LỜI MỞ ĐẦU
Tòa án là cơ quan có chức năng giải quyết các tranh chấp về dân sự, hôn
nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động. Để giải quyết các tranh
chấp này, Tòa án phải thụ lí. Tuy nhiên, hoạt động thụ lí của Tòa án có phát sinh
hay không phụ thuộc vào việc thời hiệu quyền khởi kiện vụ án dân sự của đương
sự có đúng với các quy định của pháp luật không, đối tượng tranh chấp được xác
định trên cơ sở yếu cầu của bên này đối với bên kia có thuuoocj thẩm quyền giải
quyết của Tòa án hay không. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, em xin chọn đề tài
“Điều kiện thụ lí vụ án dân sự và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn để này”
làm bài tập học kì của mình.
NỘI DUNG
I.
Khái quát chung về thụ lí vụ án dân sự
1. Khái niệm thụ lí vụ án dân sự
Thụ lí vụ án dân sự là việc tòa án nhân dân nhận đơn khởi kiện của người
khởi kiện và vào sổ thụ lí vụ án dân sự để giải quyết.
Thụ lí vụ án dân sự là công việc đầu tiên của tòa án trong quá trình tố
tụng. Nếu khhoong có việc thụ lí vụ án của tòa án sẽ không có các bước tiếp
theo của quá trình tố tụng. Thụ lí vụ án dân sự bao gồm hai hoạt động cơ bản là
nhận đơn khởi kiện xem xét và vào sổ thụ lí vụ án dân sự để giải quyết.
2. Đặc điểm thụ lí vụ án dân sự
Thụ lí VADS là một hoạt động của tòa án có thẩm quyền thực hiện
Thụ lí VADS chỉ được thực hiện khi có yêu cầu khởi kiện của chủ thể có
quyền khời kiện.
Thụ lí VADS không phải là một hoạt động tố tụng độc lập mà nó là cả một
quy trình gồm nhiều bước khác nhau để đi đến kết quả là tòa án vào sổ thụ lí
VADS.
3. Ý nghĩa của thụ lí vụ án dân sự
4) Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện.
2. Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện
Theo quy định tại Điều 193 BLTTDS 2015, trong trường hợp đởn khởi
kiện không có đủ các nội dung quy định tại khoản 4 Điều 189 BLTTDS 2015 thì
thẩm phán phải thông báo hco người khởi kiện để họ sửa đổi, bổ sung trong một
thời hạn do thẩm phán ấn định nhưng không quá 1 tháng; trong trường hợp đặc
biệt, thẩm phán có thể gia hạn nhưng không quá 15 ngày. Trong trường hợp
người khởi kiện sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo đúng quy định của
BLTTDS 2015 thì thẩm phán phải tiếp tục làm thủ tục thụ lí vụ án; nếu họ không
2
sửa đổi, bổ sung theo yêu cầu của thẩm phán thì thẩm phán trả lại đơn khởi kiện
và tài liệu, chuwngs cứ kèm theo cho người khởi kiện.
3. Xác định tiền tạm ứng án phí và thông báo cho người khởi kiện
Điều 195 BLTTDS 2015 quy định, sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu,
chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án
thì thẩm phán phải xác định tiền tạm ứng án phí và thông báo ngay cho người
khởi kiện biết để họ đến tòa án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong trường
hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí.
Thẩm phán dự tính số tiền tạm ứng, ghi vào phiếu bảo và giao cho người
khởi kiện để họ nộp tiền tạm ứng án phí. Trong thời gian 7 ngày kể từ ngày nhận
được giấy bảo của tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải
nộp tiền tạm ứng án phí.
4. Vào sổ thụ lí vụ án dân sự và thông báo việc thụ lí vụ án
Khi người khởi kiện nộp cho tòa án biên lai nộp tiền tạm ứng án phí thì
thẩm phán thụ lí vụ án và vào sổ thụ lí VADS.
Trong trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền
tạm ứng án phí thì thẩm phán phải thụ lí vụ án khi nhận được đơn khởi kiện và
tài liệu, chứng cứ kèm theo.
khăn do không có tiền để nộp tạm ứng án phí nhưng họ lại không thuộc trường
hợp được miễn, phải đi vay, mượn nên việc nộp tiền tạm ứng án phí muộn theo
thời gian luật định. Về nguyên tắc, tòa án thụ lí vụ án sau khi đương sự nộp tiền
tạm ứng án phí, nhưng trong thực tế có trường hợp tòa án vào sổ thụ lí trước.
IV.
Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thụ lí vụ án dân sự
Về trình tự giải quyết đơn, nếu quy định mỗi Tòa án một bộ phận chuyên
trách giải quyết đơn. Bộ phận này sẽ làm nhiệm vụ trực tiếp nhận đơn do đương
sự nộp và giải quyết đơn như xem xét thụ lí, chuyển đơn đến tòa án có thẩm
quyền hoặc trả lại đơn khởi kiện. Quy định như vậy sẽ giảm bớt thời gian thụ lí,
đảm bảo tính chuyên môn, nâng cao trách nhiệm của cán bộ được phân công thụ
lí vụ án. Tham khảo pháp luật một số nước về vấn đề này để thấy rằng mỗi tòa
án đểu tổ chức một bộ phân thụ lí xem xét đơn khởi kiện. Bộ phân này sẽ trực
tiếp nhận đơn, xem xét đơn khởi kiện nếu đủ điều kiện sẽ cho vào sổ thụ lí.
Về hậu quả pháp lí của việc không gửi cho tòa án ý kiến bằng văn bản,
cần bổ sung điểm h khoản 2 Điều 196 BLTTDS 2015, theo đó quy định rõ hậu
quả pháp lí là đương sự sẽ gặp bất lợi vì tòa án giải quyết vụ án dựa trên căn cứ
4
do nguyên đơn cung cấp; tòa án có quyền giải quyết vụ án vắng mặt một bên
theo những tài liệu, chứng cứ do người khởi kiện đưa ra vì không có sự phản đối
nào từ phía bên kia. Đồng thời quy định trong thông báo việc thụ lí vụ án phải
nêu rõ quyền được xem, sao chụp đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ do
nguyên đơn cung cấp của những người được thông báo. Quy định như vậy sẽ đề
cao được trách nhiệm của người được thông báo trong việc thực hiện quyền và
nghĩa vụ của mình.
Về thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí, nên sửa đổi điều 195 BLTTDS quy