VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ THU HƢƠNG
CHÍNH SÁCH XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, năm 2017
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH XUẤT
KHẨU LAO ĐỘNG .................................................................................................. 7
1.1. Xuất khẩu lao động .............................................................................................. 7
1.2. Chính sách xuất khẩu lao động .......................................................................... 14
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2011-2016 ....... 32
2.1. Khái quát chung về tỉnh Quảng Nam ................................................................. 32
2.2. Chính sách xuất khẩu lao động trên địa bàn tỉnh Quảng Nam trong giai đoạn
2011-2016.................................................................................................................. 33
2.3. Thực trạng XKLĐ của tỉnh Quảng Nam trong giai đoạn 2011-2016 ................ 42
2.4. Đánh giá chính sách XKLĐ trên địa bàn tỉnh Quảng Nam trong giai đoạn
2011-2016.................................................................................................................. 46
CHƢƠNG 3. HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM ................................................................ 62
3.1. Nhu cầu, mục tiêu định hướng hoàn thiện chính sách xuất khẩu lao động trên
Hội đồng nhân dân
4
KT-XH
Kinh tế - Xã hội
5
LĐ
Lao động
6
LĐ-TB&XH
Lao động - Thương binh và Xã hội
7
UBND
Ủy ban nhân dân
8
XHCN
2.3:
Lương cơ bản ở một số ngành nghề tại Hàn Quốc
45
2.4:
Lương cơ bản một số ngành nghề tại Malaisia
45
2.5:
Lương cơ bản ở một số ngành nghề tại Đài Loan
46
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quảng Nam là một tỉnh có dân số đông (gần 1,5 triệu người), LĐ chưa có việc
làm và thiếu việc làm còn nhiều, LĐ nông - lâm - ngư nghiệp vẫn còn chiếm tỷ trọng
lớn trong cơ cấu LĐ (năm 2016, chiếm 48,12%), tỷ lệ hộ nghèo còn cao (năm 2016 là
11,13%); vì vậy, cho đến nay XKLĐ vẫn là giải pháp quan trọng trong công tác giải
quyết việc làm, giảm nghèo bền vững của tỉnh.
Với hệ thống chính sách về XKLĐ ngày càng hoàn thiện, chặt chẽ, đồng bộ phù
hợp với điều kiện phát triển KT-XH của đất nước cũng như xu hướng hội nhập kinh tế
quốc tế của nước ta và thị trường LĐ quốc tế; công tác quản lý, bảo vệ quyền và lợi
nước để khuyến khích người LĐ, cơ sở dạy nghề, doanh nghiệp tham gia XKLĐ chưa
được quan tâm thực hiện...
Tình hình trên đòi hỏi cần phải nghiên cứu, hoàn thiện chính sách XKLĐ; đồng
thời, điều chỉnh quá trình tổ chức triển khai thực hiện chính sách một cách hợp lý để
công tác XKLĐ của tỉnh đạt kết quả cao hơn, từ đó có những đóng góp tích cực vào
kết quả giải quyết việc làm, giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh. Các chính sách
XKLĐ hiện nay cần phải được rà soát, đánh giá lại một cách toàn diện nhằm hạn chế
sự chồng chéo, dàn trải, thiếu khả thi, kém hiệu quả. Quá trình tổ chức thực hiện cũng
cần xác định lại để phát huy những mặt tích cực; điều chỉnh, sửa đổi những mặt còn
hạn chế. Vai trò, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan và năng lực thực
hiện nhiệm vụ của cán bộ làm công tác XKLĐ cũng cần xem xét, đánh giá một cách
khách quan hơn. Việc đổi mới phương pháp đánh giá chính sách XKLĐ nhằm giúp
các cấp, các ngành liên quan xác định đúng các bất cập của chính sách trong đời sống
KT-XH, nhìn nhận lại năng lực thể chế và năng lực thực thi chính sách từ đó có giải
pháp khắc phục là hết sức cần thiết. Hoàn thiện chính sách XKLĐ vừa là nhu cầu, vừa
là yêu cầu đặt ra đối với các cấp, các ngành liên quan và các địa phương nhằm nâng
cao hiệu quả thực hiện công tác này trong tình hình mới.
Với những lý do trên, tôi đã lựa chọn vấn đề "Chính sách xuất khẩu lao động từ
thực tiễn tỉnh Quảng Nam" làm đề tài tốt nghiệp của mình với mong muốn củng cố lại
cơ sở lý luận về XKLĐ, làm rõ hơn cơ sở lý luận về chính sách XKLĐ; hệ thống lại
các cơ chế, chính sách đã và đang triển khai thực hiện trên địa bàn tỉnh trong giai đoạn
2011-2016; cung cấp thêm cho các cấp, các ngành chức năng một góc nhìn tương đối
2
tổng hợp về tình hình triển khai thực hiện các chính sách XKLĐ trên địa bàn tỉnh trong
thời gian qua và tham gia đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần tháo gỡ các khó
khăn, hạn chế, tồn tại trong công tác XKLĐ trong thời gian đến.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm qua, vấn đề XKLĐ đã thu hút sự quan tâm của nhiều học giả
Trường Giang - Cục Quản lý LĐ ngoài nước.
Trong đề tài Luận án tiến sỹ nói trên cũng như các báo cáo, bài viết liên quan,
về phần lý luận chỉ mới đề cập đến lý luận về XKLĐ, chưa đề cập đến lý luận về chính
sách XKLĐ ở Việt Nam; về thực tiễn chủ yếu phản ánh về thực trạng hoạt động
XKLĐ của Việt Nam từ trước năm 2010 hoặc thực trạng công tác XKLĐ tại các huyện
nghèo của nước ta từ năm 2009 đến 2014 hoặc khái quát tình hình thực hiện công tác
XKLĐ của tỉnh Quảng Nam trong từng năm qua từ đó đề xuất một số giải pháp thực
hiện công tác XKLĐ mà chưa thực sự đi sâu phân tích, đánh giá cụ thể về mục tiêu,
phương hướng, giải pháp thực hiện công tác XKLĐ trong bối cảnh hiện nay và những
năm đến (giai đoạn 2017-2020). Đặc biệt, chưa có một đề tài nào nghiên cứu về nội
dung chính sách XKLĐ nói chung và nhất là về chính sách XKLĐ trên địa bàn tỉnh
Quảng Nam trong giai đoạn 2011-2016.
Chính vì vậy, tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài "Chính sách xuất khẩu lao động từ thực
tiễn tỉnh Quảng Nam" làm đề tài tốt nghiệp của mình với các nội dung chính: những vấn đề lý
luận và thực tiễn về XKLĐ, chính sách XKLĐ; thực trạng thực hiện chính sách XKLĐ từ
thực tiễn tỉnh Quảng Nam; đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện chính sách
XKLĐ trên địa bàn tỉnh trong thời gian đến. Các công trình khoa học, báo cáo, bài viết... nêu
trên là tài liệu tham khảo có giá trị cho việc nghiên cứu và hoàn thiện bản Luận văn này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của đề tài là vận dụng lý luận về chính sách XKLĐ ở Việt Nam để
phân tích, đánh giá thực tiễn thực hiện chính sách XKLĐ ở tỉnh Quảng Nam, tìm ra
những bất cập từ đó đề xuất các giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện chính sách
XKLĐ trong những năm tiếp theo.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, nghiên cứu những vấn đề lý luận về chính sách XKLĐ ở Việt Nam.
Thứ hai, nghiên cứu thực trạng thực hiện các chính sách XKLĐ từ thực tiễn tại
tỉnh Quảng Nam.
Thứ ba, trên cơ sở đánh giá kết quả thực hiện chính sách XKLĐ tại Quảng
Sử dụng kết hợp các phương pháp thống kê, khái quát thực tiễn, phương pháp phân
tích định tính, suy luận logic, diễn giải trong quá trình phân tích đánh giá chính sách.
5
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
- Đề tài này có ý nghĩa về mặt lý luận, giúp người học nghiên cứu, bổ sung kiến
thức lý thuyết về chính sách XKLĐ ở Việt Nam; vận dụng các lý thuyết về quy trình
phân tích chính sách công, đánh giá chính sách công để đánh giá thực tiễn thực hiện
chính sách XKLĐ ở địa phương.
- Kết quả nghiên cứu đề tài minh chứng cho việc vận dụng các lý thuyết phân
tích chính sách công, đánh giá chính sách công là cần thiết trong quá trình nghiên cứu
thực tiễn thực hiện chính sách XKLĐ, từ đó góp phần hoàn thiện chính sách XKLĐ ở
nước ta nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của chính sách XKLĐ đã ban hành.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần giúp cán bộ các cấp, các ngành,
Hội đoàn thể từ tỉnh đến cơ sở hiểu rõ hơn về lý luận chính sách XKLĐ; xem xét giữa
lý luận và thực tiễn thông qua kết quả thực hiện chính sách XKLĐ tại tỉnh Quảng
Nam; xác định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ XKLĐ trong thời gian tới.
- Kết quả nghiên cứu đề xuất các giải pháp điều chỉnh các chính sách XKLĐ
phù hợp hơn với yêu cầu thực tiễn đặt ra và cải tiến phương pháp, phương thức tổ chức
triển khai thực hiện chính sách XKLĐ; giúp người LĐ có khả năng tiếp cận các chính
sách XKLĐ và tham gia cùng Nhà nước đưa các chính sách XKLĐ vào thực tiễn; qua
đó, nâng cao hiệu quả thực hiện công tác XKLĐ góp phần giải quyết việc làm, phát
triển KT-XH địa phương.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận, danh mục bảng số liệu, danh mục tài
liệu tham khảo, Luận văn được trình bày theo 3 Chương:
khi mua sức LĐ sẽ sử dụng nó có hiệu quả.
Về xã hội: sức LĐ nói ở đây có nội hàm rộng, bao gồm các nhân tố thể lực, trí
lực và tâm lực của người LĐ. Đồng thời nó cũng là vốn của con người, phản ánh trình
độ dân trí, chất lượng và tính năng động xã hội của nguồn nhân lực đất nước.
Về quan hệ LĐ có yếu tố nước ngoài: thể hiện sau khi người LĐ xuất cảnh,
sống và làm việc ở nước ngoài, thì ngoài việc chịu sự điều chỉnh của pháp luật nước
xuất khẩu, người LĐ còn chịu sự chi phối bởi pháp luật, các quan hệ kinh tế, văn hoá,
7
xã hội và phong tục tập quán của nước sở tại và các điều ước quốc tế mà nước xuất
khẩu và nước nhập khẩu cùng tham gia [1, tr.19] .
* Một số quan niệm khác về xuất khẩu lao động
Có thể nói, XKLĐ có nội hàm đa nghĩa, vì vậy hiện nay trên thế giới trong các
văn kiện, tài liệu, công trình nghiên cứu sử dụng rất nhiều khái niệm đồng nghĩa với
XKLĐ.
- Trao đổi quốc tế về sức lao động
Là hiện tượng người LĐ đi làm thuê, di chuyển ra nước ngoài nhằm mục đích
kiếm việc làm để sinh sống. Ở đây nói lên sự trao đổi, mua bán sức LĐ có tính quốc tế
hay trên phạm vi quốc tế; tuy vậy lại không chỉ ra được việc trao đổi đó có ngang giá
hay không, có sự quản lý, hỗ trợ của nước xuất cư và nhập cư hay không, người LĐ ra
nước ngoài làm việc có thời hạn hay không. Do vậy, thuật ngữ này không phản ánh
đầy đủ bản chất và nội dung của XKLĐ theo cơ chế thị trường.
- Hợp tác quốc tế về lao động
Nhằm chỉ việc trao đổi sức LĐ không ngang giá và không phản ánh đúng quan
hệ cung - cầu về sức LĐ và các quy luật của thị trường LĐ quốc tế. Thuật ngữ này chỉ
được sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định để chỉ sự trao đổi LĐ giữa một số
nước XHCN trước đây trên tinh thần giúp đỡ và tương trợ lẫn nhau.
- Tạo việc làm ngoài nước
Chúng ta có thể thấy dùng khái niệm “Tạo việc làm ngoài nước” để phân biệt
hình thức này chiếm tỷ lệ nhỏ, nhưng rủi ro cho người LĐ rất cao.
- Căn cứ vào chất lượng lao động xuất khẩu
XKLĐ có tay nghề hay còn gọi là xuất khẩu chuyên gia, kỹ thuật viên, LĐ lành
nghề; XKLĐ tay nghề thấp hoặc không có tay nghề hay còn gọi là XKLĐ phổ thông.
Hướng di chuyển của hai loại LĐ này cũng khác nhau. Trong khi LĐ có tay nghề
thường di chuyển song hành với luồng vốn đầu tư từ nước phát triển đến những nước
kém phát triển hơn thì LĐ phổ thông lại có hướng di chuyển ngược lại từ những nước
kém phát triển đến những nước phát triển hơn [1, tr.12-13] .
* Các hình thức xuất khẩu lao động của Việt Nam
Những năm 1990 trở về trước, công tác đưa người LĐ Việt Nam đi làm việc ở
nước ngoài thực hiện trên cơ sở Hiệp định hợp tác LĐ ký kết giữa hai Nhà nước (Việt
Nam và nước tiếp nhận) do Bộ LĐ-TB&XH trực tiếp tổ chức thực hiện.
Trong giai đoạn hiện nay, cùng sự phát triển của nền kinh tế thị trường theo
9
định hướng XHCN, công tác đưa người LĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài đã
được thực hiện theo cơ chế thị trường với các hình thức tổ chức ngày càng đa dạng.
Theo quy định tại Điều 6, Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài
theo hợp đồng (Luật số 72/2006/QH11), người LĐ có thể đi làm việc ở nước ngoài
theo 4 hình thức:
- Thông qua doanh nghiệp hoạt động dịch vụ, tổ chức sự nghiệp được phép
hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.
Người LĐ đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức này sẽ có hai loại hình cơ
quan tổ chức đưa đi. Loại hình thứ nhất là các doanh nghiệp dịch vụ đưa người LĐ đi
làm việc ở nước ngoài, loại hình thứ hai là tổ chức sự nghiệp.
Ở loại hình thứ nhất, doanh nghiệp được Bộ LĐ-TB&XH cấp Giấy phép hoạt
động đưa người LĐ đi làm việc ở nước ngoài trực tiếp khai thác hợp đồng, đăng ký với
cơ quan có thẩm quyền, tổ chức tuyển chọn người LĐ, đưa và quản lý người LĐ ở
ngoài nước. Đây là hình thức phổ biến nhất, được nhiều người LĐ lựa chọn nhất khi đi
Hình thức đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng cá nhân được nhà nước
khuyến khích do mang lại nhiều lợi ích kinh tế cho người LĐ, gia tăng tính tự chủ và
việc tự chịu trách nhiệm của người LĐ. Tuy nhiên, do người LĐ đi làm việc có tính
chất đơn lẻ, phân tán ở nhiều vùng nên công tác quản lý cũng như bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp cho họ rất phức tạp. Vì vậy, đối với loại hình này, vai trò của cơ quan
quản lý ở địa phương nơi cư trú của người LĐ và Cơ quan đại diện ngoại giao tại nước
sở tại trong công tác nắm thông tin và xử lý phát sinh khi xảy ra đối với người LĐ là
rất quan trọng.
1.1.3. Vai trò và tác động của xuất khẩu lao động trong nền kinh tế thị trường
* Các tác động tích cực
- Đóng góp vào tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội
XKLĐ góp phần vào tăng trưởng kinh tế đất nước được phản ánh trên hai
phương diện:
Một là, toàn dụng nguồn nhân lực đất nước làm tăng thu nhập quốc gia, XKLĐ
tạo cơ hội cho một bộ phận LĐ thất nghiệp hoặc thiếu việc làm có cơ hội sản xuất ra
hàng hóa và dịch vụ ở nước khác làm tăng thu nhập cho người LĐ, gia đình họ, tăng
doanh thu cho doanh nghiệp XKLĐ, tạo chuyển biến mới về phân công LĐ xã hội cả về
chiều rộng và chiều sâu.
Hai là, nâng cao tiềm lực của nền kinh tế thể hiện ở cơ sở vật chất, khả năng tích
11
luỹ nội bộ của nền kinh tế thông qua các khoản thu ngân sách từ người LĐ, doanh
nghiệp XKLĐ và các tổ chức hỗ trợ khác.
XKLĐ làm tăng cầu LĐ trên thị trường LĐ nước xuất khẩu dẫn đến làm giảm sự
căng thẳng quan hệ cung - cầu LĐ, tạo áp lực tăng thu nhập cho người LĐ đưa đến mặt
bằng thu nhập của người LĐ nước xuất cư tiến gần hơn mặt bằng thu nhập ngoài nước;
từ đó, làm tăng thu nhập cho người LĐ và xã hội, góp phần tăng sức mua, tăng cầu, mở
rộng thị trường hàng hóa và tạo điều kiện cho sản xuất hàng hóa và dịch vụ phát triển.
- Góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Đối với đại đa số người LĐ, sau khi kết thúc thời gian làm việc ở nước ngoài,
trình độ tay nghề, tác phong, kỷ luật LĐ, ngoại ngữ, hiểu biết được nâng lên rõ rệt góp
phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của đất nước.
- Đưa nhanh tiến bộ - khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất kinh doanh
Người LĐ khi làm việc ở nước ngoài được tiếp cận với các công nghệ hiện đại,
các tiến bộ khoa học và kỹ thuật mới; họ có thể nghiên cứu, học hỏi và áp dụng các kiến
thức, kinh nghiệm này vào hoạt động sản xuất, kinh doanh khi về nước. Đây chính là lực
lượng chuyển giao công nghệ, khoa học kỹ thuật nhanh nhất và hiệu quả nhất góp phần
đưa nhanh công nghệ mới vào sản xuất và quản lý, thúc đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH
đất nước.
- Góp phần mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại
XKLĐ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kinh tế đối ngoại, thúc
đẩy quá trình hội nhập kinh tế thế giới và phân công LĐ quốc tế, thúc đẩy các quan hệ
tín dụng, tài chính, quan hệ hợp tác giữa các quốc gia, đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa,
nâng cao năng lực cạnh tranh của sức LĐ trên thị trường quốc tế. Đến lượt nó, chính các
quan hệ kinh tế đối ngoại đó lại tạo điều kiện cho việc mở rộng XKLĐ. Việc gia nhập và
tham gia vào các tổ chức quốc tế khu vực và thế giới tạo điều kiện mở rộng và phát triển
bền vững XKLĐ.
- XKLĐ còn là cầu nối giao lưu văn hóa, tăng cường hiểu biết lẫn nhau giữa các
dân tộc, nâng cao vị trí chính trị và uy tín nước XKLĐ trên trường quốc tế.
* Các tác động tiêu cực
Ngoài những tác động tích cực là chủ yếu, XKLĐ có những tác động tiêu cực
đến đời sống, xã hội và kinh tế của nước XKLĐ như:
- Có thể gây khan hiếm cục bộ lao động nội địa
Ở một số nước XKLĐ, có lúc, có nơi có thể gây khan hiếm cục bộ LĐ trong các
13
lĩnh vực cần LĐ giản đơn cũng như LĐ đòi hỏi tay nghề cao, nhất là ở những nước và
khu vực có tốc độ phát triển kinh tế nhanh, phong trào XKLĐ tăng cao nhưng lại thiếu
Từ điển Bách khoa Việt Nam đưa ra khái niệm về chính sách như sau: "Chính
sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được
thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất,
nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối,
nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa…"
Theo James Anderson: "Chính sách là một quá trình hành động có mục đích
theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan
tâm".
Như vậy, có thể hiểu: Chính sách là chương trình hành động do các nhà lãnh
đạo hay nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền
của mình [31, tr.10] .
Về thuật ngữ "Chính sách công": cho đến nay có nhiều quan điểm về khái niệm
này.
William Jenkin cho rằng: "Chính sách công là một tập hợp các quyết định có
liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm nhà chính trị gắn liền với việc
lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt được các mục tiêu đó".
Theo quan điểm của Wiliam N.Dunn thì: "Chính sách công là một kết hợp
phức tạp những sự lựa chọn liên quan lẫn nhau, bao gồm cả các quyết định không
hành động, do các cơ quan nhà nước hay các quan chức nhà nước đề ra".
Peter Aucoin lại khẳng định: "Chính sách công bao gồm các hoạt động thực tế
do Chính phủ tiến hành".
B.Guy Peter đưa ra định nghĩa: "Chính sách công là toàn bộ các hoạt động của
Nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi công dân".
Giáo trình chính sách KT-XH, các tác giả đưa ra định nghĩa: "Chính sách KTXH là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các giải pháp và công cụ mà Nhà nước sử
dụng để tác động lên các đối tượng và khách thể quản lý nhằm giải quyết vấn đề chính
sách, thực hiện những mục tiêu nhất định theo định hướng mục tiêu tổng thể của xã
hội".
Những đặc trưng trong mỗi luận cứ của mỗi tác giả phản ánh chính sách công
từ các góc độ khác nhau, song đều hàm chứa những nội dung thể hiện bản chất của
Chính sách xuất khẩu lao động là một bộ phận của chính sách giải quyết việc
làm; là tập hợp các quyết định của Nhà nước nhằm đưa ra các giải pháp, công cụ để
thực hiện mục tiêu giải quyết việc làm cho người lao động thông qua việc đưa lao
16
động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo hợp đồng.
1.2.2. Nội dung chính sách xuất khẩu lao động
1.2.2.1. Quan điểm, phương hướng, mục tiêu chính sách xuất khẩu lao động
của Việt Nam
* Quan điểm XKLĐ
Đầu những năm 1990 sau khi hệ thống các nước XHCN tan rã, kế thừa những kết
quả và một số kinh nghiệm đạt được trong thời kỳ hợp tác quốc tế về LĐ với các nước
XHCN giai đoạn 1980 - 1990, Đảng và Nhà nước ta nhận thấy ý nghĩa và hiệu quả của
XKLĐ đối với sự phát triển đất nước nên đã có những thay đổi về nhận thức và chỉ đạo
hoạt động XKLĐ.
Tại Chỉ thị số 41-CT/TW ngày 22/9/1998, Bộ Chính trị đã chỉ đạo: “Cùng với giải
quyết việc làm trong nước là chính thì XKLĐ và chuyên gia là một chiến lược quan trọng,
lâu dài, góp phần xây dựng đội ngũ LĐ cho công cuộc xây dựng đất nuớc trong thời kỳ
CNH - HĐH; là một bộ phận của hợp tác quốc tế, góp phần củng cố quan hệ hữu nghị, hợp
tác lâu dài với các nước...”.
Tại Nghị định số 370/HĐBT ngày 09/11/1991 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là
Chính phủ) (là cơ sở pháp lý mở đầu cho hoạt động XKLĐ theo cơ chế thị trường có sự
quản lý của Nhà nước) nêu rõ :“Đưa người LĐ đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài là
một hướng giải quyết việc làm, tạo thu nhập cho người LĐ và tăng nguồn thu ngoại tệ cho
đất nước; góp phần tăng cường quan hệ hợp tác kinh tế - văn hoá khoa học kỹ thuật giữa
Việt Nam với những nước đã sử dụng LĐ theo nguyên tắc bình đẳng, hai bên cùng có lợi,
tôn trọng pháp luật và truyền thống dân tộc của nhau”.
Trong các báo cáo chính trị của Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VII,
VIII, IX, X, XI đều nêu rõ tầm quan trọng của công tác đưa người LĐ đi làm việc ở
cho hoạt động đưa người LĐ đi làm việc ở nước ngoài trong mọi thời kỳ.
- Mục tiêu cụ thể
+ Về thị trường LĐ ngoài nước
Tiếp tục ổn định và mở rộng thị phần XKLĐ tại các thị trường hiện có, đặc biệt
là các thị trường trọng điểm; mở thêm các thị trường LĐ mới như thị trường châu Mỹ,
châu Âu (đặc biệt là mở lại những thị trường Đông Âu mà ta đã có quan hệ hợp tác LĐ
từ thời XHCN như Ba Lan, Bungari,...) và những thị trường nhận LĐ có trình độ kỹ
thuật cao.
18
+ Về số lượng LĐ đưa đi hàng năm
Phấn đấu đến năm 2015 cả nước đưa được trên 100.000 LĐ một năm đi XKLĐ,
để luôn có khoảng 500.000 LĐ thường xuyên làm việc ở nước ngoài;
Giai đoạn 2015-2020: cả nước đưa khoảng 150.000 LĐ/năm đi làm việc ở nước
ngoài.
1.2.2.2. Các công cụ chính sách xuất khẩu lao động
* Nhà nước hỗ trợ các yếu tố về cung LĐ
Cung trong XKLĐ phụ thuộc vào số lượng, chất lượng LĐ sẵn sàng tham gia
XKLĐ và chính sách XKLĐ của quốc gia.
- Số lượng LĐ sẵn sàng tham gia XKLĐ
Với dân số đông và lực lượng LĐ lớn (năm 2011, nước ta có lực lượng LĐ
trong độ tuổi LĐ là 46,48 triệu người - chiếm 52,91% dân số; năm 2016: là 47,7 triệu
người - chiếm 51,46%), tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị còn cao (năm 2011: là
3,67%; năm 2016: là 3,18%), thu nhập của người LĐ nhìn chung còn thấp, Việt Nam
có nguồn cung trong XKLĐ khá dồi dào.
Nhằm chuyển tải thông tin về chủ trương, chính sách XKLĐ của Đảng và Nhà
nước đến người dân để người LĐ lựa chọn, tìm kiếm cơ hội việc làm ở thị trường
ngoài nước; công tác tuyên truyền về hoạt động XKLĐ ngày càng được các cấp, các
Chính phủ nước ta luôn quan tâm đẩy mạnh mở rộng thị trường XKLĐ nhằm
tăng thêm cơ hội lựa chọn việc làm ngoài nước cho người LĐ góp phần hoàn thành
mục tiêu giải quyết việc làm hằng năm và giai đoạn đã đề ra.
Hiện nay, có trên 500.000 LĐ Việt Nam đang làm việc tại hơn 40 quốc gia và
vùng lãnh thổ với hơn 30 nhóm ngành nghề; trong đó, các thị trường XKLĐ truyền
thống của nước ta vẫn là Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Malaysia... Từ năm 2014,
cánh cửa tiếp nhận LĐ có trình độ của Việt Nam đã dần hé mở; những chương trình
thí điểm đưa điều dưỡng viên, hộ lý sang Đức và Nhật Bản làm việc đang được triển
khai thuận lợi. Mặc dù số lượng LĐ đi XKLĐ trong lĩnh vực này chưa nhiều nhưng đã
tạo đà để đưa LĐ có trình độ cao sang làm việc tại các nước phát triển.
Để giữ vững được thị trường XKLĐ, các ngành chức năng liên quan tăng
cường quản lý nhà nước về XKLĐ, hạn chế tình trạng LĐ Việt Nam làm việc bất hợp
pháp ở nước ngoài, không tuân thủ các quy định về XKLĐ… làm ảnh hưởng đến hình
ảnh của LĐ Việt Nam.
20
* Quản lý Nhà nước đối với XKLĐ
Giai đoạn đầu, trên cơ sở hiệp định hợp tác LĐ và chuyên gia ký giữa hai nhà
nước, ta đã đưa LĐ sang làm việc ở các nước XHCN (Liên Xô (cũ), Cộng hoà dân chủ
Đức (cũ), Tiệp Khắc (cũ), Bungari và các nước ở Trung Đông, Châu Phi (I- Rắc,
Libya, An-ghê-ri...). Bộ LĐ-TB&XH thay mặt cho Chính phủ trực tiếp ký kết các
Thoả thuận, Hiệp định và tổ chức thực hiện đưa người LĐ và chuyên gia đi làm việc ở
nước ngoài (từ việc tuyển chọn, đưa đi, quản lý người LĐ ở nước ngoài và làm thủ tục,
giải quyết chế độ cho họ sau khi về nước).
Đến cuối những năm 80 của thế kỷ XX, nước ta bước vào thời kỳ đổi mới, nền
kinh tế theo cơ chế tập trung, bao cấp được xoá bỏ để dịch chuyển sang cơ chế thị
trường theo định hướng XHCN. Hoạt động đưa người LĐ đi làm việc ở nước ngoài
cũng đã có những bước thay đổi lớn. Bên cạnh hình thức hợp tác LĐ như trước đây, đã