ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN NGỌC LONG
KHẮC PHỤC RÀO CẢN
TRONG QUÁ TRÌNH TỰ CHỦ CỦA CÁC
TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI CÔNG LẬP
(Nghiên cứu trƣờng hợp Viện Hàn lâm
Khoa học và Công nghệ Việt Nam)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Hà Nội, 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN NGỌC LONG
KHẮC PHỤC RÀO CẢN
TRONG QUÁ TRÌNH TỰ CHỦ CỦA CÁC
TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI CÔNG LẬP
(Nghiên cứu trƣờng hợp Viện Hàn lâm
Khoa học và Công nghệ Việt Nam)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
2.1. Tính hính thực hiện tự chủ của Viện Hàn lâm KHCNVN .................... 44
2.2. Hiện trạng tự chủ của các đơn vị .......................................................... 57
2.3. Nhận diện những rào cản trong quá trính tự chủ của các đơn vị .......... 62
CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC RÀO CẢN TRONG QUÁ
TRÌNH TỰ CHỦ CỦA CÁC ĐƠN VỊ NC&TK TRỰC THUỘC
VIỆN HÀN LÂM KHCNVN .....................................................................67
3.1. Biến quyền tự chủ thành năng lực tự chủ ............................................. 67
3.2. Khâu đột phá về năng lực tự chủ .......................................................... 70
3.3. Điều chỉnh Nghị định 115 ..................................................................... 76
1
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ..................................................................78
1. Kết luận .................................................................................................... 78
2. Khuyến nghị ............................................................................................. 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................80
2
LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được hoàn thành với sự giúp đỡ, hướng dẫn của các thầy,
cô, đồng nghiệp, nhà khoa học và gia đình. Tác giả xin chân thành cảm ơn:
- PGS. TS. Phạm Huy Tiến đã trực tiếp tận tình hướng dẫn, chia sẻ kinh
nghiệm và đóng góp nhiều ý kiến quý báu giúp tác giả hoàn thành đề tài.
- Các thầy cô công tác tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân
văn, Đại học Quốc gia Hà Nội nói chung và các thầy cô công tác tại Khoa
Khoa học quản lý nói riêng đã giảng dạy, cung cấp kiến thức và tạo mọi điều
kiện để tác giả hoàn thành chương trình học cao học. Đặc biệt cảm ơn PGS.
TS. Vũ Cao Đàm và TS. Đào Thanh Trường đã gợi ý đề tài, hỗ trợ tài liệu và
Khoa học và Công nghệ.
KT-XH:
Kinh tế - Xã hội.
NC&TK:
Nghiên cứu và Triển khai.
NCCB:
Nghiên cứu cơ bản.
NCƯD:
Nghiên cứu ứng dụng.
NSNN:
Ngân sách nhà nước.
SX-KD:
Sản xuất – Kinh doanh.
Viện Hàn lâm KHCNVN: Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Nghị định 115:
Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 05/09/2005
Hính 9. Số lượng các công trính công bố trong 5 năm gần đây (20102014) của Viện Hàn lâm KHCNVN .................................................... 57
Hính 10. Mô hính tổ chức của các đơn vị.................................................. 60
Hính 11. Mô hính thuê mua tài chình để đầu tư thiết bị ............................ 75
6
PHẦN MỞ ĐẦU
Tên đề tài:
Khắc phục rào cản trong quá trình tự chủ của các tổ chức nghiên
cứu và triển khai công lập (Nghiên cứu trường hợp Viện Hàn lâm Khoa
học và Công nghệ Việt Nam).
1. Lý do nghiên cứu
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam là cơ quan khoa học
thực hiện chức năng NCCB về khoa học tự nhiên và phát triển công nghệ;
cung cấp luận cứ khoa học cho công tác quản lý KH&CN và xây dựng chình
sách, chiến lược, quy hoạch phát triển KT-XH; đào tạo nhân lực KH&CN có
trính độ cao theo quy định của pháp luật. Là cơ quan trực thuộc Chình phủ,
Viện Hàn lâm được quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ
chức tại Nghị định số 108/2012/NĐ-CP của Chình phủ.
Tiền thân của Viện Hàn lâm KHCNVN là Viện Khoa học Việt Nam
được thành lập theo Nghị định số 118/CP ngày 20/5/1975 của Hội đồng
Chình phủ. Năm 1993, Viện Khoa học Việt Nam lại được đổi tên thành Trung
tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ Quốc gia theo Nghị định số 24/CP ngày
22/5/1993 của Chình phủ. Tiếp đó, ngày 16/01/2004 Chình phủ đã ban hành
Nghị định số 27/2004/NĐ-CP đổi tên Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công
nghệ Quốc gia thành Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Trong suốt lịch sử hính thành và phát triển của mính, cùng với những
Bên cạnh đó, nghiên cứu này cũng góp phần nhận diện các hạn chế
trong quá trính tự chủ của các tổ chức KH&CN công lập.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Vấn đề tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN đã có
nhiều đề tài khoa học, bài báo, bài viết đề cập đến. Trong số đó cũng có
nhưng bài phân tìch về các chình sách liên quan đến quá trính tự chủ của các
tổ chức KH&CN công lập. Nhưng có thể những công bố đó mới xét đến khìa
cạnh, góc độ mà tác giả quan tâm trên mặt bằng chung của các tổ chức
KH&CN mà chưa xem xét các vấn đề khó khăn, rào cản trong quá trính tự
8
chủ của các đơn vị cụ thể như các tại các đơn vị NC&TK trực thuộc Viện Hàn
lâm KHCNVN.
Lấy vì dụ, tác giả Nguyễn Thanh Bính, Viện Nghiên cứu hạt nhân,
trong luận văn cao học “Những khó khăn trong việc chuyển đổi các đơn vị
R&D của ngành Năng lượng Nguyên tử Việt Nam theo cơ chế tự chủ, tự chịu
trách nhiệm và giải pháp khắc phục” của mính đã khắc hoạ được đôi nét
những khó khăn mà Viện Nghiên cứu hạt nhân gặp phải khi thực hiện tự chủ.
Tuy nhiên, Viện Nghiên cứu hạt nhân chưa đủ sự đa dạng trong các hoạt động
NC&TK để làm nguyên mẫu đánh giá những rào cản trong quá trính tự chủ
của các tổ chức NC&TK công lập.
Gần đây nhất, tác giả Đỗ Thị Lâm Thanh, Viện Công nghệ môi trường
(trực thuộc Viện Hàn lâm KHCNVN), trong luận văn cao học “Xây dựng
chình sách thu hút nhân lực khoa học và công nghệ chất lượng cao trong điều
kiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ
Việt Nam” của mính đã nhận diện những rào cản và đề xuất giải pháp liên
quan đến tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Tuy nhiên, vấn đề mới chỉ bó hẹp trong
khuôn khổ chình sách thu hút nhân lực chất lượng cao. Đó còn chưa kể đến
giải pháp, khuyến nghị chưa xác định được Viện Hàn lâm KHCNVN có vai
một nhu cầu của con người, theo một nghĩa nào đó thí nó cũng giống như các
nhu cầu trong tháp phân cấp nhu cầu của Maslow.
Năm 1980, Osborn R. N., J. Hunt và L. Jauch trong ấn phẩm “Lý thuyết
tổ chức: Một cách tiếp cận tích hợp” đã kết luận rằng mức độ tự chủ thấp
thường gắn với đời sống lao động chất lượng thấp, mặc dù điều này còn phụ
thuộc vào từng cá nhân khác nhau.
Năm 1991, Hall R. H. trong cuốn “Các tổ chức: Cấu trúc, Quy trình, và
Đầu ra” đã bàn về tự chủ của tổ chức: Tương tự như đối với cá nhân, cũng có
thể xem xét tình tự chủ đối với một tổ chức. Điều này phù hợp với các tổ chức
có cơ cấu gồm các bộ phận nhỏ, như: các công ty thuộc một tập đoàn kinh tế
hay các bộ phân ở các quốc gia của tổ chức đa quốc gia.
Cũng trong năm 1991, Datta D. K., J. Grant và N. Rajagopalan trong
nghiên cứu “Xung khắc trong quản lý và lợi ích của tự chủ: Các tác động đến
kết quả hoạt động”, đăng trên Tạp chì Quản trị chiến lược, định nghĩa tự chủ
của tổ chức là tự do hàng ngày trong quản lý.
10
Năm 1998, Gifford D. trong “Tự chủ bao nhiêu là đủ”, đăng trên Tạp
chì Kinh doanh Harvard đã chỉ ra những chức năng cụ thể nào có thể được
quyết định bởi trụ sở chình hay được phân quyền cho các nhà quản lý ở địa
phương khi nghiên cứu tự chủ trong các bộ phận khác nhau của các tập đoàn
đa quốc gia.
Năm 2001, Harris và Holden (trong nghiên cứu về tự chủ và kiểm soát),
cũng như năm 2003, Darr (trong nghiên cứu “Kiểm soát và tự chủ đối với
nhân viên kinh doanh”) đều coi hai yếu tố tự chủ và kiểm soát là những lực
đối cực của tổ chức.
Năm 2002, Patterson S. và D. Brock trong nghiên cứu “Sự phát triển
Quản lý các công ty con: Tổng quan và Phân tích lý thuyết” đăng trên Tạp chì
Kinh doanh Quốc tế, đã sử dụng phương pháp đếm từ trong một mẫu các bài
mới hệ thống KH&CN.
Ngoài ra, có thể kể đến các nghiên cứu về cải cách hệ thống KH&CN:
- Báo cáo khoa học chuyên đề “Cải cách hệ thống tổ chức nghiên cứu
và phát triển trong bối cánh chuyển sang kinh tế thị trường” của Hoàng
Trọng Cư và cộng sự đã đưa ra kiến nghị “nhà nước chỉ quản lý những viện
nghiên cứu và phát triển quốc gia, còn các tổ chức nghiên cứu và phát triển
khác chuyển giao quản lý cho các doanh nghiệp, các trường đại học và tư
nhân hóa…”.
- Báo cáo “Vai trò của nhà nước trong hoạch định chính sách đối với
hoạt động nghiên cứu và phát triển” của TS. Ngô Tất Thắng đã đưa ra kiến
nghị “Nhà nước cần quan tâm đến lực lượng nghiên cứu trong các trường
đại học…tạo cơ chế phối hợp Viện – Doanh nghiệp và Doanh nghiệp – Đại
học …. Giảm dần can thiệp của nhà nước đối với các hoạt động của tổ chức
R&D nhà nước bằng bằng cách chuyển các cơ quan R&D công nghiệp sang
hoạt đông theo cơ chế công ty…”.
Như vậy, có thể nói, ở Việt Nam đã xuất hiện những công trính và đề
tài nghiên cứu việc cải cách, đổi mới tổ chức KH&CN. Chủ yếu các nghiên
cứu tập trung vào phân tìch quá trính và mô hính chuyển đổi của các tổ chức
này. Điều đó cho thấy, một mặt, hệ thống quản lý chưa theo kịp được với
những tư tưởng tiến bộ trong nghiên cứu. Mặt khác, hệ thống nghiên cứu
cũng chưa lý giải được bản chất của những vướng mắc trong thực tế.
12
Qua 10 năm triển khai thực hiện Nghị định 115 quy định cơ chế tự chủ,
tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN công lập mà kết quả chưa được như
kỳ vọng và nhận thấy cần phải tím ra nguyên nhân và giải pháp khắc phục nên
tác giả quyết định dành mối quan tâm cho công việc nghiên cứu này. Đó là:
Nhận diên rào cản trong quá trính tự chủ của các tổ chức nghiên cứu và triển
khai công lập và đề ra giải pháp khắc phục chúng.
- Giải pháp khắc phục rào cản:
+ Biến quyền tự chủ thành năng lực tự chủ.
+ Khâu đột phá năng lực tự chủ.
+ Điều chỉnh Nghị định 115.
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Các báo cáo hoạt động, báo cáo tổng
kết của các đơn vị trực thuộc Viện Hàn lâm KHCNVN và số liệu từ dự án
điều tra cơ bản “Tổng hợp kết quả điề u tra cơ bản của Viện Hàn lâm Khoa
học và Công nghệ Việt Nam đến năm 2010” mã số VAST.ĐTCB.03/13-14.
- Phương pháp thảo luận nhóm: Thảo luận với các học viên cùng khoá,
các nghiên cứu sinh của Khoa KHQL (đặc biệt là những nghiên cứu sinh đang
công tác tại Viện Hàn lâm KHCNVN) và các chuyên viên thuộc các tổ chức
giúp việc Chủ tịch Viện Hàn lâm KHCNVN.
9. Nội dung nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu vấn đề nêu trên gồm 3 chương:
- Chương 1 trính bày các luận cứ lý thuyết, gồm các khái niệm và giới
thiệu một số công trính nghiên cứu có liên quan.
- Các luận cứ thực tế được trính bày trong các chương sau gồm:
+ Chương 2 trính bày hiện trạng thực hiện tự chủ để nhận diện được
những rào cản trong quá trính tự chủ của các đơn vị NC&TK trực thuộc Viện
Hàn lâm KHCNVN.
+ Chương 3 đề xuất các giải pháp khắc phục những rào cản nêu trên.
10. Kết cấu của Luận văn
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do nghiên cứu
14
2. Tổng quan tính hính nghiên cứu
3. Mục tiêu nghiên cứu
- Về nhân sự
- Về công tác hợp tác quốc tế
- Về các hoạt động KH&CN
2.3. Nhận diện những rào cản trong quá trình tự chủ của các đơn vị
- Những rào cản về quyền tự chủ
- Những rào cản về năng lực tự chủ của các đơn vị
- Những rào cản về tinh thần tự chủ của các đơn vị
CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC RÀO CẢN TRONG QUÁ
TRÌNH TỰ CHỦ CỦA CÁC ĐƠN VỊ NC&TK TRỰC THUỘC VIỆN
HÀN LÂM KHCNVN
3.1. Biến quyền tự chủ thành năng lực tự chủ
- Biến quyền tự chủ về tổ chức bộ máy thành năng lực tự chủ
- Biến quyền tự chủ về tài chình, tài sản thành năng lực tự chủ
3.2. Khâu đột phá về năng lực tự chủ
- Đột phá về tổ chức
- Đột phá về tài chình
3.3. Điều chỉnh Nghị định 115
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
16
PHẦN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Khái niệm
1.1.1. Khái niệm chính sách
1.1.1.1. Chính sách
Chình sách được đề ra và thực hiện ở từng tổ chức với những quy mô
là sự bày tỏ quan điểm chình trị của các tổ chức nhằm đạt được những mục
tiêu nhất định. Còn đối với các nhà quản lý thí chình sách là những định
hướng tư duy, là cơ sở để ra các quyết định về hoạt động quản lý, điều hành.
Chình sách cũng có thể được hiểu như là cầu nối giữa chiến lược,
đường lối, chủ trương và các hành động cụ thể (dự án, chương trính).
Thuật ngữ “Chình sách” được sử dụng thường xuyên, trong nhiều lĩnh
vực, đề cập đến nhiều vấn đề và trong thời gian khá dài nhưng định nghĩa về
chình sách lại chưa có một sự thống nhất.
Tổng hợp những quan niệm trên, PGS.TS. Vũ Cao Đàm đã đưa ra định
nghĩa về chình sách: “Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa,
mà một chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi
một nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của nhóm này, định
hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong
chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội”. [7, 13].
1.1.1.2. Chính sách công
Những chình sách do các cơ quan thuộc bộ máy nhà nước ban hành
nhằm giải quyết những vấn đề có tình cộng đồng được gọi là chình sách công.
Chình sách công thường mang tình hành động, tập trung giải quyết một vấn
đề đang đặt ra trong đời sống kinh tế – xã hội với mục tiêu xác định. Hiện có
nhiều quan điểm về khái niệm này:
Theo quan điểm của một nhà chình trị William Jenkin đã đưa ra khái
niệm: “Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau
của một nhà chính trị hay một nhóm nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn
các mục tiêu và các giải pháp để đạt được các mục tiêu đó”.
18
Theo quan điểm quản lý thí Wiliam N. Dunn đưa ra khái niệm: “Chính
sách công là một kết hợp phức tạp những sự lựa chọn liên quan lẫn nhau, bao
gồm cả các quyết định không hành động, do các cơ quan nhà nước hay các
Với mỗi cách tiếp cận khác nhau có các định nghĩa khác nhau về chình
sách KH&CN. Có ý kiến cho rằng chình sách KH&CN là tập hợp các mục
tiêu và hệ thống các biện pháp (tổ chức, hành chình, tài chình, kinh tế, xã
hội,…) để thực hiện mục đìch thúc đẩy hoạt động KH&CN. Trong đó, các
mục tiêu được phân loại như sau: mục tiêu chiến lược (dài hạn), mục tiêu
chiến thuật (ngắn hạn), mục tiêu tổng hợp và mục tiêu cụ thể, mục tiêu toàn
cầu và mục tiêu cục bộ (quốc gia),…
Theo tác giả Vũ Cao Đàm [7,16-17]: “Chính sách phát triển KH&CN
của một đất nước, một địa phương hoặc một hãng, trong đó có những lĩnh
vực nghiên cứu và những công nghệ được ưu tiên phát triển theo hai hướng:
- KH&CN phục vụ cho những mục tiêu ngắn hạn về phát triển kinh tế
và xã hội, đặc biệt là công nghệ phải phục vụ cho mục tiêu nâng cao năng lực
cạnh tranh của sản xuất.
- Một mặt khác, KH&CN phải được phát triển đi trước, chuẩn bị cho
những mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp hoặc mục tiêu dài hạn của kinh tế và
xã hội, bên cạnh những lĩnh vực phải đáp ứng tức thời nhu cầu cạnh tranh của
sản xuất”.
Tóm lại, có thể hiểu: Chình sách là chương trính hành động do các nhà
lãnh đạo hay nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi
thẩm quyền của mính.
1.1.2. Khái niệm về Tổ chức NC&TK
1.1.2.1. Khái niệm NC&TK
Năm 1980, UNESCO đưa ra khái niệm NC&TK như sau:
- Nghiên cứu (research) bao gồm hai loại, NCCB (fundamental
research), NCƯD (applied research).
- Quá trính “Triển khai” được UNESCO mô tả gồm 2 giai đoạn như sau:
+ Giai đoạn 1: Tạo sản phẩm mẫu, tức sản phẩm đầu tiên từ kết quả
nghiên cứu (prototype).
+ Giai đoạn 2: Làm Pilot để thử nghiệm và hoàn thiện sản phẩm mẫu
(prototype) vừa được tạo ra từ giai đoạn 1 (pilot production).
Tổ chức KH&CN là các cách gọi tắt của thuật ngữ “Tổ chức nghiên
cứu khoa học và triển khai công nghệ”.
Luật Khoa học và Công nghệ giải thìch thuật ngữ này tại Khoản 11,
Điều 3 như sau:
21
“11. Tổ chức khoa học và công nghệ là tổ chức có chức năng chủ yếu
là nghiên cứu khoa học, nghiên cứu triển khai và phát triển công nghệ, hoạt
động dịch vụ khoa học và công nghệ, được thành lập và đăng ký hoạt động
theo quy định của pháp luật.”
Trên thế giới, có các mô hính tổ chức KH&CN khác nhau và được tác
giả Vũ Cao Đàm tóm tắt thành bốn loại cơ bản như sau:
- Mô hính I: là mô hính cổ điển nhất, trong đó các tổ chức NC&TK
thực hiện trọn vẹn các giai đoạn của quá trính NC&TK, còn các doanh nghiệp
chỉ làm nhiệm vụ sản xuất và tiếp tục phát triển công nghệ trong sản xuất.
Giữa tổ chức NC&TK và doanh nghiệp tồn tại các công ty tư vấn đóng vai trò
cầu nối từ NC&TK tới sản xuất.
- Mô hính II: là một nỗ lực của doanh nghiệp hướng tới làm chủ công
nghệ mới bằng cách tự mính làm triển khai, từ khâu chế tạo vật mẫu sản phẩm
mới (prototype), làm pilot để xây dựng công nghệ và sản xuất loạt “0”, đưa
vào sản xuất công nghiệp và tiếp tục phát triển công nghệ trong sản xuất.
- Mô hính III: tổ chức NC&TK tạo ra các doanh nghiệp KH&CN (xì
nghiệp spin-off), chuyển toàn bộ khâu “triển khai” vào doanh nghiệp này, đồng
thời để doanh nghiệp này kiêm luôn cả chức năng của một công ty tư vấn.
- Mô hính IV: doanh nghiệp KH&CN kéo dài chức năng về phìa trước,
bắt đầu từ nghiên cứu ứng dụng qua triển khai tới tư vấn.
Các mô hính
tổ chức
Mô hính I
Công ty
tư vấn
Doanh
nghiệp
Doanh nghiệp
Doanh nghiệp KH&CN
Doanh nghiệp KH&CN
Doanh
nghiệp
Doanh
nghiệp
Hình 1. Các mô hình tổ chức trong hoạt động KH&CN
Trích nguồn: [12,292]
Như vậy, tổ chức KH&CN bao gồm: tổ chức NC&TK và doanh nghiệp
KH&CN, trong đó:
22
a) Tổ chức NC&TK:
Tổ chức NC&TK được tổ chức dưới các hính thức Viện/Trung tâm
NC&TK, phòng thì nghiệm, trạm quan trắc/nghiên cứu/thử nghiệm,... với
nhiệm vụ theo quy mô tổ chức và phạm vi hoạt động. Tùy theo phân cấp quản
lý hành chình các tổ chức NC&TK được chia thành:
- Các tổ chức NC&TK cấp quốc gia được thành lập chủ yếu thực hiện
các nhiệm vụ KH&CN ưu tiên, trọng điểm của nhà nước nhằm cung cấp các
luận cứ khoa học cho việc định ra đường lối, chình sách, pháp luật, tạo ra các