Thi pháp văn xuôi tự sự trong truyện viết cho thiếu nhi của nhà văn nguyễn huy tưởng - Pdf 46

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------------------------------------

NGUYỄN HỮU NHẤT

THI PHÁP VĂN XUÔI TỰ SỰ TRONG TRUYỆN VIẾT CHO
THIẾU NHI CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN HUY TƢỞNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Hà Nội
1 - 2016


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------------------------------------

NGUYỄN HỮU NHẤT

THI PHÁP VĂN XUÔI TỰ SỰ TRONG TRUYỆN VIẾT CHO
THIẾU NHI CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN HUY TƢỞNG

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Lý luận Văn học
Mã số: 60.22.01.20

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS, TS Phạm Thành Hƣng

Hà Nội - 2016
2


3

1. Lý do chọn đề tài……................................................................

3

2. Lịch sử vấn đề…………………………………………………

4

3. Đối tượng, mục đích, phạm vi nghiên cứu…………………….

8

4. Phương pháp nghiên cứu………………………………………

9

5. Cấu trúc của luận văn………………………………………….

10

Chương 1: KHÁI LƯỢC VỀ THI PHÁP VĂN XUÔI TỰ SỰ VÀ
MẢNG TRUYỆN VIẾT CHO THIẾU NHI CỦA NGUYỄN HUY
TƯỞNG………………………………………………………………....

11

1.1. Khái lược về thi pháp văn xuôi tự sự của Nguyễn Huy

2.1. Thi pháp nhân vật…….…………………………………..….

24

2.1.1. Khái niệm nhân vật………………………….………..

24

2.1.2. Nhân vật trong truyện viết cho thiếu nhi của Nguyễn
Huy Tưởng…..…………………………………………………...

25

2.1.2.1. Nhân vật thiếu nhi…….………………………......

26

2.1.2.2. Nhân vật anh hùng………………………………..

30

2.1.2.3. Nhân vật từ thế giới loài vật…….……………..…

37

1


2.1.3. Một số biện pháp khắc họa nhân vật: …………...……


57

3.1. Người kể chuyện……..………………………….…………..

57

3.1.1. Khái lược về người kể chuyện…………...……….…..

57

3.1.1.1. Điểm nhìn trần thuật trong truyện thiếu nhi của
Nguyễn Huy Tưởng……...………………………………………

58

3.1.1.2. Mối quan hệ giữa người kể chuyện và điểm nhìn
trần

thuật

trong

truyện

thiếu

nhi

của


80

KẾT LUẬN…………….…………………………………………….…

88

TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………

91

2


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Với một di sản văn học phong phú, trải rộng trên khá nhiều lĩnh vực,
Nguyễn Huy Tưởng xứng đáng là một đại diện xuất sắc của nền văn học Việt
Nam hiện đại. Ông viết truyện ngắn, tiểu thuyết, soạn kịch, cả kịch bản sân
khấu lẫn kịch bản phim. Ở lĩnh vực nào ông cũng đạt được những thành công
nhất định. Với những đóng góp sáng tạo của mình, Nguyễn Huy Tưởng đã và
đang ngày càng thu hút được sự chú ý, tìm hiểu, lí giải, đánh giá không chỉ
trong giới nghiên cứu văn học nghệ thuật trong nước, mà cả ở nước ngoài.
Nguyễn Huy Tưởng là nhà văn đã dành trọn đời để sáng tác về các đề tài lịch
sử, kháng chiến, về thủ đô Hà Nội, nhưng sẽ là thiếu sót nếu không nói đến
mảng văn chương mà nhà văn đã dành tâm huyết để viết cho tuổi thơ như:
Tìm mẹ, Hai bàn tay chiến sĩ, Cô bé gan dạ, đặc biệt là những truyện lịch sử
như: An Dương Vương xây thành Ốc, Kể chuyện Quang Trung, Lá cờ thêu
sáu chữ vàng… đã góp phần tạo lập một “văn hiệu” thực sự đáng kính trọng
mang tên ông.
Ở mảng đề tài lịch sử trong các truyện viết cho thiếu nhi, Nguyễn Huy

Nguyễn Huy Tưởng phải được tính từ chuyên luận Nguyễn Huy Tưởng (19121960) của nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ và Hà Minh Đức, xuất bản năm 1966.
Trong công trình này các tác giả đã dành trọn chương Một để khảo sát sự
chuyển biến tư tưởng, con đường đến với văn chương và những bước đường
sáng tạo nghệ thuật của nhà văn từ một thanh niên yêu nước phấn đấu trở
thành một nhà văn cộng sản trên mặt trận văn nghệ. “Con đường đi của anh
không phải là thẳng tắp, dễ dãi. Có lúc anh bi quan, dao động, có lúc lòng tin
của anh bị lung lay nhưng nói chung con người đôn hậu, trung thực và đầy ý
thức trách nhiệm đó luôn luôn hướng về chân lý, hướng về Đảng. Ngòi bút
của anh lúc nào cũng đứng ở hàng đầu của cuộc chiến đấu cách mạng” [2, tr.
4


21]. Điều đáng ghi nhận trong công trình nghiên cứu này là các tác giả đã có
sự khảo sát kỹ về tư liệu, gắn tác phẩm với bối cảnh thời đại, trong hoàn cảnh
sáng tác cụ thể để thấy được ý nghĩa xã hội, tính thời sự và những hiệu ứng
tích cực trong sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng. Dựa trên nguyên lý và
phương pháp nghiên cứu theo quan điểm Mácxít, nghiêng về đánh giá, thẩm
bình những giá trị nội dung với những mô típ, kết cấu quen thuộc như: Hoàn
cảnh sáng tác, hình ảnh thời đại, thành công và một vài tồn tại, tinh thần dân
tộc trong tác phẩm, vai trò của quần chúng và cá nhân trong lịch sử, vài nét về
nghệ thuật…các tác giả chuyên luận đã đi sâu phân tích nội dung xã hội của
tác phẩm trong sự tương quan, gắn kết với hiện thực cuộc sống. Tuy nhiên
chúng tôi thấy trong chuyên luận đầu tay, có tính khai phá đầu tiên này, hai
nhà nghiên cứu còn thiên về miêu tả lại tác phẩm, tường thuật diễn biến cốt
truyện mà chưa đi sâu tìm hiểu những giá trị nghệ thuật, những nét đặc sắc
của một cây bút tài hoa.
Với độ lùi của thời gian, sự thông thoáng, đổi mới trong tư duy đánh
giá, nhìn nhận các hiện tượng văn học thời kỳ trước đổi mới, những vấn đề
đặt ra trong sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng tiếp tục trở thành đề tài được
bàn luận, nghiên cứu trên các diễn đàn khoa học với các bài viết công phu

một đời văn (Phương Ngân tuyển chọn và biên soạn)… Và đặc biệt phải kể
tới những công trình do Nguyễn Huy Thắng - con trai nhà văn, người đã dành
nhiều thời gian nghiên cứu, tìm hiểu về những trước tác của cha mình, về
những tâm sự, suy nghĩ khó nói của ông với mong muốn khắc họa một cách
chân thực, rõ nét gương mặt nhà văn, nhà văn hóa Nguyễn Huy Tưởng trong
cuộc sống đời thường và trong sáng tạo văn chương. Đó là các ấn phẩm có giá
trị như: Nguyễn Huy Tưởng trong vầng sáng hồi nhớ; Nguyễn Huy Tưởng
trước khi là nhà văn; Nguyễn Huy Tưởng với người thân; Nguyễn Huy Tưởng
văn và người…
6


Gần đây cuốn Nguyễn Huy Tưởng một nhà văn Hà Nội (Nxb Hà Nội,
2011) ra mắt bạn đọc nhân dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội và 50
năm ngày mất nhà văn. Cuốn sách tập hợp những bài viết, bài tham luận của
các học giả, các nhà nghiên cứu trong Hội thảo khoa học “Nguyễn Huy Tưởng
với Hà Nội” (do Hội Nhà văn, Viện Văn học và Nhà xuất bản Kim Đồng tổ
chức) đã nhấn mạnh đến những đóng góp và cống hiến to lớn của Nguyễn
Huy Tưởng - người nối dài những vẻ đẹp của Thăng Long, của Hà Nội dấu
xưa. Cuốn sách giới thiệu nhiều bài viết hay của các nhà nghiên cứu như:
Nguyễn Huy Tưởng, một nhà văn Hà Nội (Phạm Xuân Nguyên), Thăng Long
- Hà Nội trong kịch và truyện của Nguyễn Huy Tưởng (Phong Lê), Cốt cách
của một người viết sử (Dương Trung Quốc), Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng với
tuổi thơ Hà Nội (Lê Phương Liên)… Những nhận định, đánh giá của các nhà
nghiên cứu đã nói lên tầm vóc và những đóng góp của “một nhà văn Hà Nội”,
người đã mang đến cho đất kinh kỳ những trang văn hay nhất đời mình.
“Nguyễn Huy Tưởng vĩnh biệt Hà Nội khi thành phố Thủ đô vào tuổi chín
trăm năm mươi. Ông đã viết nhiều về Thăng Long - Hà Nội, nhưng hình như
điều sâu xa nhất ông vẫn chưa nói hết, nói trọn, nói xong. Ông ra đi mang
theo tất cả những trăn trở và ước vọng của một người con Hà Nội, một con

3.1. Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn sẽ hướng trọng tâm vào tìm hiểu thi pháp văn xuôi tự sự
truyện thiếu nhi như: Cô bé gan dạ, Chiếc bánh chưng, Truyện Tấm Cám,
Tìm mẹ, Thằng Quấy, Con cóc là cậu ông Giời, Con chim Trĩ lông trắng, An
Dương Vương xây thành Ốc, Hai bàn tay chiến sĩ, Điện Biên Phủ của chúng
em, Kể chuyện Quang Trung, Lá cờ thêu sáu chữ vàng viết cho thiếu nhi để
thấy được tài năng của nhà văn qua bình diện thi pháp tự sự như: người kể
chuyện, ngôn ngữ kể, tổ chức cốt truyện và hệ thống nhân vật. Cùng với khảo
sát 12 truyện nêu trên, ở đây chúng tôi còn khảo sát nhật ký của ông để làm rõ
8


hơn quan điểm, nghệ thuật truyện viết cho thiếu nhi mà ông đã dành cho độc
giả trẻ.
3.2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
Với đề tài đã chọn, luận văn của chúng tôi nhằm đem lại cách nhìn hệ
thống, chỉ ra những đặc điểm riêng biệt về các truyện ngắn viết cho thiếu nhi
của Nguyễn Huy Tưởng trong dòng chảy văn học viết cho thiếu nhi nói chung
của nước ta. Đồng thời, qua nghiên cứu truyện viết cho thiếu nhi của ông
chúng tôi cũng thử nghiệm vận dụng lý thuyết thi pháp văn xuôi tự sự vào
nghiên cứu một hiện tượng văn học cụ thể.
3.3. Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi kiến thức: Vận dụng lý thuyết tự sự học và các phương pháp
nghiên cứu cụ thể để làm rõ vấn đề về thi pháp văn xuôi tự sự như người kể
chuyện, nghệ thuật xây dựng nhân vật, tổ chức cốt truyện và ngôn ngữ kể
trong văn xuôi mảng đề tài viết cho thiếu nhi của nhà văn Nguyễn Huy
Tưởng. Đề tài được thực hiện cũng là dịp chúng tôi củng cố thêm kiến thức
văn học sử về văn học Việt Nam hiện đại.
- Phạm vi tư liệu: Thực hiện đề tài Thi pháp văn xuôi tự sự trong truyện
viết cho thiếu nhi của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng chúng tôi tập trung khảo

Trong việc định nghĩa thi pháp và thi pháp học, cũng như hầu hết các
phạm trù cơ bản của khoa học nghiên cứu văn học và nhiều bộ môn của khoa
học nhân văn, ta gặp phải một tình hình chung: ở trình độ phát triển hiện nay,
các khoa học này chưa có khả năng đưa ra được những định nghĩa “đơn
nghĩa” về đối tượng nghiên cứu của mình. Chính điều này đã liệt hầu hết khoa
học nhân văn vào lớp các khoa học “chưa trưởng thành”. Nếu như toán học
hoặc vật lý học đã có thể xây dựng những định nghĩa “đúng duy nhất” về
điểm, đường thẳng, vận tốc âm thanh, trị số mét,… thì ngược lại, có thể nói
rằng có bao nhiêu nhà nghiên cứu về truyện kể và thi pháp văn xuôi thì có gần
như bấy nhiêu định nghĩa về thể loại và về thi pháp với tư cách một phân
ngành khoa học. Xét về mặt định nghĩa, “thân phận của thi pháp học không
khác gì mấy so với thân phận tiểu thuyết”. Vì thế, cái dung sai mà viện sĩ M.
Khrapchenco đã dành cho các định nghĩa về thi pháp học của ông lại phải
cộng thêm những dung sai rất đa dạng mà mỗi người sử dụng. Tuy nhiên, có
thể nói định nghĩa của M. Khrapchenco vẫn là một trong những định nghĩa
tổng quát nhất và thuyết phục nhất về thi pháp học. Ông viết: “Không hề kỳ
vọng một định nghĩa thật đầy đủ, thật bao quát, tôi cho rằng có thể xác định
thi pháp học như một bộ môn khoa học nghiên cứu của các phương thức và
phương tiện thể hiện cuộc sống bằng nghệ thuật, khám phá cuộc sống bằng
hình tượng” [10, tr. 242].
Thi pháp học là khoa học về hình thức nghệ thuật. Ngay luận điểm xuất
phát đó đã chứa đựng một đặc trưng rất cơ bản của cách tiếp cận đối tượng
11


trong bộ môn này. Thi pháp học cần phát hiện ra những quy luật chi phối cái
thế giới hết sức đa dạng và phong phú các hiện tượng nghệ thuật.
Với tư cách là một khoa học, sự tiếp cận của thi pháp học với các đối
tượng của nó luôn có những xu hướng vươn đến tính hệ thống. Điều này tuyệt
nhiên không phải do ngẫu hứng của các nhà nghiên cứu hay thôi thúc của thời

trào lưu… Thi pháp học hiện đại đã khẳng định hướng nghiên cứu rất hiệu
quả của nó trong lĩnh vực nghiên cứu văn xuôi tự sự. Kết quả là tự sự học ra
đời và phát triển theo xu hướng “xin ở riêng”, tách lập như một phân ngành
khoa học độc lập bên cạnh thi pháp học truyền thống.
Do vậy, thi pháp văn xuôi tự sự được hiểu một cách giản dị như là kỹ
thuật kể, hay hệ thống thủ pháp, cách thức trần thuật và xây dựng hình tượng
trong các thể truyện ngắn và tiểu thuyết.
1.1.2. Thi pháp truyện kể cho thiếu nhi của Nguyễn Huy Tưởng.
Việc tiếp nhận và khảo cứu mảng truyện viết cho thiếu nhi của nhà văn
Nguyễn Huy Tưởng có thể được tiến hành từ nhiều góc độ khác nhau. Có một
số nhà sử học (như Dương Trung Quốc) tiếp cận di sản văn chương của
Nguyễn Huy Tưởng từ tiêu chí thẩm định về tư liệu lịch sử. Đối với các
truyện lịch sử viết cho thiếu nhi, các nhà sử học cũng có thể trân trọng rút ra
từ đó tính chân thực lịch sử và ý nghĩa giáo dục truyền thống của văn chương
Nguyễn Huy Tưởng. Nhiều công trình nghiên cứu văn học sử khi tiếp cận
hiện tượng Nguyễn Huy Tưởng cũng chủ yếu đánh giá đóng góp của nhà văn
về tính thời sự, ý nghĩa chính trị của đề tài và chủ đề tác phẩm. Phần lớn các
nghiên cứu đó đã ghi nhận những đóng góp của nhà văn ở phương diện nội
dung tư tưởng và tính hiện thực của tác phẩm. Trong luận văn này chúng tôi
quan tâm chủ yếu tới phương diện hình thức nghệ thuật như: ngôn ngữ, thủ
pháp dàn dựng kết cấu, nghệ thuật tổ chức cốt truyện, loại hình xây dựng

13


nhân vật. Tạm thời chúng tôi có những đánh giá sơ bộ về đặc điểm thi pháp tự
sự của Nguyễn Huy Tưởng gắn với các tác phẩm cụ thể sau:
Ngôn ngữ trong truyện của Nguyễn Huy Tưởng viết cho thiếu nhi, có
đặc điểm riêng khác để nhận ra với các tác giả cùng thời khác, một kiểu ngôn
ngữ mộc mạc, dân dã, dễ hiểu, cú pháp đơn giản, cơ bản, mang đặc trưng

Tìm Mẹ). Kết thúc truyện có phân biệt rõ các giá trị “Thiện - Ác”, “Tốt Xấu”, “Địch - Ta” như Cô bé gan dạ, hai bàn tay chiến sĩ, Lá cờ thêu sáu chữ
vàng, Kể chuyện Quang Trung; Cốt truyện tổ chức trên nguyên tác các mâu
thuẫn xã hội, mâu thuẫn địch ta, tuy nhiên chưa phát triển thành xung đột cao
trào.
Về loại hình nhân vật: các nhân vật trong truyện viết cho thiếu nhi của
nhà văn Nguyễn Huy Tưởng được hình thành qua ba tuyến nhân vật chính:
nhân vật thiếu nhi tiêu biểu là nhân vật Trần Quốc Toản truyện Lá cờ thêu
sáu chữ vàng, nhân vật cô Thứ truyện Cô bé gan dạ, nhân vật em Nhà và em
Gạo truyện Tìm mẹ; nhân vật anh hùng như An Dương Vương - truyện An
Dương Vương xây thành Ốc, nhân vật Quang Trung trong Kể chuyện Quang
Trung, nhân vật từ thế giới loại vật như con Cóc – truyện Con cóc là cậu ông
Giời, chim vàng anh truyện Tấm Cám…
1.2. Truyện viết cho thiếu nhi của Nguyễn Huy Tƣởng.
1.2.1. Vài nét về nhà văn Nguyễn Huy Tưởng.
Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng sinh ngày 06/5/1912, tại làng Dục Tú,
phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, nay là xã Dục Tú, huyện Đông Anh, Hà Nội. Cha
là một ông Tú nghèo, sống nhờ vợ tần tảo buôn bán. Khi Nguyễn Huy Tưởng
lên 7 tuổi thì cha mất, mẹ gửi ông ra Hải Phòng sống cùng gia đình người chị,
học tiểu học ở trường Bonnal. Năm 1932, khi 20 tuổi, ông đậu bằng Thành
Chung và cũng bắt đầu học chữ Hán. Ra trường, sau 3 năm vất vả tìm việc,
đến 1935 ông thi đậu vào ngạch thư ký Nhà Đoan (cơ quan hải quan). Năm
15


1939, ông cưới vợ, là tiểu thư con một vị quan ở Hải Phòng. Dù sống cuộc
sống công chức Nhà Đoan, nhưng Nguyễn Huy Tưởng có một đời sống nội
tâm phong phú, ông chăm đọc sách, chịu khó tìm ý tưởng, hàng ngày viết
nhật ký.
Từ năm 1938, Nguyễn Huy Tưởng đã hoạt động cho hội Truyền bá
quốc ngữ. Cuối năm 1944, bắt đầu tham dự các buổi họp bí mật của hội Văn

một cặp môi luôn luôn hé mở hoặc tủm tỉm cười làm cho anh có vẻ thật thà,
cả tin hết sức. Anh có một đức tính hiếm có ở một người đã ở vào một lứa
tuổi già dặn là hết sức khâm phục, dễ hâm mộ những chuyện gì hay, những
người nào tốt, hoặc anh cho là hay, là tốt…Có lẽ đó là nguyên nhân làm cho
sáng tác của anh về sau này phần nhiều thiên về ca ngợi, ca ngợi với tất cả
lòng chân thành, trọn vẹn và trong sáng không vẩn một chút dè dặt nào…
Anh Tưởng là một người say mê lý tưởng và rất lạc quan tin tưởng ở bản chất
tốt đẹp của con người”[16, tr. 532 - 540].
Với nhà văn Lưu Văn Lợi, người bạn học cùng trường Bonnal, từng có
những năm tháng làm việc với Nguyễn Huy Tưởng đã có nhận xét tinh tế về
người bạn thân của mình: “Trong lao động nghệ thuật, Tưởng có hai nét đặc
biệt: viết khó khăn, nhưng say sưa như không biết có gì xung quanh, viết viết,
gạc gạc, suy nghĩ tập trung mặt thẫn thờ, cho nên Nguyên Hồng mới đặt cho
Tưởng cái tên ông Mao Thuẫn (mặt thuỗn ra)” [17, tr. 31].
Bằng lối nói giàu hình ảnh, nhà thơ Xuân Diệu cảm nhận: “Huy Tưởng
không ánh chói, không làm người ta choáng phục ngay; nhưng anh chầm
chậm nói chuyện rất có duyên, và dần dần mới hay anh có một sức hấp dẫn
sâu sắc”[16, tr. 508].
Sau này trong Điếu văn của Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam đọc
khi Nguyễn Huy Tưởng mất, nhà thơ Nguyễn Đình Thi xúc động viết:
“Khiêm tốn trong đời sống hằng ngày, trong cách cư xử, trong khi viết
17


văn…Thật thà với từng ý nghĩ, với từng dòng chữ viết ra…anh là nhà văn của
lòng yêu và niềm tin cậy, anh hay nói đến niềm vui trong cuộc sống, miệng
anh cười nhân hậu, mắt anh mở nhìn về phía ánh sáng” [16, tr. 501-502].
Gần đây, khi đánh giá về con người và văn nghiệp của Nguyễn Huy
Tưởng, nhà nghiên cứu Phong Lê đã phác thảo rõ nét chân dung, con người
Nguyễn Huy Tưởng bằng những câu văn ngắn gọn, ấn tượng: “Con người

điều mà ông cảm thấy còn khiếm khuyết, hạn chế trong từng câu chữ, trang
văn.
Một đặc điểm nổi bật trong con người Nguyễn Huy Tưởng là đức tính
chân thành, tôn trọng sự thật, nhìn thẳng vào sự thật, không né tránh những
vấn đề mà cuộc sống đang đặt ra. Với quan điểm đúng đắn, tiến bộ về con
người, về nghệ thuật, Nguyễn Huy Tưởng kiên trì đấu tranh với những tư
tưởng tập thể giản đơn, công thức, những hành động nhất thời làm tổn thương
tình cảm, cuộc đời con người dù ông biết hậu quả sẽ phải nhận là những hiểu
lầm, những thiệt thòi, day dứt.
Trong sự nghiệp sáng tác của mình, Nguyễn Huy Tưởng đã để lại cho
đời sau nhiều tác phẩm có giá trị về văn chương và lịch sử. Về tiểu thuyết có
Đêm hội Long Trì (1942), An Tư công chúa (1944), Truyện Anh Lục (1955),
Bốn năm sau (1959), Sống mãi với Thủ đô (1960)... Về kịch có Vũ Như Tô
(1943), Cột đồng Mã Viện (1944), Bắc Sơn (1946), Những người ở lại (1948),
Anh Sơ đầu quân (tập kịch - 1949), Lũy hoa (1960)... Về truyện ký có Ký sự
Cao Lạng (1951), Chiến sĩ ca nô... Ngay trong lĩnh vực truyện thiếu nhi, ông
để lại những dấu ấn sâu sắc, có lẽ bởi ông chính là Giám đốc đầu tiên của Nhà
xuất bản Kim Đồng; với Lá cờ thêu sáu chữ vàng, Tìm mẹ, Hai bàn tay chiến
sĩ, Con cóc là cậu ông giời, An Dương Vương xây thành Ốc, Kể chuyện
Quang Trung, Cô bé gan dạ... và một tập Nhật ký Nguyễn Huy Tưởng, dày
1.700 trang.
19


Có thể nói con người Nguyễn Huy Tưởng có sự kết hợp hài hòa những
phẩm chất tốt đẹp của một người giàu lòng yêu nước, yêu lịch sử dân tộc;
không ngừng tìm tòi, sáng tạo để vươn tới những giá trị tốt đẹp của chân thiện - mỹ. Đường đời, đường cách mạng và đường văn chương Nguyễn Huy
Tưởng có sự song hành, bổ sung, thống nhất. Điều đó đã làm nên một chân
dung, phong cách Nguyễn Huy Tưởng độc đáo, ấn tượng.
1.2.2. Truyện viết cho thiếu nhi của Nguyễn Huy Tưởng trong dòng

tích như nhà văn hóa Nguyễn Đổng Chi, hay sưu tầm Tục ngữ phong dao như
học giả Nguyễn Văn Ngọc, nhà văn Nguyễn Huy Tưởng với ý thức sáng tạo
đã xuất phát từ truyện cổ tích sưu tầm ở dân gian như Cô bé gan dạ và sau
này là Tìm mẹ, viết nên những truyện ngắn như huyền thoại, làm ra một bản
sắc riêng trong văn học cho thiếu nhi.
Có thể nói rằng trong các tác phẩm này, dưới ngòi bút của nhà văn,
tiếng Việt đã trở nên tinh xảo và sinh động, có sức gợi mở trí tưởng tượng cho
người đọc. Truyện Cô bé gan dạ thể hiện hình ảnh một cô con gái liễu yếu
đào tơ, dám liều mình nhận làm vật hiến sinh cho con quái vật, để rồi đối mặt
chiến đấu với mãng xà và cuối cùng đã chiến thắng, diệt trừ được mối tai họa
cho dân làng. Tấm lòng của Nguyễn Huy Tưởng khi ông tâm niệm: “Văn
chương viết cho thiếu niên phải cốt làm sao cho bao giờ họ cũng có một tấm
lòng bồng bồng bột bột, mà vẫn biết lẽ phải, và vẫn biết thương nhau”. Điều
này sẽ còn được tác giả thể hiện rõ nét hơn, hào hùng hơn trong Lá cờ thêu
sáu chữ vàng sau này.
Đã có nhiều bài nói về các tác phẩm viết cho thiếu nhi của Nguyễn Huy
Tưởng, những bài của đồng nghiệp, bạn bè, nhà nghiên cứu như Tô Hoài, Vũ
Ngọc Bình, Văn Hồng, Vân Thanh... và cũng đã có nhiều hội thảo về sự
nghiệp văn học của ông trong đó có phần sáng tác cho thiếu nhi. Nhưng hình
như mỗi lần đọc lại tác phẩm của ông, ta lại thấy sáng ra một điều gì khác. Rõ
21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status