VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM THỊ THÁI THANH
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VIÊN CHỨC
TỪ THỰC TIỄN VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số
: 60 34 04 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. HỒ VIỆT HẠNH
Hà Nội, 2017
1
LỜI CAM ĐOAN
Đề tài “Thực hiện Chính sách phát triển viên chức từ thực tiễn Viện
Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam” luận văn này là kết quả của sự
cố gắng nghiên cứu, tìm tòi và sáng tạo của bản thân tôi cùng với sự hướng
dẫn tận tình của người hướng dẫn khoa học PGS.TS. Hồ Việt Hạnh.
Tôi xin cam đoan trong công trình nghiên cứu này không có bất kỳ sự
sao chép nào mà không có trích dẫn nguồn, tác giả. Những lời trên đây là
hoàn toàn đúng sự thật và tôi xin chịu toàn bộ trách nhiệm.
TÀI LIỆU THAM KHẢO…..................................................................................78
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Biểu đồ 2.2. Phân bố lực lượng cán bộ khoa học của Viện Hàn lâm
Khoa học và Công nghệ việt Nam
Bảng 2.3. Bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ đối với viên chức khoa
học và Công nghệ tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
MỞ ĐẦU
1.
Tính cấp thiết của đề tài
“Năm 1998, Nhà nước ban hành pháp lệnh cán bộ, công chức, theo đó
những người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp cũng nằm trong nội hàm
“cán bộ, công chức” và sự điều chỉnh của Pháp lệnh cùng với văn bản hướng
dẫn thực hiện. Theo quy định của Pháp lệnh cán bộ, công chức, hệ thống thể
chế quản lý viên chức (Khi đó vẫn gọi chung cụm từ “cán bộ, công chức”)
đều hoàn toàn được quy định giống như đối với đội ngũ cán bộ, công chức nói
chung.
“Sau thời gian thực hiện, đến năm 2003, Chính phủ đã sửa đổi , bổ
sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức. Trong đó có một nội dung
rất quan trọng là việc phân định cán bộ, công chức làm việc trong cơ quan
hành chính của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội với cán bộ, công
chức làm việc trong các đơn vị sự nghiệp. Điều này đã tạo ra cơ sở pháp lý
trong việc đổi mới một bước cơ chế quản lý cán bộ, công chức trong các đơn
vị sự nghiệp.
Đến năm 2008, Chính phủ ban hành luật cán bộ, công chức; Nghị định
học nói riêng đóng một vai trò vô cùng quan trọng, được trực tiếp hoặc gián
tiếp đề cập đến qua quan điểm chỉ đạo của Đảng, Quốc hội, Chính phủ tại các
văn bản nói trên.
Khoa học và công nghệ (KH&CN) luôn được xác định giữ vai trò then
chốt trong công cuộc đổi mới của nước ta, đặc biệt là trong quá trình công
nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Khoa học và công nghệ đã trực tiếp tác
động nâng cao năng suất lao động, giảm nhẹ cường độ lao động, giảm chi phí,
giá thành sản xuất, giảm rõ rệt tỷ lệ tiêu hao vật chất tăng tỷ lệ chất xám trong
cấu tạo sản phẩm,…
2
Đội ngũ viên chức khoa học trong các đơn vị sự nghiệp Khoa học và
công nghệ công lập là nguồn lực chủ yếu, trực tiếp nghiên cứu những vấn đề
cơ bản về khoa học xã hội, khoa học tự nhiên; cung cấp luận cứ khoa học cho
Đảng và Nhà nước cho việc hoạch định đường lối, chiến lược, quy hoạch, kế
hoạch, chính sách phát triển nhanh và bền vững đất nước theo định hướng xã
hội chủ nghĩa.
Chiến lược phát triển Khoa học và công nghệ giai đoạn 2011 – 2020
được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 418/QĐ-TTg ngày
11/4/2012 đã xác định rõ quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp chủ
yếu phát triển Khoa học và công nghệ. Một trong những giải pháp đó chính là
việc xây dựng đồng bộ chính sách thu hút, trọng dụng và đãi ngộ cán bộ Khoa
học và Công nghệ.
Trong những năm gần đây, chính sách phát triển viên chức khoa học ở
nước ta đã từng bước được hoàn thiện và áp dụng vào thực tế. Tuy nhiên, việc
thực hiện vẫn còn nhiều vấn đề chưa phù hợp và chưa đem lại hiệu quả như
mong muốn. Do vậy, việc tăng cường thực hiện chính sách phát triển viên
chức khoa học ở nước ta hiện nay là vấn đề cấp bách vì: Thứ nhất, tiềm lực
học và Công nghệ Việt Nam” cho thấy đây là vấn đề mới mẻ, một số nhà
khoa học đã quan tâm nghiên cứu và tiếp cận theo nhiều cách, với những cấp
độ khác nhau.
Vấn đề phát triển Khoa học và công nghệ và phát huy nguồn nhân lực
Khoa học và công nghệ đã được nhiều người quan tâm nghiên cứu ở các góc
độ khác nhau như:
Đề tài khoa học cấp bộ “ Luận cứ khoa học phân định công chức với
viên chức” của TS. Nguyễn Minh Phương, 2005 đã phân tích đáng giá thực
trạng phân định công chức với viên chức trong các văn bản quy phạm pháp
luật hiện hành, bước đầu làm rõ cơ sở khoa học phân định công chức với viên
chức, từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện thể chế quản lý
phù hợp đối với từng đối tượng công chức và viên chức.
4
Cuốn sách “Đổi mới chính sách sử dụng nhân lực Khoa học và công
nghệ trong các cơ quan nghiên cứu – phát triển”, TS. Nguyễn Thị Anh Thu.
NXB Khoa học xã hội, Hà Nội – 2000 đã phân tích những điểm hợp lý và bất
hợp lý trong chính sách sử dụng nhân lực Khoa học và công nghệ hiện hành,
từ đó đưa ra những khuyến nghị đổi mới chính sách sử dụng nhân lực Khoa
học và công nghệ trong cơ quan nghiên cứu - phát triển.
Bài viết “Thực hiện tốt Luật viên chức để tiếp tục đổi mới cơ chế quản
lý và nâng cao chất lượng phục vụ của khu vực sự nghiệp công lập” của TS.
Trần Văn Tuấn trên Tạp chí tổ chức nhà nước, số 1 năm 2011 đã nêu lên tầm
quan trọng của đội ngũ viên chức nói chung và viên chức khoa học nói riêng
trong việc nâng cao chất lượng của dịch vụ công. từ đó khuyến nghị tăng
cường chính sách quản lý, phát triển đội ngũ viên chức trong các đơn vị sự
nghiệp công lập, cụ thể là triển khai áp dụng Luật viên chức vào thực tế một
cách hiệu quả.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa và phân tích làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản
và đánh giá thực trạng thực hiện chính sách phát triển viên chức khoa học ở
Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, luận văn đề xuất các giải
pháp nhằm tăng cường thực hiện chính sách phát triển viên chức ở Viện Hàn
lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
-
Nghiên cứu hệ thống hóa những vấn đề lý luận về thực hiện
chính sách phát triển viên chức từ thực tiễn Viện Hàn lâm Khoa học và công
nghệ Việt Nam.
-
Nghiên cứu và đánh giá thực trạng thực hiện chính sách phát
triển viên chức từ thực tiễn Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
-
Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường thực hiện chính sách
phát triển viên chức từ thực tiễn Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt
Nam.
6
xuất định hướng, giải pháp tăng cường thực hiện phát triển viên chức tại Viện
Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
5.
Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
-
Phương pháp luận: Luận văn được nghiên cứu bằng phương
pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Trên cơ sở các phương pháp luận đó, luận văn vận dụng tư tưởng Hồ Chí
Minh và quán triệt các Nghị quyết chính sách của Việt Nam về đổi mới đội
ngũ viên chức và kinh nghiệm lịch sử đã đúc kết thành lý luận trong vấn đề
thực hiện chính sách phát triển viên chức.
-
Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp
phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, quy nạp – diễn dịch, thống kê xem xét
các văn bản kết hợp gắn lý luận với thực tiễn để làm rõ các nội dung luận văn
cũng như chọn lọc những kinh nghiệm thực tiễn sát với những vấn đề cần giải
quyết của luận văn.
6.
Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ có những đóng góp trên cả lý luận
và thực tiễn:
-
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được kết
cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về chính sách phát triển
viên chức
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách phát triển viên chức tại
Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả chính sách phát triển viên
chức
9
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VIÊN CHỨC
1.1. Hệ thống các khái niệm
1.1.1 Khái niện chính sách, chính sách công
Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm
vụ. Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lính
vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy
thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa...
Chính sách là tập hợp các chủ trương và hành động về phương diện
nào đó của chính phủ nó bao gồm các mục tiêu mà chính phủ muốn đạt được
và cách làm để thực hiện các mục tiêu đó. Những mục tiêu này bao gồm sự
phát triển toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế - Văn hóa - xã hội – môi trường.
Như vậy, có thể hiểu: Chính sách là trương trình hành động do các
nhà lãnh đạo hay nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc
phạm vi thẩm quyền của mình.
Chính sách công là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong đời sống
kinh tế - xã hội. Ở các nước phát triển và các tổ chức kinh tế quốc tế, thuật
Chính sách là một quá trình hành động có mục đích mà một cá nhân
hoặc một nhóm theo đuổi một cách kiên định trong việc giải quyết vấn đề
(James Anderson, 2003 ).
Chính sách công là một quá trình hành động hoặc không hành động
của chính quyền để đáp lại một vấn đề công cộng. Nó được kết hợp với các
cách thức và mục tiêu chính sách đã được chấp thuận một cách chính thức,
11
cũng như các quy định và thông lệ của các cơ quan chức năng thực hiện
những chương trình (Kraft and Furlong, 2004).
Chính sách công là những hành động ứng xử của Nhà nước với các
vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng, được thế hiện bằng nhiều hình
thức khác nhau, nhằm thúc đẩy xã hội phát triển (Nguyễn Hữu Hải, 2010 –
HV Hành chính Quốc gia).
Chính sách công là những sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một
mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và thực tế mà đề ra
(Nguyễn Thị Như Mai, 2010 – Văn phòng Chính phủ).
Các chính sách có thể được đề ra và thực hiện ở những tầng nấc khác
nhau, từ các tổ chức quốc tế đến từng quốc gia, từ nhà nước đến các đơn vị, tổ
chức chính trị xã hội, doanh nghiệp,...nhằm giải quyết những vấn đề đặt ra
cho mỗi tổ chức đó và chúng chỉ có hiệu lực thi hành trong tổ chức đó. Do đó,
khái niệm chính sách được hiểu như sau: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ
thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một
thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và
phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm
vụ chính trị, kinh tế, văn hóa...”.
Những chính sách do các cơ quan hay các cấp chính quyền trong bộ
máy nhà nước ban hành nhằm giải quyết những vấn đề có tính cộng đồng
trong chương trình mang chủ đề phát triển các vùng chậm phát triển.
Nhìn một cách khái quát, về căn bản trong mấy thập kỷ qua, các lý
thuyết về phát triển dù có khác nhau ở điểm này hay ở điểm khác , nhưng vẫn
lấy châu Âu làm trung tâm hoặc phương Tây làm trung tâm. Chính theo quan
điểm đó mà trong một thời gian dài người ta lấy thu nhập tính theo đầu
người/năm để xét một nước nào đó thuộc loại phát triển hay kém phát triển.
13
Như vậy “Phát triển là một tiến trình tiến hóa của mọi xã hội, mọi
cộng đồng dân tộc trong đó các chủ thể lãnh đạo và quản lý, bằng các chiến
lược và chính sách thích hợp với những đặc điểm về lịch sử, chính trị, kinh tế,
văn hóa, xã hội của xã hội và cộng đồng dân tộc mình, tạo ra, huy động và
quản lý các nguồn lực tự nhiên và con người nhằm đạt được những thành quả
bền vững và được phân phối công bằng cho các thành viên trong xã hội vì
mục đích không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của họ”. (GS. Bùi
Đình Thanh, 2015).
1.1.3. Khái niện Viên chức, viên chức khoa học
Trước khi Luật viên chức năm 2010 được ban hành, khái niệm về viên
chức chưa được phân biệt một cách rõ ràng với cán bộ, công chức (CBCC).
Căn cứ Pháp lệnh cán bộ, công chức sửa đổi, bổ sung năm 2003, Nghị định
116/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về việc tuyển dụng, sử
dụng và quản lý cán bộ, công chức trong đơn vị sự nghiệp Nhà nước quy
định: “Viên chức là công dân Việt Nam, trong biên chế, được tuyển dụng, bổ
nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong
đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội
hưởng lương từ ngân sách nhà nước và các nguồn thu sự nghiệp theo quy định
của pháp luật.”
Theo điều 2, Luật Viên chức năm 2010 quy định: “Viên chức khoa
thuộc Chính phủ; được hưởng theo chuyên môn, nghiệp vụ đối với cán bộ,
viên chức trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước (tại Nghị định 204/NĐCP ngày 14/12/2004 của Chính phủ quy định về chế độ tiền lương đối với
công chức, viên chức và lực lượng vũ trang).
Theo Luật Khoa học và công nghệ năm 2013, chức danh nghiên cứu
khoa học là tên gọi thể hiện trình độ và năng lực nghiên cứu khoa học của cá
nhân hoạt động trong lĩnh vực khoa học, gồm: trợ lý nghiên cứu, nghiên cứu
15
viên, nghiên cứu viên chính, nghiên cứu viên cao cấp. Theo Nghị định số
40/2014/NĐ-CP ngày 12/5/2014 quy định việc sử dụng, trọng dụng cá nhân
hoạt động Khoa học và công nghệ và Thông tư liên tịch số 24/2014/TTLTBKHCN-BNV ngày 01/10/2014, chức danh nghiên cứu khoa học gồm: trợ lý
nghiên cứu (hạng IV), nghiên cứu viên (hạng III), nghiên cứu viên chính
(hạng II), nghiên cứu viên cao cấp (hạng I).
Viên chức khoa học được tuyển dụng, quản lý và sử dụng như viên
chức hoạt động trong các lĩnh vực chuyên môn khác; hoạt động của họ là
nghiên cứu khoa học , nghiên cứu cơ bản để đưa ra các luận cứ, luận điểm
làm cơ sở lý luận phục vụ cho việc xây dựng và ban hành chính sách phục vụ
cho hoạt động quản lý của nhà nước , phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội,
an ninh, quốc phòng mà nhà nước đặt ra.
16
1.1.4. Khái niệm chính sách phát triển viên chức
Từ quan niệm chính sách công như trên, có thế định nghĩa chính sách
phát triển viên chức khoa học như sau: Chính sách phát triển viên chức khoa
học là tập hợp các quyết định chính trị của nhà nước có liên quan đến đội ngũ
viên chức khoa học với các mục tiêu, giải pháp và công cụ nhằm nâng cao
hiệu quả nghiên cứu khoa học, tạo môi trường và động lực để thu hút thúc đẩy
ương Đảng lần thứ V, Khóa XI về một số vấn đề về tiền lương, bảo hiểm xã
hội, trợ cấp ưu đãi người có công và định hướng cải cách đến năm 2020.
Chính phủ đã không ngừng xem xét, điều chỉnh mức lương tối thiểu chung,
mức lương tối thiểu vùng, sửa đổi, bổ sung chế độ phụ cấp ưu đãi nghề, phụ
cấp đặc thù theo ngành nhằm từng bước cải thiện tiền lương nói chung và
nâng cao đời sống vật chất cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động.
Tuy nhiên, trên thực tế, quá trình cải cách tiền lương ở nước ta vẫn còn nhiều
khó khăn, bất cập, cụ thể như:
Hoạt động của đội ngũ viên chức là hoạt động mang tính phục vụ,
cung cấp các dịch vụ công cho xã hội. Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đang
chủ trương thực hiện xã hội hóa cung ứng dịch vụ công. Tuy nhiên, hoạt động
này đang diễn ra còn chậm và đạt kết quả thấp, do đó, cản trở không nhỏ đến
công cuộc cải cách tiền lương cho viên chức.
Mức lương tối thiểu chung và mức lương tối thiểu vùng vẫn còn thấp,
tốc độ tăng lương không đi kịp với tốc độ tăng của giá cả thị trường, dẫn đến,
đời sống của người lao động nói chung và đội ngũ viên chức nói riêng còn
gặp nhiều khó khăn, chính sách tiền lương chưa thực sự là đòn bẩy khuyến
khích cán bộ, công chức, viên chức và người lao động phát huy năng lực,
nâng cao trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ.
- Vấn đề phụ cấp
Bên cạnh tiền lương thì phụ cấp cũng là yếu tố quan trọng để kích
18
thích người lao động hăng hái làm việc. Hiện nay, đội ngũ viên chức cũng
đã có các loại phụ cấp như: phụ cấp thâm niên, phụ cấp ngành, phụ cấp
chức vụ, phụ cấp trong trường hợp làm việc ở những nơi có điều kiện đặc
biệt khó khăn.
1.2.2. Vấn đề tuyển dụng
Theo Điều 3, Chương 1, Luật Viên chức thì: “Tuyển dụng là việc lựa
triển viên chức
1.3.1. Chủ thể của chính sách phát triển viên chức
Chủ thể ban hành chính sách công là Nhà nước thông qua các cơ quan
quyền lực như: Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành thực hiện chức năng quản
lý Nhà nước. Chính sách phát triển viên chức cũng là một trong những chính
sách công của Nhà nước, do đó, chủ thể ban hành chính sách phát triển viên
chức cũng do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành như: Quốc hội,
Chính phủ, Bộ Nội vụ. Ngoài ra, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc
Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các
đơn vị sự nghiệp công lập cũng ban hành các văn bản phục vụ cho hoạt động
quản lý của đơn vị mình. Trong các cơ quan nói trên thì Quốc hội ban hành
Luật Viên chức; Chính phủ ban hành các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật;
Bộ Nội vụ là cơ quan đóng vai trò chính trong việc tham mưu, tổng hợp và
trực tiếp xây dựng chính sách. Cụ thể, Bộ Nội vụ có những chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức như sau (theo Nghị định số 58/2014/NĐ-CP
ngày 16/6/2014 của Chính phủ): Bộ Nội vụ là cơ quan của Chính phủ, thực
hiện chức năng quản lý nhà nước về các ngành, lĩnh vực; Tổ chức hành chính,
sự nghiệp nhà nước; chính quyền địa phương, địa giới hành chính; cán bộ,
công chức, viên chức nhà nước; đào tạo bồi dưỡng về chuyên ngành hành
chính, quản lý hành chính nhà nước.
Tại Điều 45 Nghị định số 29/2012/NĐ-CP có quy định nhiệm vụ và
20
quyền hạn của Bộ Nội vụ trong lĩnh vực quản lý viên chức như sau: Xây
dựng, sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật về viên chức để Chính phủ
trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Xây dựng, trình Chính phủ, Thủ
tướng Chính phủ quy định về chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình
phát triển đội ngũ viên chức; phân công, phân cấp quản lý viên chức; xác định
vị trí việc làm và cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp; chiến lược,