VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN NGỌC THƯƠNG HIỀN
ÁP DỤNG HÌNH PHẠT
TỪ THỰC TIỄN TỈNH BẮC GIANG
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2017
Công trình được hoàn thành tại
Học viện Khoa học Xã hội
Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trương Quang Vinh
Phản biện 1: TS. Đặng Quang Phương
Phản biện 2: TS. Nguyễn Trung Thành
Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn, họp tại Học viện
Khoa học Xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam.
Vào hồi: 09 giờ 00 ngày 17 tháng 10 năm 2017.
xét xử là trọng tâm của cải cách tư pháp. Trong cải cách tư pháp thì
1
hoạt động xét xử hình sự, trong đó có hoạt động áp dụng hình phạt
của Tòa án là quan trọng nhất.
Bắc Giang là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam, các
trung tâm thủ đô Hà Nội 50km, có diện tích tự nhiên 3.849,7 km²,
dân số 1.624.456 người (tính đến năm 2014), gồm 10 đơn vị hành
chính cấp huyện (01 thành phố và 09 huyện), có 05 dân tộc anh em
sinh sống là Kinh, Nùng, Sán Chay, Hoa và Tày.
Trong những năm gần đây, kinh tế của Bắc Giang phát triển
khá toàn diện và đang dần khẳng định được vị thế là Trung tâm kinh
tế lớn thứ hai của vùng Trung du và miền núi phía Bắc. Tuy nhiên,
trong các năm từ 2012 đến 2016, cùng với sự phát triển kinh tế, xã
hội thì tình hình tội phạm trên địa bàn tỉnh Bắc Giang có diễn biến
phức tạp về số lượng người phạm tội, quy mô, phương thức, hành vi
tội phạm tinh vi, trẻ hóa về độ tuổi phạm tội, không những gây thiệt
hại về kinh tế, văn hóa, xã hội mà còn làm mất an ninh trật tự xã hội,
gây hoang mang trong quần chúng. Đặc biệt, trong 03 năm gần đây,
hoạt động tư pháp ở Bắc Giang là điểm nóng trên cả nước do một số
vụ án hình sự đã tuyên án bị Hội đồng giám đốc thẩm hủy bản án,
tiêu biểu là vụ Nguyễn Thanh Chấn – Giết người (Bản án HSST số
45/2004/HSST ngày 26/3/2004, tuyên hình phạt chung thân) và vụ
Hàn Đức Long – Giết người, Hiếp dâm trẻ em (Bản án HSST số
48/2011/HSST ngày 24/9/2011, tuyên hình phạt tử hình).
Việc tuyên không đúng người phạm tội, áp dụng hình phạt khi
chưa đầy đủ chứng cứ kết tội không chỉ xâm phạm quyền con người,
lợi ích hợp pháp của công dân mà còn làm giảm niềm tin của nhân
dân đối với Đảng, Nhà nước và các cơ quan tư pháp, gây ảnh hưởng
- Tác giả Chu Thị Trang Vân với bài: “Vai trò sáng tạo của
Tòa án trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự”, Tạp chí Lập
pháp, số 27, tháng 9/2007;
3
- Tác giả Nguyễn Ngọc Chí với bài: “Chức năng của Tòa án
trong tố tụng hình sự trước yêu cầu cải cách tư pháp”, Tạp chí Khoa
học, Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2009;
- Tác giả Trịnh Quốc Toản với bài: “Những kiến nghị và giải
pháp hoàn thiện hình phạt bổ sung trong Bộ luật hình sự 1999 và
nâng cao hiệu quả của chế định này trong thực tiễn áp dụng”, Tạp
chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học 26 (2010);
- Tác giả Trịnh Quốc Toản với bài: “Một số lý luận về hình phạt
trong Luật hình sự”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học 27 (2011);
- Tác giả Trịnh Tiến Việt và Trần Thị Quỳnh với bài: “Miễn
hình phạt theo Luật hình sự Việt Nam và một số kiến nghị hoàn
thiện”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học 27 (2011);
Tuy nhiên, cho đến hiện nay rất ít đề tài ở cấp độ một luận văn thạc
sĩ luật học nghiên cứu cụ thể về “Áp dụng hình phạt” trên một địa bàn cụ
thể. Do đó, việc chọn vấn đề nghiên cứu của tác giải càng cho thấy ý nghĩa
lý luận thực tiễn và sâu sắc.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn về áp dụng
hình phạt trong xét xử hình sự của Tòa án nhân dân trên địa bàn tỉnh Bắc
Giang, nêu ra các giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật và
nâng cao hiệu quả về áp dụng hình phạt của Tòa án nhân dân.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận của áp dụng pháp luật trong việc giải
học thuyết của chủ nghĩa Mac – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về
nhà nước và pháp luật.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu: Phân tích, tổng hợp, so sánh, lịch sử
và lô gic, phương pháp thống kê, trong đó chú trọng các phương pháp
kết hợp giữa lý luận và thực tiễn.
5
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Đề tài là công trình nghiên cứu cơ bản và toàn diện ở cấp độ
luận văn thạc sĩ luật học về vấn đề áp dụng hình phạt của Tòa án
nhân dân trong thực tiễn xét xử. Đề tài đã phân tích và làm rõ cơ sở
lý luận về áp dụng hình phạt; cũng như đánh giá thực tiễn áp dụng
hình phạt của Tòa án trên địa bàn cụ thể là tỉnh Bắc Giang. Qua đó,
đưa ra được những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng hình phạt
của Tòa án nhân dân trong thực tiễn xét xử.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn đề xuất một số phương hướng và giải pháp cụ thể
nhằm góp phần nâng cao chất lượng giải quyết các vụ án hình sự của
TAND đáp ứng nhu cầu công cuộc cải cách Tư pháp hiện nay.
Luận văn còn có thể làm tài liệu trong tham khảo của các cán
bộ làm công tác pháp luật, những tác giả nghiên cứu khoa học cũng
như sinh viên và học viên các của cơ sở đào tạo luật.
7. Cơ cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,
đề tài được kết cấu thành 3 chương, gồm:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về áp dụng hình phạt
Chương 2: Thực tiễn áp dụng hình phạt trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
Do Bộ luật hình sự 2015, Bộ luật tố tụng 2015, Luật sửa đổi bổ
sung một số điều của BLHS 2015 chưa có hiệu lực thi hành nên trong
thực tiễn áp dụng hình phạt của Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Bắc
7
Giang chưa có trường hợp áp dụng với pháp nhân thương mại phạm
tội. Vì vậy, tác giả tập trung chủ yếu đi phân tích những vấn đề lý
luận cũng như thực tiễn về hoạt động áp dụng hình phạt của Tòa án
đối với người phạm tội.
1.1.2. Đặc điểm, vai trò, ý nghĩa của áp dụng hình phạt
1.1.2.1. Đặc điểm của áp dụng hình phạt
Thứ nhất, áp dụng hình phạt trong hoạt động giải quyết vụ án
hình sự là hoạt động nhân danh quyền lực nhà nước, do Tòa án tiến
hành được thực hiện bởi người có thẩm quyền là Hội đồng xét xử.
Thứ hai, áp dụng hình phạt trong xét xử hình sự của Tòa án
nhân dân chủ yếu được tiến hành tại phiên tòa công khai.
Thứ ba, áp dụng hình phạt trong xét xử hình sự của Tòa án
phải tuân thủ chặt chẽ về trình tự thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự
quy định.
Thứ tư, áp dụng hình phạt trong xét xử hình sự của Tòa án là
quá trình cá biệt hóa những quy phạm pháp luật hình sự đối với mỗi
bị cáo, đặc biệt là quy định của pháp luật hình sự về hình phạt và
quyết định hình phạt.
Thứ năm, áp dụng hình phạt mang tính sáng tạo (tùy nghi) cao.
1.1.2.2. Vai trò của áp dụng hình phạt
Một, hoạt động áp dụng hình phạt là một hoạt động, thể hiện ở
việc Tòa án tuân thủ các quy định của Bộ luật hình sự và bộ luật tố
tụng hình sự để tuyên một hình phạt đảm bảo tính công minh, có căn
cứ và đúng pháp luật với người phạm tội bị kết án.
dụng hình phạt đối với người phạm tội đều do các cơ quan có thẩm
quyền của nhà nước tiến hành, đó là: Cơ quan điều tra thực hiện các
hoạt động điều tra tội phạm; Viện kiểm sát thực hiện công tác kiểm
sát điều tra, thực hiện quyền công tố của Nhà nước, thay mặt nhà
9
nước truy tố bị can và buộc tội bị cáo trước Tòa án. Còn Tòa án thực
hiện hoạt động xét xử theo trình tự luật tố tụng hình sự quy định..
Quy trình của quá trình áp dụng hình phạt chính là việc Tòa án
phải xác định tội danh đối với bị cáo bị đưa ra xét xử, sau đó quyết
định áp dụng một loại hình phạt và lựa chọn một mức hình phạt
tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
1.2.2. Giới hạn áp dụng hình phạt
Hình phạt là hậu quả pháp lý của tội phạm. Pháp luật hình sự
nước ta không cho phép áp dụng hình phạt đối với những hành vi không
được quy định trong Bộ luật hình sự là tội phạm và nếu hình phạt ấy
cũng không được quy định trong hệ thống hình phạt hiện hành và trong
chế tài của điều luật cụ thể. Vì vậy, để giải quyết mâu thuẫn đó, về mặt
lập pháp phải làm thế nào để quy định một phạm vi hợp lý tối ưu; về mặt
tổ chức, quản lý phải xây dựng được một đội ngũ thẩm phán tinh thông
nghiệp vụ và có ý thức pháp luật; về thực tiễn phải tăng cường công tác
tổng kết kinh nghiệm để kịp thời có những hướng dẫn xét xử phù hợp.
1.2.3. Các căn cứ áp dụng hình phạt của Tòa án
1.2.3.1. Căn cứ quy định của pháp luật nội dung (BLHS)
Thứ nhất, căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự.
Thứ hai, căn cứ tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của
hành vi phạm tội
Thứ ba, căn cứ vào nhân thân người phạm tội
chấp hành án lại bị xét xử về tội đã phạm sau khi có bản án này.
Ngoài ra, BLHS cũng quy định trong trường hợp một người
phải chấp hành nhiều bản án đã có hiệu lực pháp luật mà các hình
phạt của các bản án chưa được tổng hợp, thì Chánh án Toà án ra
quyết định tổng hợp các bản án theo quy định tại khoản 1 và khoản 2
Điều 51 BLHS.
11
1.3.2. Áp dụng hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm
tội, phạm tội chưa đạt, đồng phạm và phạm nhiều tội.
1.3.2.1. Áp dụng hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm
tội, phạm tội chưa đạt.
Thứ nhất, quy định bổ sung cho căn cứ vào các quy định của
BLHS, đối với hành vi chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt, hình
phạt được quyết định theo các điều luật của Bộ luật này về tội phạm
tương ứng (khoản 1 Điều 52 BLHS).
Thứ hai, quy định bổ sung cho căn cứ vào tính chất và mức độ
nguy hiểm cho xã hội của hành vi. Theo khoản 1 Điều 52 BLHS, đối
với hành vi chuẩn bị phạm tội và hành vi phạm tội chưa đạt, hình
phạt đựơc quyết định theo các điều của Bộ luật này về các tội phạm
tương ứng tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành
vi, mức độ thực hiện ý định phạm tội và những tình tiết khác khiến cho tội
phạm không thực hiện được đến cùng.
1.3.2.2. Áp dụng hình phạt trong trường hợp đồng phạm
Một, Tòa án tuân thủ theo quy định chung về căn cứ quyết định
hình phạt được quy định tại Điều 45 BLHS, đồng thời trình tự thủ tục
khi áp dụng của Tòa án vẫn phải đảm bảo theo quy định của
BLTTHS.
phạm và xuất phát từ nguyên tắc nhân đạo XHCN, luật hình sự quy định
các hình phạt sau được áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội:
Cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ và tù có thời hạn. Tử hình và
tù chung thân là những hình phạt chính, nghiêm khắc nhất, chỉ áp dụng
đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng. Nhưng khi người chưa
thành niên phạm tội, ý thức phạm tội của họ không cao và họ chịu sự chi
phối, ảnh hưởng rất lớn từ điều kiện và hoàn cảnh xã hội. Do đó, luật
hình sự quy định không áp dụng tử hình và tù chung thân đối với người
chưa thành niên phạm tội.
13
Các hình phạt bổ sung được quy định trong BLHS trong mối
liên hệ tương hỗ với các hình phạt chính, có tác dụng đảm bảo cho
các mục đích của hình phạt. Người chưa thành niên là người chưa
phát triển đầy đủ cả về thể chất cũng như trí tuệ.
1.3.5. Miễn hình phạt
Miễn hình phạt là việc Tòa án không buộc người phạm tội phải
chịu biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước về hình
phạt về tội phạm mà người đó đã thực hiện trong bản án kết tội đã có
hiệu lực khi đáp ứng các điều kiện do luật định, đồng thời xét thấy
vẫn đảm bảo yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm và giáo dục,
cải tạo người phạm tội.
Theo Điều 54 BLHS thì điều kiện để miễn hình phạt: “Người
phạm tội có thể được miễn hình phạt trong trường hợp phạm tội có
nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật
này, đáng được khoan hồng đặc biệt, nhưng chưa đến mức được
miễn trách nhiệm hình sự”.
Ngoài ra, BLHS còn quy định thêm về 02 trường hợp được miễn
hình phạt.
tuổi lao động chiếm khoảng 62,15% dân số, trong đó lao động được đào tạo
nghề chiếm 26%; số hộ nghèo chiếm 8,88%. Mật độ phân bố dân cư trên địa
bàn tỉnh không đồng đều, phần lớn tập trung ở các khu vực trung du. Các
huyện miền núi dân cư sống thưa thớt hơn.
15
Về quy hoạch kinh tế trước đây Bắc Giang nằm trong vùng
trung du và miền núi phía Bắc, từ năm 2012 là tỉnh nằm trong quy
hoạch vùng Thủ đô Hà Nội. Cơ cấu tỉnh thiên về nông nghiệp, tuy
nhiên trong những năm gần đây cơ cấu lao động trong tỉnh đang có
sự chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng lao động trong lĩnh vực
sản xuất công nghiệp, dịch vụ, giảm dần tỷ trọng lao động trong lĩnh
vực sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp. Sự chuyển dịch này phù hợp
với xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên địa bàn tỉnh.
Trong những năm gần đây, kinh tế của Bắc Giang phát triển khá
toàn diện và đang dần khẳng định được vị thế là Trung tâm kinh tế lớn
thứ hai của vùng Trung du và miền núi phía Bắc. Năm 2016, tốc độ tăng
trưởng tổng sản phẩm của tỉnh (GRDP) tăng cao nhất kể từ năm 1997,
ước đạt 10,4%, vượt 0,4% so với kế hoạch; trong đó nông, lâm nghiệp
và thủy sản tăng 2,7%; công nghiệp - xây dựng tăng 16,8% (công nghiệp
tăng 19,8%, xây dựng tăng 8,3%), dịch vụ tăng 7,6%; GRDP bình
quân/người ước đạt 1.750 USD, tăng 260 USD so với năm 2015.
Các điều kiện, yếu tố về đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội trên
ảnh hưởng không nhỏ đến việc áp dụng hình phạt của ngành Tòa án ở
tỉnh Bắc Giang.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân
ở tỉnh Bắc Giang
Hệ thống tổ chức của Tòa án nhân dân ở tỉnh Bắc Giang gồm:
Tòa án nhân dân tỉnh có 04 tòa chuyên trách, 03 phòng việc và 10
Tòa án nhân dân, quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh và
tương đương, khi phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới
theo quy định của luật tố tụng thì kiến nghị với Chánh án TAND cấp
cao, Chánh án TAND tối cao xem xét, kháng nghị; 4. Giải quyết việc
khác theo quy định của pháp luật” .
Bằng hoạt động của mình, trong đó có hoạt động áp dụng pháp luật
nói chung và áp dụng hình phạt nói riêng, Tòa án góp phần giáo dục công
17
dân trung thành với Tổ quốc, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, tôn trọng
những nguyên tắc của cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh phòng, chống tội
phạm, các vi phạm pháp luật khác.
Từ năm 2012 đến 2016, hai cấp Tòa án trên địa bàn tỉnh Bắc
Giang giải quyết trung bình 1737 vụ án hình sự/năm theo thẩm quyền
xảy ra trên địa bàn (cả sơ thẩm và phúc thẩm). Kết quả giải quyết
hàng năm đều đạt trên 90% các vụ án đã thụ lý, đạt chỉ tiêu đã đề ra,
góp phần không nhỏ trong công tác đảm bảo an ninh chính trị, trật tự
an toàn xã hội tại địa phương.
2.2. Thực tiễn áp dụng hình phạt trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
2.2.1. Tình hình tội phạm ở tỉnh Bắc Giang.
Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, tình hình tội phạm diễn biến
phức tạp, hàng năm trên địa bàn tỉnh xảy ra khoảng 1737 vụ án hình sự,
chủ yếu là các tội phạm về ma túy và các tội phạm xâm phạm tính mạng,
sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người.
2.2.2. Kết quả xét xử hình sự của Tòa án nhân dân hai cấp
trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
- Tổng thụ lý: 7920 vụ/17352 bị cáo (sơ thẩm là 6128
vụ/14158 bị cáo, phúc thẩm là 1792 vụ/3194 bị cáo).
- Tổng giải quyết: 7781 vụ/17036 bị cáo (sơ thẩm là 6030 vụ/13920
Trong cơ cấu hình phạt bổ sung được áp dụng trên địa bàn tỉnh
Bắc Giang, hình phạt giai đoạn từ năm 2012 đến 2016, hình phạt tiền
chiếm phần lớn (96,86%), tiếp đến là hình phạt Cấm đảm nhiệm chức
vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định (3,14%), các hình
phạt bổ sung khác như: cấm cư trú, quản chế, tước một số quyền
công dân, tịch thu tài sản, trục xuất (khi không là hình phạt chính) là
không có.
2.2.4.2. Trong xét xử án hình sự phúc thẩm
Theo số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang,
trong giai đoạn từ năm 2012 đến 2016, chỉ có 02 trường hợp Tòa cấp
19
phúc thẩm (Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang) sửa việc áp dụng hình
phạt bổ sung của Tòa cấp sơ thẩm và đều ở năm 2013.
2.3. Những ưu điểm, hiệu quả đạt được và những tồn tại,
hạn chế trong việc áp dụng các hình phạt chính và hình phạt bổ
sung trên địa bàn tỉnh Bắc Giang giai đoạn từ năm 2012-2016.
2.3.1. Những ưu điểm, hiệu quả đạt được
Thứ nhất, việc Tòa án xử lý, giải quyết nhanh, áp dụng hình
phạt đúng đối với các vụ án hình sự phần nào khắc phục được tình
trạng tồn đọng án, góp phần bảo vệ tình hình an ninh chính trị và duy
trì trật tự xã hội tại địa phương.
Thứ hai, chất lượng hoạt động áp dụng hình phạt của Tòa án
trên địa bàn tỉnh Bắc Giang ngày càng được nâng cao.
Thứ ba, thông qua hoạt động xét xử (áp dụng hình phạt), Tòa án
nhân dân hai cấp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang tập trung xử lý nghiêm khắc
những vụ án thuộc những lĩnh vực nhạy cảm của đời sống xã hội. Thông
qua đó tạo niềm tin về pháp luật trong nhân dân.
2.3.2. Những tồn tại, hạn chế
Ba, nâng cao chất lượng hoạt động áp dụng hình phạt xuất phát
từ yêu cầu đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, vì sự ổn
định và phát triển bền vững của đất nước.
3.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả trong áp dụng
hình phạt trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
3.2.1. Các giải pháp về hoàn thiện pháp luật
Thực tế còn một số quy định của BLHS năm 2015 bộc lộ sự bất
cập, không hợp lý cần được kịp thời sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện
hơn. Đó là các quy định liên quan đến căn cứ quyết định hình phạt, chế
21
định miễn trách nhiệm hình sự, quy định về tù có thời hạn, hình phạt
quản chế và phạt tiền. Trong bài, người viết đưa ra từng kiến nghị hoàn
thiện đối với từng quy định trên.
Thứ nhất, căn cứ miễn trách nhiệm hình sự
Thứ hai, về căn cứ quyết định hình phạt
Thứ ba,về quy định hình phạt tù có thời hạn
Thứ tư, việc định lượng bằng số tiền cụ thể đối với một số tội
về chiếm đoạt tài sản như trộm cắp, hủy hoại, lừa đảo, lạm dụng, đưa
hối lộ… trong BLHS có mặt tích cực là thuận lợi cho việc áp dụng hình
phạt của cơ quan tiến hành tố tụng xác định tội danh
Thứ năm, về hình phạt thì hình phạt cải tạo không giam giữ
quy định tại Điều 31 BLHS
Thứ sáu, đối với hình phạt tiền, căn cứ vào Bộ luật hình sự, có
ý kiến cho rằng BLHS quy định hình phạt tiền được áp dụng là hình
phạt chính đối với tất cả các tội ít nghiêm trọng xâm phạm trật tự
quản lý kinh tế, trật tự công cộng, trật tự quản lý hành chính.
3.2.2. Các giải pháp cụ thể về tăng cường nâng cao chất
lượng áp dụng hình phạt của Tòa án nhân dân.
viên, của người bào chữa, của bị cáo, nguyên đơn, bị đơn.
Nâng cao chất lượng xét xử của Tòa án nói chung xét xử hình
sự nói chung và nâng cao hiệu quả trong áp dụng hình phạt nói riêng là
yêu cầu cấp thiết hiện nay. Qua nghiên cứu thực tế, toàn bộ hoạt động
xét xử hình sự nói chung và áp dụng hình phạt của Tòa án nhân dân hai
cấp tỉnh Bắc Giang trong 05 năm từ 2012 đến 2016 cho thấy: Hoạt động
áp dụng hình phạt của Tòa án là do HĐXX áp dụng tại phiên tòa, theo
thủ tục tố tụng hình sự, kết quả được thể hiện dưới hình thức là những
bản án. Trong những năm qua, hầu hết hoạt động áp dụng hình phạt của
23