của Đảng tại Đại
hội XI đã xác định đưa ra những giải pháp và công cụ chính sách nhằm cơ cấu lại
và sử dụng hợp lý nguồn lực lao động xã hội để phát triển nền kinh tế nước ta,
hướng tới mục tiêu xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,
văn minh.
Thông tin chuyên đề của Viện nghiên cứu lập pháp, Trung tâm thông tin
khoa học (2013) "Chính sách việc làm – Thực trạng và giải pháp", thông qua việc
phân tích hệ thống chính sách việc làm, chuyên đề đã đánh gia chính sách việc
làm và đề xuất những giải pháp hoàn thiện chính sách việc làm ở Việt Nam.
Thông tin chuyên đề của Viện nghiên cứu lập pháp, Trung tâm thông tin
khoa học (2013) "Pháp luật việc làm và một số đề xuất, kiến nghị xây dựng luật",
thông qua việc phân tích hệ thống chính sách, pháp luật về việc làm, chuyên đề đã
giới thiệu các nội dung cơ bản của dự án luật, đồng thời tập trung đề xuất các giải
pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện dự án Luật Việc làm. Các nhận định về chính

Thành phố Hồ Chí Minhđồng thời chỉ ra những kết quả từng bước trong quy trình
thực hiện chính sách việc làm ở Thành phố Hồ Chí Minh.
Xây dựng hệ thống các giải pháp nhằm nâng cao kết quả thực hiện các
bước trong quy trình thực hiện chính sách việc làm.
Kiến nghị với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những cơ chế chính
sách để tổ chức thực hiện chính sách việc làm có kết quả và hiệu quả trên địa bàn
Thành phố Hồ Chí Minh.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu tổng quan về tình hình nghiên cứu của các tác giả trong và
ngoài nước về những vấn đề liên quan đến đề tài luận văn.
Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách việc làm
trong đó tập trung nghiên cứu về ảnh hưởng của việc làm đến phát triển kinh tế xã
hội, về vai trò của nhà nước trong giải quyết việc làm. Nghiên cứu khung lý thuyết
về cách thức tổ chức thực hiện chính sách việc làm. Phân tích nhận diện những
yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tổ chức thực hiện chính sách việc làm.

5


Tiến hành khảo sát, điều tra, thu thập và tổng hợp thông tin để phục vụ cho
việc phân tích thựctrạng tổ chức thực hiện chính sách việc làm tại Thành phố Hồ
Chí Minh.
Nghiên cứu, phân tích, đánh giá những ưu điểm, hạn chế trong các bước tổ
chức thực hiện chínhsách việc làm tại Thành phố Hồ Chí Minh, những thuận lợi
và khó khăn trong việc làm để đề xuất các giải pháp mới nhằm nâng caokết quả tổ
chức thực hiện chính sách việc làm tại Thành phố Hồ Chí Minhtrong thời gian tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Thực hiện chính sách việc làm cụ thể là nghiên cứu giải pháp tăng cường
thực hiện chính sách việc làm.

và quá trình nghiên cứu đề tài cũng đòi hỏi tiếp cận, kết hợp các phương pháp
nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng nghiên cứu, cũng như cập nhật những vấn
đề, những lĩnh vực mới mẻ trong đời sống KT-XH từ thực tiễn tỉnh Đồng Nai, phù
hợp với yêu cầu của cấu trúc luận văn.
Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn sâu là phương pháp được dùng
khá phổ biến trong nghiên cứu xã hội học, đó là phương pháp đối thoại với một
đối tượng nhằm thu thập thông tin. Tác giả tập trung vào phương pháp phỏng vấn
sâu nghiên cứu chính sách với đối tượng là cán bộ, công chức, lãnh đạo quản lý,
đối với chủ thể chính sách việc làm và thực hiện phỏng vấn nhanh đối với đối
tượng là những người nằm trong độ tuổi lao động và những người chưa có việc
làm và chưa qua đào tạo.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn luận văn
6.1. Về mặt lý luận
Luận văn có ý nghĩa về mặt lý luận, người học nghiên cứu hệ thống hóa
nhận thức và vận dụng các lý thuyết về chính sách công nói chung và chính sách
việc làm nói riêng.
Kết quả nghiên cứu thực hiện chính sách việc làm đã làm sáng tỏ, minh
chứng cho các lý thuyết liên quan đến chính sách công, từ đó đề xuất các giải pháp
nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả thực hiện chính sách.
6.2. Về mặt thực tiễn
7


Luận văn cung cấp những vấn đề có tính thực tiễn trong việc vận dụng các
lý thuyết về chính sách công để xem xét giữa lý thuyết và thực tiễn về thực hiện
chính sách việc làm tại Thành phố Hồ Chí Minh. Từ đó đưa ra những đề xuất có
giá trị tham khảo đối với các nhà quản lý để nâng cao hiệu quả thực hiện chính
sách việc làm trong thực tiễn những năm tiếp theo.
7. Kết cấu của luận văn

Tạp chí lý luận chính trị số 1/2014).
Theo Điều 3 Luật Việc làm năm 2013 thì: “Việc làm là hoạt động lao động
tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm”. Theo đó, các hoạt động lao động
trong xã hội được coi là việc làm rất rộng, đó là tất cả các dạng hoạt động lao
động trong xã hội, không bị pháp luật cấm và đem lại thu nhập cho con người.
Như vậy, việc làm là trạng thái trong đó diễn ra các hoạt động lao động
của con người (gắn với nghề nghiệp)mang lại thu nhập hoặc lợi ích cho bản thân
và gia đình (không bị pháp luật ngăn cấm)đáp ứng nh ng nhu c u sống và sự phát
triển toàn diện của con người.

9


Với nhận thức trên đây, có thể xem: Chính sách việc làm là một tập hợp
các quyết định có liên quan của Nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với
giải pháp và công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề việc làm cho N Đ nhằm đáp
ứng nh ng nhu c u sống và sự phát triển toàn diện của con người.
Theo nghĩa đầy đủ hơn, chính sách việc làm là hệ thống các quan điểm, chủ
trương, phương hướng, các mục tiêu, các giải pháp và công cụ thực hiện để tạo
việc làm và bảo đảm việc làm cho các công dân có khả năng lao động và có nhu
cầu việc làm nhằm đáp ứng cơ bản về nhu cầu cuộc sống và yêu cầu phát triển
KT-XH đặt ra. Nói cách khác, chính sách việc làm là chính sách xã hội được thể
chế hóa bằng luật pháp của Nhà nước trong lĩnh vực lao động và việc làm, liên
quan đến thỏa mãn nhu cầu cơ bản của con người, thông qua đó con người có việc
làm, việc làm mang tính nhân văn, nhờ đó họ có được thu nhập, bảo đảm đời sống,
góp phần ổn định, phát triển và tiến bộ xã hội.
1.1.2. Khái niệm,ý nghĩa, tầm quan trọng của thực hiện chính sách việc
làm
Thực hiện chính sách việc làmlà khâu hợp thành chu trình chính sách việc
làm, là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách việc làm thành

có hiệu quả chính sách việc làm còn quan trọng hơn. Nếu chính sách việc làm
không đưa vào triển khai thực hiện thì nó sẽ trở nên vô nghĩa, thậm chí nếu triển
khai thực hiện không tốt dễ dẫn đến sự bất bình và giảm lòng tin của nhân dân đối
với nhà nước. Thông qua việc thực hiện chính sách việc làm biết được chính sách
việc làm có phù hợp hay không phù hợp, vào cuộc sống hay không vào cuộc sống,
phát hiện ra những hạn chế, bất cập của chính sách để có cơ sở đề xuất các giải
pháp duy trì, điều chỉnh, bổ sung hoàn thiện chính sách. Thực hiện chính sách việc
làm nhằm mục đích tinh gọn bộ máy, tinh gọn biên chế, đụng chạm đến quyền và
lợi ích của các tổ chức và các cán bộ, công chức làm việc trong bộ máy. Đây là
công việc nhạy cảm hết sức khó khăn, chịu sự tác động của hàng loạt các yếu tố
thúc đẩy có, cản trở có. Do đó, cần phải đặc biệt quan tâm đến công tác tổ chức
thực hiện chính sách việc làm, đề xuất các giải pháp hữu hiệu để thực hiện có hiệu
quả các chính sách việc làm.

11


1.2. Nội dung chính sách việc làm
1.2.1. Vấn đề của chính sách việc làm tại Việt Nam
Sau 30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu phát triển KTXH, vấn đề lao động - việc làm ở nước ta đã từng bước được giải quyết theo hướng
của quy luật khách quan về kinh tế hàng hóa và thị trường lao động, góp phần đưa
nền kinh tế nước ta phát triển đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử.
Bên cạnh những thành tựu quan trọng đã giành được, chúng ta đang gặp phải
những vấn đề nổi cộm, điều đáng quan tâm là thực trạng chính sách giải quyết vấn
đề lao động việc làm ở nước ta hiện nay vẫn còn có nhiều bất cập, chính sách có lúc
chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển của nền kinh tế. Điều đó thể hiện ở các khía
cạnh sau đây:
Mất cân đối lớn về cung cầu lao động, cung lớn hơn cầu. Tỷ lệ thất nghiệp ở
thành thị giảm chậm, tỷ lệ sử dụng lao động ở nông thôn thấp, chỉ đạt trên, dưới
70%. Số doanh nghiệp trên đầu dân số còn thấp nên khả năng tạo việc làm và thu

khó khăn trong hoạt động quản lý và tổ chức thực hiện trong lĩnh vực việc làm.
Việc triển khai tại một số địa phương gặp nhiều lúng túng, vướng mắc do cơ chế
chồng chéo, không phân rõ trách nhiệm giữa các cơ quan thực hiện.
Hiện nay, chúng ta đang phải đối mặt với những thách thức to lớn: Cạnh
tranh diễn ra ngày càng gay gắt từ cấp độ sản phẩm, doanh nghiệp đến toàn nền
kinh tế, từ bình diện trong nước đến ngoài nước. Một bộ phận doanh nghiệp không
thích nghi kịp có nguy cơ phá sản, NLĐ có nguy cơ thất nghiệp cao, thiếu việc
làm, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp. Chất lượng nguồn lực lao động nước ta
chưa đáp ứng yêu cầu, gây trở ngại trong quá trình hội nhập. Di chuyển lao động
tự phát từ nông thôn ra thành thị, vào các KCN tập trung và di chuyển ra nước
ngoài kéo theo nhiều vấn đề xã hội. Đặc biệt, trong bối cảnh công cụ Luật Việc
làm ra đời tháng 11/2013 (Luật số 38/2013/QH13) đòi hỏi cần thiết nghiên cứu
làm rõ những trở ngại về mặt chính sách lao động - việc làm để đưa ra những
giải pháp chính sách và công cụ chính sách bổ trợ giúp cho giải quyết tốt vấn đề
xã hội là vấn đề lao động - việc làm hiện tại. Do vậy, vấn đề chính sách việc làm
rất cấp bách trong giai đoạn hiện nay.
Thực trạng nói trên của vấn đề GQVL, có nhiều nguyên nhân, song có một
13


số nguyên nhân sau đây:
Một là, nước ta là một nước nông nghiệp lạc hậu, có xuất phát điểm quá
thấp, thiếu điều kiện vật chất cơ bản để chuyển mạnh sang nền kinh tế hàng hóa.
Nguyên nhân bao trùm nhất, hạn chế khả năng GQVL là cấu trúc hạ tầng cơ sở
hiện nay quá yếu kém, khó lựa chọn công nghệ thích hợp và hạn chế khả năng đầu
tư nước ngoài.
Hai là, trong cơ chế cũ, NLĐ chủ yếu tìm việc trong khu vực kinh tế nhà
nước. Nhà nước quản lý và điều hành nền kinh tế theo kiểu tập trung bao cấp, dẫn
đến kìm hãm tiềm năng lao động, triệt tiêu động lực tự tạo việc làm của NLĐ.
Ba là, chưa có một hệ thống cơ quan sự nghiệp hoàn chỉnh để GQVL. Các

trong triển khai chính sách việc làm là:Tiếp tục hoàn thiện và thực hiện tốt các
chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, tạo việc làm, học nghề, đưa lao động đi làm
việc ở nước ngoài, ưu tiên người nghèo, người dân tộc thiểu số thuộc các huyện
nghèo, xã nghèo, thôn bản đặc biệt khó khăn. Xây dựng và triển khai Luật Việc
làm; khẩn trương nghiên cứu xây dựng Chương trình việc làm công; Phấn đấu đến
năm 2020, tỷ lệ thất nghiệp chung dưới 3%; tỷ lệ thất nghiệp thành thị dưới 4% [1,
tr.109].
1.2.3. Giải pháp và công cụ chính sách việc làm
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đề ra mục tiêu: “GQVL
cho 8 triệu lao động, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt khoảng 65 - 70%, tỉ lệ thất
nghiệp ở khu vực thành thị dưới 4%. Phát triển đa dạng các ngành, nghề để tạo
nhiều việc làm và thu nhập; khuyến khích tạo thuận lợi để NLĐ học tập nâng cao
trình độ lao động, tay nghề; đồng thời có cơ chế chính sách phát triển, trọng dụng
nhân tài”. Để thực hiện mục tiêu trên, các giải pháp chính sách lao động - việc làm
cần thiết phải là:
Thứ nhất là, xây dựng kế hoạch phát triển KT-XHcần phải tính đến mục tiêu
GQVL cho NLĐ. Nói cách khác cần xác định mục tiêu GQVL trong các chiến
lược,kế hoạch phát triển KT-XH. Gắn kết chính sách việc làm với chính quá
trình và kế hoạch KT-XHtổng thể và tái cấu trúc kinh tế theo hướng hiện đại và
phát triển “việc làm bền vững”, thì cần chủ động phát triển có tổ chức các thị
trường lao động có nhiều tiềm năng và hiệu quả kinh tế cao, nhất là thị trường
15


lao động chất lượng cao về kinh tế nông nghiệp, kinh tế biển, công nghệ thông
tin và XKLĐ.
Thứ hai là, tổ chức hệ thống đào tạo nghề bố trí nguồn lựcđểđầu tư đào tạo
nghề cho thanh niên ngay từ khi còn trên ghế nhà trường ở bậc phổ thông trung học
nếu họ không có ý định học lên bậc đại học.Mở rộng và nâng cấp hệ thống dạy nghề
cho NLĐ ở 3 cấp trình độ (sơ cấp, trung cấp và cao đẳng nghề). Công cụ chính

hoạch phát triển KT-XH ở các địa phương, nhất là những địa bàn có tốc độ đô
thị hóa và tốc độ tái cấu trúc KT-XH nhanh. Cần có cơ sở pháp lý cho việc hậu
kiểm giám sát đánh giá thực hiện chính sách lao động - việc làm qua việc thực
hiện chế độ thống kê, báo cáo nghiêm túc.
Thứ sáu là, hoàn thiện và thực hiện hiệu quả các chính sách cấu thành
như chính sách tín dụng ưu đãi phát triển sản xuất, tạo việc làm, chính sách hỗ
trợ học nghề, hỗ trợ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo
hợp đồng, ưu tiên cho người nghèo, người dân tộc thiểu số thuộc các huyện
nghèo, xã nghèo, thôn bản đặc biệt khó khăn, khuyến khích và hỗ trợ người sử
dụng lao động sử dụng nhiều lao động là người khuyết tật, lao động nữ, lao
động là người dân tộc thiểu số bằng các công cụ tài chính.
Về mặt tổng thể, các giải pháp chính sách lao động - việc làm cần phải
phát huy được các nguồn lực của xã hội vào việc tạo việc làm và đảm bảo việc
làm. Tăng cường huy động các nguồn vốn của doanh nghiệp và các tổ chức cho
đào tạo nâng cao trình độ NLĐ. Vận dụng các công cụ chính sách tài chính ưu
đãi bao gồm những giải pháp ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp, hỗ trợ về
đất đai và ưu đãi tín dụng, hỗ trợ về đào tạo nhân lực chất lượng cao thuộc
ngành nghề mũi nhọn để khuyến khích mạnh mẽ các doanh nghiệp đầu tư cho
đào tạo với các hình thức khác nhau như đặt hàng với các cơ sở đào tạo, tự tổ
chức đào tạo nhân lực trong doanh nghiệp và thành lập các cơ sở đào tạo trong
doanh nghiệp để đào tạo nhân lực cho bản thân doanh nghiệp và cho xã hội.
Huy động các nguồn vốn của xã hội để đầu tư xây dựng cơ sở đào tạo, tổ chức
các loại quỹ khuyến học, khuyến tài cho đào tạo nghề. Những giải pháp chính
sách cần được tiến hành đồng bộ và có hiệu quả nhất với sự nỗ lực của toàn xã
hội, của toàn hệ thống chính trị trong quá trình thực hiện chính sách lao động 17


việc làm của nước ta trong những năm tới, đáp ứng yêu cầu cơ cấu lại và sử
dụng hợp lý nguồn lực lao động xã hội để phát triển nền kinh tế nước ta, hướng
tới mục tiêu xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn

ở địa phương (tỉnh,huyện xã trong đó đặc biệt là ở cấp xã) sẽ căn cứ vào chức
năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình để chủ động triển khai đưa chính sách vào
cuộc sống theo yêu cầu phát triển của địa phương mình. Các bước tổ chức thực
hiện cũng được tiến hành theo nguyên lý chung, khoa học từ xây dựng kế hoạch
thực hiện đến đánh giá tổng kết việc thực hiện chính sách việc làm.
c. Cách tiếp cậnkết hợp cả từ trên xuống và dưới lên
Từ những ưu, nhược điểm của hai hình thức thực hiện chính sách việc làm
từ trên xuống và hình thức thực hiện chính sách việc làm từ dưới lên trên, trong
thực tiễn thực hiện chính sách việc làm ở nước ta hiện nay còn có hình thức thứ ba
là hình thức kết hợp. Đó là sự kết hợp của hình thức thực hiện chính sách từ trên
xuống và từ dưới lên nhằm làm cho quá trình chính sách vừa đảm bảo được các
yếu tố lý quản lý, điều hành được thông suốt từ trên xuống, vừa làm cho quá trình
thực hiện chính sách việc làm phù hợp với những điều kiện khách quan và chủ
quan của địa phương nơi tổ chức thực hiện chính sách.
Để thực hiện có hiệu quả hình thức triển khai này cần có nhiều điều kiện,
trong đó có điều kiện tiên quyết là trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ công
chức cấp cơ sở phải đáp ứng những yêu cầu nhất định và sự tham gia tích cực, chủ
động và có hiệu quả của chính các đối tượng chính sách.
1.3.2. Phương pháp tổ chức thực hiện chính sách việc làm
a. Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách việc làm
Kế hoạch triển khai thực hiện chính sách việc làm được xây dựng trước khi
đưa chính sách vào đời sống xã hội. Kế hoạch thực hiện chính sách việc làm ở cấp
nào sẽ do cơ quan chủ trì của cấp đó xây dựng.
Sau khi quyết định được thông qua, kế hoạch thực hiện chính sách sẽ mang
giá trị pháp lý, được các chủ thể có triển khai thực hiện chính sách và cả đối tượng
của chính sách nghiêm chỉnh thực hiện.
Xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật về lao động việc làm là
khâu quan trọng của quản lý nhà nước về lao động việc làm, bởi vì: việc xây dựng,
19


20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status