VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
ĐẶNG THANH TÙNG
CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ KHỞI NGHIỆP
CHO CÁC DOANH NGHIỆP KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
TRONG LĨNH VỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
Chuyên ngành: Quản lý Khoa học và Công nghệ
Mã số: 60.34.04.12
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN VĂN HỌC
MỤC LỤC
Hà Nội, 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
Luận văn này do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn
Văn Học
Kết luận chương 2........................................................................................................63
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH
HỖ TRỢ KHỞI NGHIỆP CHO DOANH NGHIỆP KHOA HỌC VÀ CÔNG
NGHỆ LĨNH VỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN .......................................... 64
3.1. Bối cảnh hoàn thiện chính sách hỗ trợ hoạt động khởi nghiệp cho các doanh nghiệp
khoa học và công nghệ ..................................................................................................64
3.2. Một số kiến nghị về Chính sách thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp cho doanh nghiệp
khoa học và công nghệ lĩnh vực công nghệ thông tin ...................................................66
3.3. Đề xuất một số giải pháp về chính sách thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp cho doanh
nghiệp khoa học và công nghệ lĩnh vực công nghệ thông tin .......................................68
Kết luận chương 3........................................................................................................73
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................... 75
DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 1
Các yếu tố cấu thành một hệ sinh thái khởi nghiệp .......................... 19
Hình 2
Các yếu tố tác động để DN KH&CN tồn tại và phát triển ................ 23
CGCN
Chuyển giao công nghệ
CN
Công nghệ
CNC
Công nghệ cao
CNTT
Công nghệ thông tin
DN
Doanh nghiệp
ĐTMH
Đầu tư mạo hiểm
FDI
Đầu tư trực tiếp từ nước ngoài
KH&CN
TTCN
Thị trường Công nghệ
TƯ
Trung ương
VSV
Thung lũng Silicon của Việt Nam
WTO
Tổ chức thương mại thế giới
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Giai đoạn phát triển kinh tế của Việt Nam trong những năm qua đã chứng kiến sự
hình thành và phát triển rất năng động của phong trào khởi nghiệp. Có nhiều nhân tố dẫn
đến khởi nghiệp như là một lực lượng mới của nền kinh tế. Trong đó có thể kể đến khả
năng sáng tạo, tinh thần kinh doanh của người Việt; sự phát triển gia tốc của thị trường khi
Việt Nam trở thành quốc gia thu nhập trung bình; sự bùng nổ của công nghệ và sử dụng
công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin; sự tham gia của các quỹ đầu tư và các tổ chức
hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp nói chung và doanh nghiệp khoa học và công nghệ lĩnh
vực công nghệ thông tin nói riêng.
Ngoài ra, tại Việt Nam hiện nay cũng có nhiều quỹ hỗ trợ khởi nghiệp không thuộc
loại đầu tư rủi ro của nước ngoài và tổ chức quốc tế, với phương pháp tiếp cận và hình thức
của Nhà nước cũng chưa được thấy rõ trong lĩnh vực tài chính, đặc biệt là đối với việc khởi
sự kinh doanh tại Việt Nam và tín dụng ngân hàng đối với hoạt động khởi nghiệp của các
doanh nghiệp khoa học và công nghệ.
Khởi nghiệp đã được nhen nhóm hàng chục năm qua theo quy luật tự nhiên của phát
triển kinh tế, bắt nguồn từ óc sáng tạo và tinh thần kinh doanh vốn có của người Việt Nam.
Song không thể “cất cánh” được do thiếu các cú hích cần thiết trong đó là công cụ tài chính,
tín dụng. Một số quỹ đầu tư nước ngoài đã nắm bắt được xu thế này và thực hiện những
phi vụ đầu tư mạo hiểm rất thành công, tạo nên những tên tuổi lớn tại thị trường Việt Nam.
Trong những năm gần đây, Nhà nước đã từng bước thừa nhận vài trò to lớn của doanh
nghiệp vừa và nhỏ tư nhân nói chung và doanh nghiệp khởi nghiệp nói riêng đối với sự
phát triển kinh tế. Để phong trào khởi nghiệp phát triển mạnh và bền vững, Nhà nước cần
nhanh chóng xây dựng các chính sách và quy định pháp luật phù hợp, đồng thời có những
chương trình cụ thể giúp hình thành và phát triển những doanh nghiệp khởi nghiệp mới,
trong đó, việc quan trọng nhất là thiết lập các cơ chế tài chính để tham gia cùng khối đầu
tư tư nhân vào khởi nghiệp, theo mô hình mà nhiều quốc gia đã thực hiện rất thành công.
Các tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp và chính các doanh nghiệp khởi nghiệp gần đây đã có
những nỗ lực lớn trong việc hình thành “hệ sinh thái khởi nghiệp”, bao gồm chủ thể khởi
nghiệp, nhà đầu tư, các tổ chức hỗ trợ và Nhà nước. Điều tiết Nhà nước đang là khâu cần
hoàn thiện trong hệ sinh thái khởi nghiệp này, chủ yếu do không thực hiện được chức năng
xây dựng chính sách và pháp luật (chứ không phải do không cung cấp hỗ trợ tài chính) dẫn
đến tình trạng bỏ lỡ những cơ hội kinh doanh tại thị trường nội địa hay thậm chí cả thị
trường quốc tế của các doanh nghiệp khởi nghiệp Việt Nam. Hơn thế nữa, khi có những
doanh nghiệp khởi nghiệp Việt Nam rất thành công thì người hưởng lợi ở phía nhà đầu tư
2
trong hệ sinh thái lại là các quỹ đầu tư mạo hiểm của nước ngoài, với những quyết định
đầu tư kịp thời, đúng đắn. Do vậy, học viên đề xuất nghiên cứu đề tài “Chính sách hỗ trợ
khởi nghiệp cho các doanh nghiệp khoa học và công nghệ trong lĩnh vực công nghệ
thông tin”.
hình thành DN spin-off được đề cập đến như sự cần thiết hình thành vốn đầu tư mạo hiểm
cho các nhà khoa học có tinh thần kinh thương, vai trò của khu CN cao trong việc tạo điều
kiện cho các spin-off hoạt động trong giai đoạn đầu. Theo nghiên cứu của các tác giả, quá
trình hình thành DN khoa học spin-off gồm 4 giai đoạn: (1) Tạo nên ý tưởng kinh doanh
từ kết quả nghiên cứu; (2) Hình thành những dự án đầu tư dựa trên những ý tưởng kinh
doanh; (3) Thành lập DN spin-off từ những dự án đầu tư trên; (4) Tiếp tục hoàn thiện và
khẳng định sự phát triển của DN.
2.2. Trong nước
Ở Việt Nam, loại hình này đã được bàn đến theo cách tiếp cận trực tiếp hoặc gián tiếp
nhưng còn rất hạn chế. Một số tác giả có nhắc đến spin-off thông qua các nghiên cứu khác
nhau như:
Tác giả Bạch Tân Sinh và cộng sự (2005) trong nghiên cứu bàn về khái niệm và quá
trình hình thành DN KH&CN.Trong đó phân tích rõ bản chất loại hình DN KH&CN, xác
định các điều kiện hình thành DN KH&CN, nghiên cứu mô hình chuyển đổi tổ chức
NC&TK sang cơ chế DN.
Nghiên cứu của Hoàng Văn Tuyên (2005) – Viện chiến lược và chính sách KH&CN
khi nghiên cứu về khái niệm và kinh nghiệm quốc tế về mô hình DN KH&CN, các hình
thức đầu tư tài chính cho loại hình DN này.
Tác giả Trần Xuân Định (2005) – Bộ KH&CN bàn về mô hình DN KH&CN và khả
năng áp dụng ở Việt Nam [2, tr10].
Tác giả Võ Văn Tới (2005) – ĐH Tufft Hoa Kỳ lại bàn về việc phát triển loại hình
DN này ở Mỹ và khả năng phát triển ở Việt Nam theo hai cách thức chính để đưa sản phẩm
nghiên cứu ra thị trường dưới dạng sản phẩm hàng hóa: Cách thứ nhất là do chính phủ tài
trợ, theo hai chương trình (1) SBIR – Small Business Innovation Research, người chủ trì
dự án phải thuộc một công ty nhỏ, có thời gian làm cho dự án cũng như trong công ty đó ít
nhất 51% trong khoảng thời gian được tài trợ. (2) STTR – Small Business Technology
Transfer, theo chương trình này người chủ trì dự án phải có liên hệ với một công ty nhỏ,
người đó có quyền tiếp tục công việc của mình trong trường ĐH hoặc trong cơ quan nghiên
cứu khi làm dự án và thời gian làm việc cho dự án phải ít nhất là 30% [2, tr 10].
doanh nghiệp KH&CN Việt nam sau khi khởi nghiệp.
Những nghiên cứu trên đây phần lớn mang tính tổng luận về DN KH&CN. Kết quả
của các nghiên cứu này cho thấy bức tranh tổng thể của loại hình này, hình thức tổ chức và
5
hoạt động cũng như một số bài học gợi suy cho Việt Nam, đặc biệt các nghiên cứu gần đây
có liên quan đến vườn ươm công nghệ với tư cách hỗ trợ khởi nghiệp. Tuy nhiên, một mô
hình cụ thể trong lĩnh vực công nghệ thông tin – công cụ quan trọng để đáp ứng nhu cầu
của làn sóng công nghệ 4.0 chưa được nghiên cứu. Đề tài luận văn được lựa chọn với mong
muốn góp phần giải quyết một số khía cạnh chính sách trong việc hình thành ( khởi nghiệp)
và phát triển DN KH&CN lĩnh vực công nghệ này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất, kiến nghị một số giải pháp để xây dựng các hành lang pháp lý khuyến khích,
thúc đẩy các doanh nghiệp khởi nghiệp. Chính sách hỗ khởi nghiệp cho các DN KH&CN
lĩnh vực CNTT nhằm giảm bớt các thủ tục hành chính, phù hợp với thông lệ quốc tế.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.2.1. Làm rõ cơ sở lý luận về doanh nghiệp khởi nghiệp
3.2.2. Phân tích thực trạng chính sách hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp nói
chung và trong lĩnh vực công nghệ thông tin nói riêng
3.2.3. Đề xuất giải pháp chính sách về tài chính hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là chính sách hỗ trợ của nhà nước ở Việt Nam và quốc tế về
hoạt động khởi nghiệp đối với doanh nghiệp KH&CN.
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung phân tích các chính sách của nhà nước và
các quốc gia trên thế giới; Kết quả KH&CN trong lĩnh vực CNTT giai đoạn 2011 – 2015
và Chiến lược phát triển KHCN giai đoạn 2011 – 2020.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Tiếp cận lý thuyết
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Về mặt lý luận: Luận văn đã luận giải và làm rõ được những vấn đề lý luận về doanh
nghiệp KH&CN nói chung và trong lĩnh vực CNTT nói riêng, lĩnh vực CNTT và hệ sinh
thái khởi nghiệp trong bối cảnh toàn cầu hóa. Luận văn đã đưa ra cách tiếp cận, phương
pháp phân tích và đánh giá hỗ trợ hoạt động khởi nghiệp của doanh nghiệp KH&CN.
- Về mặt thực tiễn: Luận văn đã làm rõ tính đặc thù của doanh nghiệp KH&CN trong
lĩnh vực CNTT. Đưa ra các giải pháp chính sách nhằm đáp ứng các yêu cầu thực tiễn, thực
hiện tốt công tác quản lý nhà nước, thúc đẩy sự phát triển của hoạt động khởi nghiệp và
đầu tư cho các dự án khởi nghiệp ngành CNTT có tiềm năng, góp phần đẩy mạnh phong
7
trào khởi nghiệp nói chung và khởi nghiệp trong lĩnh vực Công nghệ thông tin tại Việt Nam
nói riêng phát triển mạnh mẽ.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo và các biểu số
liệu, nội dung chính của Luận văn gồm có 3 chương như sau:
Chương 1. Cơ sở lý luận về khởi nghiệp và chính sách hỗ trợ doanh nghiệp khoa học
và công nghệ khởi nghiệp
Chương 2. Phân tích thực trạng chính sách khởi nghiệp của doanh nghiệp khoa học
và công nghệ lĩnh vực công nghệ thông tin.
Chương 3. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách hỗ trợ khởi nghiệp cho doanh
nghiệp khoa học và công nghệ lĩnh vực công nghệ thông tin.
8
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHỞI NGHIỆP VÀ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ
việc ứng dụng có trình tự các kỹ thuật đó mà theo hiểu biết của con người thì sẽ đạt
được một kết quả định trước (và đôi khi được kỳ vọng) trong một hoàn cảnh nhất định.
Theo khoa học luận: CN là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết,
công cụ và phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm.
Luật Khoa học và công nghệ năm 2013 và Luật Chuyển giao công nghệ năm 2006:
Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ,
phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm. Theo quan niệm này, công
nghệ bao gồm phần cứng (công cụ, phương tiện…) và phần mềm (kỹ năng, bí quyết,
kinh nghiệm…). Công nghệ là tập hợp chứ không phải tổng số, nguồn lực bao gồm
nhân lực, vật lực, tài lực. Sản phẩm của công nghệ có thể dưới dạng hữu hình hoặc vô
hình, vật thể hoặc phi vật thể [15]
Công nghệ là sản phẩm trí tuệ của con người, khi tham gia vào TTCN, nó là hàng
hóa đặc biệt. TTCN là nơi diễn ra các hoạt động mua bán, trao đổi công nghệ. Việc mua
bán, trao đổi công nghệ thông qua con đường đầu tư nước ngoài là một trong những
kênh phổ biến. Giá trị mua - bán loại hàng hóa này tùy thuộc phần lớn vào các tính chất
và đặc trưng của nó. Với tư cách là một loại hàng hóa, công nghệ có đặc trưng chủ yếu:
Vòng đời của công nghệ (Giới thiệu; Tăng trưởng; Bão hòa; Suy vong); Mức độ phức
tạp, độ tinh vi của các thành tố cấu tạo công nghệ [3]
Tóm lại, công nghệ là toàn bộ hệ thống công cụ, phương tiện kỹ thuật, bí quyết,
phương pháp tổ chức, quản lý nhằm khai thác, biến đổi nguồn lực thành các sản phẩm
hàng hóa, dịch vụ, nhằm đáp ứng nhu cầu của con người.
Là hệ thống các giải pháp được tạo nên bởi sự ứng dụng các tri thức khoa học để
giải quyết một vấn đề thực tiễn.
Là hệ thống quy trình kỹ thuật, chế biến vật chất hoặc chế biến thông tin nhằm
biến đổi các nguồn lực tự nhiên thành nguồn lực được sử dụng.
Là những giải pháp hoặc trí thức mà con người sử dụng trong hoạt động thực tiễn
để đạt được mục đích nhất định, như chế tạo sản phẩm, xây dựng một công trình hay
thực hiện một dịch vụ. Công nghệ là tổng hợp các phương tiện để tiến hành một hoạt
từ kết quả NC&PT do doanh nghiệp được quyền sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp; thực
hiện các nhiệm vụ KH&CN. Doanh nghiệp KH&CN thực hiện sản xuất, kinh doanh và
thực hiện các dịch vụ khác theo quy định của pháp luật” (Điều 1.2, Điều 2, Nghị định
80; Điều 2, Nghị định 96). Năm 2013, quy định về doanh nghiệp KH&CN được đề cập
11
trong văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao hơn, đó là Luật khoa học và
công nghệ [3].
Điều kiện để công nhận doanh nghiệp KH&CN được quy định cụ thể tại Thông tư
liên tịch số 17/2012/TTLT-BKHCN-BTC-BNV của liên Bộ KH&CN, Bộ Tài chính và
Bộ Nội vụ ban hành ngày 10/9/2012 (Thông tư 17): “Đối tượng thành lập doanh nghiệp
KH&CN hoàn thành việc ươm tạo và làm chủ công nghệ từ kết quả KH&CN được sở
hữu, sử dụng hợp pháp hoặc sở hữu hợp pháp công nghệ để trực tiếp sản xuất thuộc các
lĩnh vực: (1) Công nghệ thông tin - truyền thông, đặc biệt là công nghệ phần mềm tin
học; (2) Công nghệ sinh học, đặc biệt là công nghệ sinh học phục vụ nông nghiệp, thủy
sản, y tế; (3) Công nghệ tự động hóa; (4) Công nghệ vật liệu mới, đặc biệt là công nghệ
nano; (5) Công nghệ bảo vệ môi trường; (6) Công nghệ năng lượng mới; (7) Công nghệ
vũ trụ và một số công nghệ khác do Bộ KH&CN quy định; chuyển giao công nghệ hoặc
trực tiếp sản xuất trên cơ sở công nghệ đã ươm tạo và làm chủ hay sở hữu hợp pháp
công nghệ theo quy định của pháp luật theo các lĩnh vực đã nói ở trên” (Điều 1.2, Thông
tư 17). Như vậy quan điểm về doanh nghiệp KH&CNđược quy định bởi pháp luật Việt
Nam tương đối phù hợp quan điểm về doanh nghiệp KH&CN hiện nay trên thế giới. Sự
phù hợp được đánh giá mang tính chất “tương đối” vì cùng thống nhất ở những điểm
sau: (1) Mô hình tổ chức đều phải là doanh nghiệp; (2) Doanh nghiệp đó có khả năng
thực hiện đổi mới; (3) Sản xuất, kinh doanh dựa trên kết quả KH&CN. Tuy nhiên, quan
điểm của thế giới về doanh nghiệp KH&CN, là doanh nghiệp phải “thành lập mới (khởi
nguồn, khởi nghiệp)”, còn tại Việt Nam, yếu tố này không được đề cập. Quan điểm này
là phù hợp với điều kiện và bối cảnh thực tế tại Việt Nam. Bởi việc hình thành các
phải gắn với việc thành lập của một DN mới, thậm chí đôi khi bắt đầu chỉ là một ý
tưởng, dự án khởi nghiệp. Khía cạnh khác, mặc dù DN nào, ngành, nghề hoạt động kinh
tế nào cũng phải trải qua giai đoạn khởi nghiệp ban đầu nhưng startup lại thường được
dùng với nghĩa hẹp hơn rất nhiều, ám chỉ các DN công nghệ trong giai đoạn khởi nghiệp.
DN khởi nghiệp (hay nói gọn là startup hoặc start-up) là một loại hình doanh
nghiệp có thể dưới dạng một DN, một hiệp hội hay thậm chí một tổ chức tạm thời được
thiết lập để “mưu tìm” một mô hình kinh doanh ăn khách và linh hoạt. Những startup
này là doanh nghiệp mới thành lập, đang phát triển và đang tìm kiếm thị trường. Cái tên
startup, ngày nay trở nên phổ biến trên thế giới, được khởi đi từ thời bong bóng dot –
com (.com), thời mà vô vàn DN dot – com (DN kinh doanh trên internet với trang web
có đuôi .com) được thành lập. Vì nguồn gốc như thế, nhiều người coi startup chỉ là dạng
DN công nghệ. Nhưng, thời nay, khi công nghệ trở thành yếu tố đương nhiên, thì khi
13
nói đến DN startup ta phải nhấn mạnh đến 3 tính chất quan trọng của chúng: “có sáng
kiến đổi mới, quy mô linh hoạt, tăng trưởng nhanh”.
Steve và Bob (chuyên gia phát triển khách hàng, nhà sáng lập nhiều startup) giải
thích chữ “mưu tìm” trong định nghĩa startup có hai ý: một là từ doanh nghiệp nhỏ,
chẳng hạn một quán ăn, trong một thị trường thành thục, đầy quán sá, hướng đến trở
thành DN khác biệt lớn, hoặc có giá trị cao. Hai là tìm cách thực hiện một chiến lược
kinh doanh đổi mới để có thể khoan thủng thị trường hiện tại, như trường hợp của
Amazon, Uber hay Google.
Thêm nữa, startup không phải là phiên bản nhỏ của DN lớn. Một startup là một tổ
chức tạm thời, được thiết lập để mưu tìm một mô hình kinh doanh và thăm dò mức độ
hút thị trường của sản phẩm hoặc dịch vụ. Ngược lại, một DN lớn là một tổ chức đã tồn
tại lâu dài và đáp ứng tốt thị trường, nó đã được thiết kế để vận hành một mô hình kinh
doanh đã được xác định rõ, được công nhận hoàn toàn, đã vượt qua thử thách, đã được
thẩm tra chứng minh tính ổn định, rõ ràng, không tham vọng, luôn ăn khách và linh
a. Đầu tư thiên thần
Đây là những nhà đầu tư với số vốn nhỏ, thường xuất phát từ tài sản cá nhân và
dành cho những doanh nghiệp đang trong giai đoạn đầu tiên, phát triển ý tưởng thành
sản phẩm cụ thể. Số vốn này sẽ dành để trang trải cho việc nghiên cứu phát triển sản
phẩm để có thể tạo ra doanh thu và thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư khác. Các dự án
đầu tư thiên thần thường có giá trị nhỏ, tính rủi ro cao, đòi hỏi thời gian chờ đợi dài (có
thể tới 8 năm), và lợi nhuận chủ yếu chỉ đến sau khi doanh nghiệp khởi nghiệp thành
công, được định giá cao khi bán lại hoặc đưa lên sàn chứng khoán.
b. Đầu tư mạo hiểm
Đây là nhà đầu tư với số vốn lớn hơn nhiều so với đầu tư thiên thần. Những nhà
đầu tư này thường rót vốn cho những doanh nghiệp đã có khách hàng và doanh thu,
muốn mở rộng thị trường và quy mô doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp thành công trong
tương lai, lợi nhuận mà các quỹ đầu tư mạo hiểm thu về sẽ rất lớn. Mặc dù vậy, tỷ lệ rủi
ro bao giờ cũng đi kèm với giới đầu tư, tuy nhiên họ là những người có kinh nghiệm
dày dặn để đánh giá được những rủi ro và tỷ lệ thành công của mỗi doanh nghiệp. Nhà
đầu tư mạo hiểm thường đầu tư vào những doanh nghiệp có đội ngũ nhân lực tốt, có
khả năng phát triển sản phẩm chất lượng và có tính cạnh tranh cao trên thị trường. Điều
này sẽ làm tăng khả năng thành công cũng như giảm thiểu tỷ lệ rủi ro cho nhà đầu tư.
1.1.5. Vườn ươm DN khoa học & công nghệ
a. Khái niệm Vườn ươm DN KH&CN
15
Vườn ươm DN là tổ chức liên kết giữa trung tâm/ viện nghiên cứu, trường đại học,
chính quyền, các DN khởi sự (các nhóm, cá nhân có ý tưởng thành lập DN). Tổ chức
này có mục đích như một lồng ấp, nuôi dưỡng DN khởi sự trong thời gian nhất định để
các đối tượng này có thể vượt qua các khó khăn ban đầu, khẳng định sự tồn tại và phát
triển như những DN độc lập. [5, tr.12].
Các Vườn ươm là nơi có điều kiện thuận lợi về cơ sở hạ tầng kỹ thuật và cung cấp
khởi nghiệp và các tổ chức, cá nhân hỗ trợ khởi nghiệp trong mối quan hệ liên kết và
tương tác lẫn nhau trong một phạm vi hoạt động nhất định (thành phố, vùng, quốc gia,
lĩnh vực). Hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam bao gồm các thành phần chính sau: các
cá nhân, nhóm cá nhân, doanh nghiệp khởi nghiệp; các nhà đầu tư; trường đại học, viện
nghiên cứu; các tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp và chính sách hỗ trợ khởi nghiệp của nhà
nước.
Dựa vào khái niệm hệ sinh thái khởi nghiệp ở trên, ta dễ nhận thấy hệ sinh thái
khởi nghiệp sẽ bao gồm các yếu tố khác nhau tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị,
giáo dục…của từng địa phương. Isenberg (2014) cũng đã khẳng định rằng sẽ là sai lầm
17