Chính sách phát triển quỹ đất từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi - Pdf 46

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ CÔNG NHÂN

CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN QUỸ ĐẤT
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NGÃI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

Hà Nội – Năm 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ CÔNG NHÂN

CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN QUỸ ĐẤT
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NGÃI

Ngành

: Chính sách công

Mã số

: 60 34 04 02



LỜI CAM ĐOAN
Luận văn nghiên cứu “Chính sách phát triển quỹ đất từ thực tiễn tỉnh Quảng
Ngãi” của tôi là kết quả của sự nỗ lực cố gắng, tìm tòi và sáng tạo của riêng bản
thân cùng với sự hướng dẫn tận tình của người hướng dẫn khoa học PGS.TS. Hoàng
Văn Tú. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng,
tôi đã tiến hành nghiên cứu tại các cơ quan, đơn vị thuộc tỉnh Quảng Ngãi, đặc biệt
là từ các huyện, thành phố.
Tôi xin cam đoan những lời trên đây là hoàn toàn đúng sự thật và tôi xin chịu
toàn bộ trách nhiệm về lời cam đoan của mình.

Quảng Ngãi, tháng

năm 2017

Tác giả luận văn

Lê Công Nhân


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
QUỸ ĐẤT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY .................................................................... 8
1.1. Một số khái niệm cơ bản ...................................................................................... 8
1.2. Các bước hoạch định chính sách phát triển quỹ đất........................................... 11
1.3. Vai trò của chính sách phát triển quỹ đất ........................................................... 14
1.4. Kinh nghiệm của một số địa phương về chính sách phát triển quỹ đất và bài học
đối với tỉnh Quảng Ngãi ............................................................................................ 15
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN QUỸ ĐẤT TỪ


GCN

Giấy chứng nhận

HTKT

Hạ tầng kỹ thuật

KTTT

Kinh tế thị trường

QLNN

Quản lý Nhà nước

QSHN

Quyền sở hữu nhà

SDĐ

Sử dụng đất

ASXH

An sinh xã hội

BTGPMB


39

huyện, thành phố
Bảng 2.2.

Cơ cấu kinh tế (gdp) theo ngành và lĩnh vực

42

Bảng 2.3.

Giá trị sản xuất các ngành nông lâm ngư nghiệp (giá so sánh

43

1994)
Bảng 2.4.

Chỉ tiêu phát triển một số cây trồng chủ yếu

44

Bảng 2.5.

Chỉ tiêu phát triển lâm nghiệp

46

DANH MỤC HÌNH

Đất đai là cơ sở của tự nhiên, là tiền đề đầu tiên của mọi quá trình sản xuất.
Đất đai tham gia vào tất cả các quá trình sản xuất của xã hội nhưng vai trò của nó
tùy thuộc vào giá trị sản phẩm của quá trình sản xuất trên đất quyết định. Đất đai
nói riêng và tài nguyên nói chung là quý hiếm với con người. Người Việt Nam có
câu “tấc đất tấc vàng” hay người Hà Lan nói “mất đất đai còn tồi tệ hơn phá sản”.
Đất đai là sản phẩm của tự nhiên nhưng gắn liền với sự tồn tại và phát triển của con
người, trong quá trình đó con người khai phá đất đai, đưa ruộng đất vào sử dụng
nhằm phục vụ cho lợi ích của mình.
Đất đai là tài nguyên có hạn và không tái tạo được, đất có thể canh tác rất hạn
chế, hiện nhân loại chỉ có 3050 triệu ha đất có thể canh tác trên hơn 13.400 triệu ha.
Riêng ở Việt Nam diện tích đất canh tác bình quân đầu người là 0.114 ha/ng. Nguồn
tài nguyên đất đai có giới hạn nhưng rất cần thiết cho quá trình phát triển kinh tế xã hội của từng địa phương nói riêng và của đất nước nói chung. Sử dụng tiết kiệm
và có hiệu quả đất đai là rất quan trọng và cần thiết nhưng điều này chỉ có thể thực
hiện khi công tác quản lý và phát triển đất đai có chất lượng và phù hợp với điều
kiện của từng vùng, miền trên cả nước, nên mỗi địa phương cần thiết phải xây dựng
các kế hoạch quản lý và phát triển quỹ đất cụ thể nhằm khai thác và sử dụng có hiệu
quả cao nhất quỹ đất hiện có của mình.
Đất đai trong thời gian gần đây đang là vấn đề bức xúc của xã hội. Theo thống
kê có trên 80% số đơn, thư khiếu tố của công dân liên quan đến vấn đề đất đai. Các
vụ khiếu kiện về đất đai thường phức tạp, khó giải quyết. Số cán bộ có khuyết điểm,
1


làm sai, bị kỷ luật, phạt tù nhiều hơn cả cũng liên quan đến vấn đề đất đai… Điều đó
cho thấy công tác quản lý đất đai còn những mặt yếu kém, buông lỏng, hiệu lực và
hiệu quả trong quản lý nhà nước về đất đai so với yêu cầu của thực tiễn còn hạn chế.
Hiện tại Nhà nước đã có những chính sách và biện pháp trong quản lý đất đai
như: xây dựng quy hoạch sử dụng đất, quản lý kinh doanh đất, chính sách khai thác
quỹ đất, chính sách tái định cư cho nhân dân bị ảnh hưởng các dự án… nhằm khai
thác hiệu quả nguồn tài nguyên này bảo đảm cho sự phát triển kinh tế xã hội. Tuy

địa bàn, tạo nên sự chuyển biến quan trọng về kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, tăng
năng lực của nhiều ngành kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân. Tuy nhiên, bên
cạnh những kết quả đạt được, chính sách phát triển quỹ đất tạo nguồn thu cho ngân
sách Tỉnh vẫn còn nhiều hạn chế như: Công tác quy hoạch, đầu tư phát triển các dự
án phát triển quỹ đất chưa được quan tâm đúng mức, công tác giải phóng mặt bằng
chậm làm cho tiến độ thi công một số dự án chậm so với kế hoạch; tình trạng vi
phạm các quy định về quản lý đất đai vẫn còn tồn tại, gây lãng phí và giảm hiệu qủa
sử dụng đất vẫn có tiếp diễn.
Muốn vượt qua được những thách thức này, tỉnh Quảng Ngãi cần phải có
những giải pháp mạnh mẽ, cải cách hơn nữa về quản lý sử dụng đất, phát triển quỹ
đất, nhằm tạo nguồn thu cho ngân sách, qua đó có nguồn kinh phí đảm bảo thường
xuyên để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật. Điều này càng trở nên cấp bách
trong giai đoạn hiện nay, khi mà các địa phương đang bị cắt giảm đầu tư công theo
Nghị quyết 11/NQ-CP của Chính phủ.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc triển khai đầu tư xây dựng các khu tái định cư
ở các địa phương còn chậm và quỹ đất phục vụ cho việc bố trí tái định cư còn thiếu,
các địa phương không có đủ quỹ nhà, đất để phục vụ tái định cư tương xứng với kế
hoạch thu hồi đất để thực hiện các dự án, việc tái định cư cho các hộ gia đình bị thu
hồi đất thực hiện còn chắp vá và thụ động. Còn việc hỗ trợ về đời sống, sinh hoạt và
sản xuất cho người dân đã được bố trí vào sống, sản xuất tại các khu, các điểm tái
định cư cũng rất hạn chế, nơi ở mới tại khu tái định cư điều kiện hạ tầng kinh tế, xã
hội thường thấp hơn cũ, cuộc sống và sản xuất của các hộ gia đình trong các khu tái
định cư chưa có đủ điều kiện để ổn định và còn gặp nhiều khó khăn. Có nhiều
nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, nhưng trong đó có một nguyên nhân quan
trọng là nguồn lực tài chính dành cho phát triển quỹ đất, quỹ nhà phục vụ tái định
cư khi Nhà nước thu hồi đất còn hạn hẹp và việc cấp ứng phục vụ tái định cư còn
gặp khá nhiều vướng mắc.
Hiện tại Nhà nước đã có những chính sách và biện pháp trong thực hiện phát
triển quỹ đất như: xây dựng quy hoạch sử dụng đất, quản lý kinh doanh đất, chính
sách khai thác quỹ đất, chính sách tái định cư cho nhân dân bị ảnh hưởng các dự

Nội, 2009;
- Chính sách thuế đối với phát triển thị trường bất động sản việt nam luận án
tiến sĩ kinh tế của Nguyễn Thị Mỹ Linh;
- Quản lý thị trường bất động sản trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An;
luận văn thạc sỹ quản lý kinh tế chương trình định hướng thực hành của Phạm
Thanh Hải;
4


- Định hướng phát triển thị trường bất động sản trong giai đoạn đẩy mạnh công
nghiệp hoá đất nước (Tài liệu sử dụng cho bài nói chuyện "Chính sách, pháp luật
đất đai với kinh tế thị trường ở Việt Nam" của GS. TSKH. Đặng Hùng Võ tại
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright);
- Tạp chí Cộng sản ngày 02/10/2014 có bài “Chiến lược phát triển thị trường
bất động sản trong tiến trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa” của Trịnh Đình Dũng (Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Xây
dựng). Nội dung là trong tiến trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, thị trường bất động sản có vai trò rất quan trọng đối với nền kinh
tế, liên thông và tác động rất lớn đến các loại thị trường khác, như thị trường tài
chính, xây dựng, vật liệu xây dựng... Để thị trường bất động sản vừa phát triển lành
mạnh, vừa bảo đảm tuân thủ các quy luật của thị trường, vừa hỗ trợ và thúc đẩy phát
triển các thị trường khác, cần nghiên cứu, xây dựng Chiến lược phát triển thị trường
bất động sản trên cơ sở quán triệt các quan điểm khoa học và đưa ra các giải pháp
đồng bộ phù hợp với điều kiện thực tiễn của nước ta.
- UBND tỉnh Phú Yên ban hành Quyết định số 54/2014/QĐ-UBND, theo
đó, kể từ ngày 05/01/2015, trên địa bàn tỉnh Phú Yên sẽ thực hiện cơ chế, chính
sách tạo quỹ đất sạch, quản lý và khai thác quỹ đất công theo hình thức đấu giá
quyền sử dụng đất. Nội dung của Quyết định nêu rõ, việc thu hồi đất để tạo ra quỹ
đất sạch thực hiện công tác đấu giá quyền sử dụng đất được thực hiện theo quy định
tại khoản 1 Điều 16 và Điều 118 Luật Đất đai năm 2013.

- Phạm vi về thời gian: Từ năm 2010 đến nay. (Vì năm 2010 UBND tỉnh ban
hành Quyết định số 650/QĐ-UBND ngày 04/5/2010 của UBND tỉnh Quảng Ngãi,
về việc phê duyệt phương án thành lập, sắp xếp, tổ chức lại các tổ chức bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư và phát triển quỹ đất trên địa bàn tỉnh, thành lập trung tâm phát
triển quỹ đất tỉnh và các huyện, thành phố).
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn vận dụng cách tiếp cận đa ngành, liên ngành xã hội học và phương
pháp nghiên cứu chính sách công. Đó là cách tiếp cận quy phạm chính sách công về
chu trình chính sách từ hoạch định đến xây dựng, thực hiện và đánh giá chính sách
công có sự tham gia của các chủ thể chính sách. Lý thuyết chính sách công được soi
sáng qua thực tiễn của chính sách công giúp hình thành lý luận về chính sách
chuyên ngành.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng một loạt các phương pháp cụ thể như: tiếp cận hệ thống, tư duy
logic, so sánh đối chứng, khảo sát hiện trạng, thống kê tổng hợp số liệu, chuyên
gia… theo nhiều cách từ riêng rẽ tới kết hợp với nhau. Chúng được sử dụng trong
6


việc khảo cứu, phân tích, đánh giá so sánh các nghiên cứu lý luận và thực tiễn thực
hiện chính sách sử dụng đất và hình thành các giải pháp hoàn thiện chính sách này.
Các phương pháp thu thập tài liệu, thông tin sau được sử dụng trong nghiên cứu:
- Kế thừa các công trình nghiên cứu trước đó;
- Tổng hợp các nguồn số liệu thông qua các báo cáo, tổng kết của các Sở, Ban,
Ngành trong tỉnh và Trung tâm Phát triển quỹ đất các huyện;
- Tìm thông tin thông qua các phương tiện thông tin đại chúng: Báo chí,
Internet...
- Kết hợp các phương pháp thu thập số liệu để có dữ liệu nghiên cứu và phân
tích đầy đủ;

tổ chức quốc tế đến từng quốc gia, từ nhà nước đến các đơn vị, tổ chức chính trị xã
hội, doanh nghiệp,.. nhằm giải quyết những vấn đề đặt ra cho mỗi tổ chức đó và
chúng chỉ có hiệu lực thi hành trong tổ chức đó.
Từ điển Bách khoa Việt Nam đã đưa ra khái niệm về chính sách như sau:
“Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính
sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào
đó. Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của
đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa…”
Atkinson cho rằng “Chính sách là một cấu trúc lý thuyết, là một chuỗi hành
động, nhưng đó là hành động nhằm níu giữ cả hai hệ thống giá trị tương quan với
các mục tiêu công và chuỗi niềm tin về cách tốt nhất nhằm đạt được các mục tiêu
đó. Glen Milne thì mô tả rằng chính sách là “quyết tâm và định hướng. Chính sách
định hướng, nhưng không bao gồm, các chương trình và chi tiết hành động”.
Theo James Anderson: “Chính sách là một quá trình hành động có mục đích
theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan
tâm”. Như vậy, có thể hiểu: Chính sách là chương trình hành động do các nhà lãnh
đạo hay nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm
quyền của mình.
Chính sách phát triển quỹ đất là chính sách công: Đó là những chính sách do
các cơ quan hay các cấp chính quyền trong bộ máy Nhà nước ban hành nhằm giải
quyết những vấn đề có tính cộng đồng. Cho đến nay, có nhiều quan điểm về khái
niệm Chính sách công. Chẳng hạn:
William Jenkin cho rằng: “Chính sách công là một tập hợp các quyết định có
liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm nhà chính trị gắn liền với
việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt được các mục tiêu đó”. Theo
quan điểm của Wiliam N. Dunn thì: “Chính sách công là một kết hợp phức tạp
những sự lựa chọn liên quan lẫn nhau, bao gồm cả các quyết định không hành động,

8


ánh những mục tiêu nhất định của Chính phủ;
- Thứ hai, định nghĩa của Dye thừa nhận rằng, các chính sách phản ánh sự lựa
chọn làm hay không làm. Việc quyết định không làm có thể cũng quan trọng như
việc quyết định làm. Điều này hoàn toàn hợp lý trong trường hợp Chính phủ ra
quyết định không can thiệp vào hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước;

9


- Thứ ba, một điểm được nhấn mạnh ở đây là các chính sách không chỉ những
đề xuất của Chính phủ về một vấn đề nào đó, mà cũng là cái được thực hiện trên
thực tế. Nói cách khác, định nghĩa của Dye về những cái Chính phủ làm hoặc không
làm, chứ không phải là cái mà họ muốn làm hoặc lập kế hoạch để làm. Ở nước ta
cũng có một số tác giả nghiên cứu về chính sách công, cũng đưa ra các định nghĩa
chính sách công khác nhau. Ví dụ như:
PGS. TS Lê Chi Mai (Học viện hành chính Quốc gia) đưa ra khái niệm chính
sách công với các nội hàm sau:
+ Chủ thể ban hành chính sách công là Nhà nước, chính sách do Nhà nước ban
hành nên chính sách công có thể coi là chính sách của Nhà nước.
+ Chính sách công nhằm vào những mục tiêu nhất định theo mong muốn của
Nhà nước và bao gồm các giải pháp để đạt được mục tiêu đã lựa chọn.
+ Chính sách công là những quyết định hành động, bao gồm cả những hành vi
thực tiễn, chính sách công không chỉ thể hiện dự định của Nhà nước hoạch định
chính sách về một vấn đề nào đó mà còn bao gồm những hành vi thực hiện dự định
đó. Nếu không có việc thực hiện thì chính sách để đạt được những kết quả nhất định
thì những chủ trương đó chỉ là những khẩu hiệu mà thôi.
+ Chính sách công tập trung giải quyết một vấn đề trong đời sống kinh ttế - xã
hội theo những mục tiêu xác định.
PGS. TS Đỗ Phú Hải cũng đưa ra khái niệm chính sách công “Chính sách
công là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Nhà nước nhằm lựa

các khu đất để phát triển các công trình đô thị như: Các khu hành chính sự nghiệp,
khu vực hoạt động sản xuất thương mại dịch vụ.... Điều này là hậu quả của công tác
quy hoạch đô thị và quy hoạch sử dụng đất đô thị yếu kém trong những năm vừa
qua. Yêu cầu của sự phát triển trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi phải
hiện đại hóa (HĐH) đô thị trên cơ sở cải tạo và xây dựng lại hệ thống hạ tầng kỹ
thuật (HTKT) đô thị và bố trí hợp lý, khoa học các công trình đô thị. Đây cũng
chính là một nguyên nhân quan trọng cần phải tăng cường vai trò thực hiện phát
triển quỹ đất trong quá trình đô thị hóa, vừa để khắc phục những yếu kém của hoạt
động khai thác quỹ đất, vừa để khai thác hợp lý, có hiệu quả nguồn lực đất đai. Từ
sự phân tích như trên ta có thể khái niệm về chính sách phát triển quỹ đất như sau:
1.1.3. Khái niệm về Chính sách phát triển quỹ đất
Chính sách phát triển quỹ đất được hiểu là đưa ra các chính sách phù hợp với
các mục tiêu, giải pháp và công cụ thực hiện cụ thể nhằm giải quyết cho phù hợp
với quá trình xây dựng quỹ đất sạch đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của
đất nước.
1.2. Các bước hoạch định chính sách phát triển quỹ đất.
1.2.1. Lý do phải xây dựng chính sách phát triển quỹ đất.
Thời gian qua, việc hoạch định chính sách về phát triển quỹ đất ở nước ta đã
cho ra đời nhiều chính sách phù hợp với thực tế, thực thi đem lại hiệu quả mà biểu
hiện cụ thể là đã góp phần vào phát triển kinh tế – xã hội của đất nước ta trong hơn
30 năm thực hiện công cuộc đổi mới.

11


Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về
tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chúng ta đã đạt nhiều kết quả tích cực, góp phần
khai thác và phát huy có hiệu quả nguồn lực đất đai phục vụ mục tiêu phát triển
kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, ổn định xã hội, an ninh lương thực

12


- Khả năng giải quyết vấn đề bằng chính sách Nhà nước;
- Khả năng tồn tại của chính sách với các công cụ quản lý Nhà nước;
- Kết quả và hiệu quả kinh tế - xã hội của chính sách so với yêu cầu quản lý
Nhà nước.
1.2.2. Xây dựng dự thảo các phương án chính sách phát triển quỹ đất
Dự thảo nội dung chính sách là bước quan trọng trong quy xây dựng chính
sách. Nội dung đó phải thể hiện rõ ràng mục tiêu chung, mục tiêu cụ thể, đối tượng,
phạm vi điều chỉnh, nội dùng chính sách, tổ chức thực hiện... bảo đảm tính phù hợp,
thực tế, tính toán, cân nhắc, lường trước những vấn đề sẽ nảy sinh... trên cơ sở dự
thảo, sẽ được gửi lấy ý kiến đóng góp cả về nội dung và hình thức để bảo đảm tính
hợp lý, hợp quy của nó. Việc tiến hành không chính thức thông qua các cuộc họp,
hội thảo, hội nghị hoặc chính thức bằng con đường văn bản hành chính ( ở cấp
Trung ương và có thể cả ở cấp địa phương). Các cơ quan như bộ Kế hoạch và Đầu
tư, Tài nguyên và Môi trường, Tài chính, Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn,
riêng Bộ Tư pháp thực hiện vai trò thẩm định tính pháp lý.
1.2.3. Lựa chọn phương án dự thảo tốt nhất
Lựa chọn phương án là bước tiếp theo của việc xây dựng chính sách nhằm xác
định được phương án tối ưu trong số các phương án dự thảo chính sách. Sau khi
tổng hợp kết quả góp ý bằng văn bản chính thức, có sự nhất trí cao của các cơ quan
hữu quan. Căn cứ vào mục tiêu chính sách, thì việc thông qua chính sách hàm ý
rằng, chúng ta đã lựa chọn phương án chính sách tối ưu nhất, hoặc khả thi nhất để
giải quyết vấn đề công cộng phát sinh. Phương án chính sách được lựa chọn dẫn
đến đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh và làm căn cứ xây dựng dự thảo luật, pháp
lệnh. Chính sách được thông qua, do vậy, cũng hàm ý dự luật, pháp lệnh là cần thiết
để thuận lợi cho việc thực thi chính sách. Suy ra, dự luật, pháp lệnh cần được thông
qua, dù nó mới ở giai đoạn đề nghị xây dựng trong quy trình lập pháp.
1.2.4. Hoàn thiện phương án lựa chọn

1.2.7. Công bố chính sách
Sau khi việc biểu quyết thông qua dự thảo điều nhất trí cao, cơ quan có thẩm
quyền ban hành Nghị quyết và Nghị quyết được thông báo rộng rãi trên các phương
tiện thông tin đại chúng tại địa phương và trên cổng thông tin điện tử của Hội đồng
nhân dân cấp tỉnh, nhằm phổ biến tuyên truyền rộng rãi đến người dân, đến cộng
đồng dân cư trong khu vực.
1.3. Vai trò của chính sách phát triển quỹ đất
Chính sách phát triển quỹ đất có một vai trò rất quan trọng, vai trò phát triển
quỹ đất của chính quyền địa phương được thể hiện ở việc chính quyền địa phương
sử dụng những phương pháp, biện pháp, những phương tiện, công cụ quản lý, thông
qua hoạt động của bộ máy quản lý để thực hiện chức năng quản lý của mình đối với
đất đai, nhằm đạt được mục tiêu sử dụng đất đã đặt ra. Cụ thể là:
- Thực hiện quyền đại diện sở hữu toàn dân về đất đai ở địa phương - đó là các
quyền định đoạt đối với đất đai (quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; giá

14


đất...), thực hiện các quyền lợi về kinh tế trong quản lý đất đai, tiến hành giao đất
hoặc cho thuê đất...
- Thực hiện chức năng của chính quyền địa phương thống nhất quản lý đất đai
nhằm sử dụng đất hiệu quả, hợp lý, tiết kiệm và bảo vệ nguồn tài nguyên đất đai.
Các dự án phát triển quỹ đất dân cư, phát triển hạ tầng ở tỉnh Quảng Ngãi
không chỉ tạo bước đột phá trong phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội mà có ý nghĩa
và tầm quang trọng tạo không gian thoáng đãng của các đô thị xanh và hiện đại.
Đây cũng chính là tiền đề quan trọng để tỉnh hoàn thành nhiệm vụ theo mục tiêu
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX đề ra.
1.4. Kinh nghiệm của một số địa phương về chính sách phát triển quỹ đất
và bài học đối với tỉnh Quảng Ngãi
Thứ nhất; TP. Đà Nẵng là chủ động đưa ra các chính sách phát triển quỹ đất

đó phát triển hạ tầng, thu hút đầu tư trong và ngoài nước, tạo thêm nhiều việc làm
mới cho người dân. Qua hơn 20 năm phát triển, Đà Nẵng trong điều kiện nguồn thu
ngân sách hạn hẹp, sức sản xuất chưa phát triển thì nguồn thu từ quỹ đất là hướng
khai thác hiệu quả. Thành phố đã huy động nguồn thu từ quỹ đất trên 20.000 tỷ
đồng để tái đầu tư cho phát triển hạ tầng đô thị và xã hội.
- Yếu tố quyết định vẫn là lòng dân; yếu tố quyết định cho chủ trương khai
thác quỹ đất là lòng dân và vai trò của người đứng đầu. Hằng năm, Đà Nẵng đều
công bố các quyết định về chính sách, chủ trương đền bù giải tỏa mặt bằng, bố trí
tái định cư. Đền bù, giải tỏa theo quyết định nào thì giá đất tái định cư theo quyết
định đó, để khi thực hiện dự án không tạo nên những khác biệt khiến người dân thắc
mắc. Trong khai thác quỹ đất, thành phố Đà Nẵng đã áp dụng thành công phương
thức đấu thầu đất hai bên đường dự kiến xây dựng theo quy hoạch, cùng với
phương thức thanh toán đầu kỳ với giá chiết khấu (giảm giá) 10%. Theo đó, thu hút
được một lượng vốn lớn đầu tư vào cơ sở hạ tầng, thúc đẩy thu hút đầu tư và tăng
trưởng GDP cho thành phố.
Thứ hai; UBND tỉnh Phú Yên ban hành Quyết định số 54/2014/QĐ-UBND,
theo đó, kể từ ngày 05/01/2015, trên địa bàn tỉnh Phú Yên sẽ thực hiện cơ chế,
chính sách tạo quỹ đất sạch, quản lý và khai thác quỹ đất công theo hình thức đấu
giá quyền sử dụng đất.
Quyết định nêu rõ, việc thu hồi đất để tạo ra quỹ đất sạch thực hiện công tác
đấu giá quyền sử dụng đất được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 16 và
Điều 118 Luật Đất đai năm 2013. Trường hợp đất thuộc quỹ đất nông nghiệp sử
dụng vào mục đích công ích để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, nuôi
trồng thuỷ sản, UBND tỉnh thu hồi giao cho UBND cấp xã quản lý, thực hiện việc
hoàn trả phần giá trị còn lại của tài sản và các chi phí đã đầu tư cho người bị thu hồi
đất, tổ chức giao hoặc cho thuê đối với hộ gia đình, cá nhân không có đất hoặc thiếu
đất sản xuất theo quy định của pháp luật.

16


chức giao hoặc cho thuê đối với hộ gia đình, cá nhân không có đất hoặc thiếu đất
sản xuất theo quy định của pháp luật.
2. Các trường hợp còn lại Ủy ban nhân dân Tỉnh thu hồi giao Tổ chức Phát
triển quỹ đất quản lý và thực hiện việc hoàn trả phần giá trị còn lại của tài sản và
các chi phí đã đầu tư cho người bị thu hồi đất, lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng chi
17


tiết và tổ chức bán đấu giá để tạo nguồn thu cho ngân sách và vốn đầu tư cho những
công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật đã giao Tổ chức Phát triển quỹ đất thực hiện
theo kế hoạch phát triển quỹ đất.
3. Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm tổng hợp danh mục dự án đầu
tư cần thu hồi đất theo khoản 1 Điều 7 của Quy định này, lập thủ tục và tham mưu
trình cấp thẩm quyền thu hồi đất để báo cáo Ủy ban nhân dân Tỉnh trình Hội đồng
nhân dân Tỉnh thông qua đồng thời với quyết định mức vốn ngân sách nhà nước cấp
cho việc bồi thường, giải phóng mặt bằng trước ngày 31 tháng 10 hàng năm.
4. Tổ chức Phát triển quỹ đất chịu trách nhiệm lập và thực hiện phương án bồi
thường, giải phóng mặt bằng để trực tiếp đầu tư hoặc bàn giao mặt bằng sạch cho
nhà đầu tư để thực hiện các dự án đầu tư theo hình thức đấu giá quyền sử dụng đất
bằng giao đất có thu tiền sử dụng đất theo quy định tại Điều 55 Luật Đất đai năm
2013 hoặc đấu giá quyền sử dụng đất theo hình thức thuê đất trả tiền hàng năm, trả
tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê theo quy định tại Điều 56 Luật Đất đai
năm 2013.
5. Trình tự, thủ tục thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng được thực
hiện theo quy định hiện hành.
Điều kiện thực hiện dự án tạo quỹ đất sạch
1. Quỹ đất tạo quỹ đất sạch thuộc quỹ đất nêu tại Điều 5 của Quy định này và
đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt về quy hoạch sử dụng đất.
2. Quỹ đất tạo quỹ đất sạch phải có quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/2.000
đến 1/500 được cấp có thẩm quyền phê duyệt.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status