ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA VẬT LÍ
--------
TIỂU LUẬN
Môn: DẠY HỌC VẬT LÍ THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT
TRIỂN NĂNG LỰC
Đề tài: NĂNG LỰC THỰC HÀNH TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ
Giảng viên hướng dẫn:
Học viên thực hiện: NHÓM 6:
PGS. TS. Lê Văn Giáo
1. Lê Thị Minh Phương
2. Hoàng Thơ Thơ
3. Đặng Thị Thu Thủy
4. Nguyễn Thị Minh Trâm
5. Nguyễn Thị Bảo Trang
6. Võ Văn Tú
Lớp: LL&PPDHBM Vật lí k24
Huế, tháng 04 năm 2017
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trước sự phát triển không ngừng của nền kinh tế - xã hội, hội nhập kinh tế ngày
càng mở rộng đánh dấu thế kỷ XXI là thế kỷ của sự cạnh tranh về mặt trình độ của nguồn
NỘI DUNG
NĂNG LỰC THỰC HÀNH
1. Khái niệm
1.1. Khái niệm thực hành
Thực hành là hành động để áp dụng lý thuyết vào thực tế.
1.2. Khái niệm năng lực thực hành
Năng lực thực hành là một trong những năng lực chuyên biệt của môn Vật lí, là
khả năng hành động, vận dụng, phối hợp kiến thức, kĩ năng trong điều kiện ngoại cảnh
(khách quan) cụ thể với yêu cầu về thái độ tích cực để bố trí và tiến hành thí nghiệm cũng
như hoàn thành tốt nhiệm vụ đặt ra hay giải quyết các vấn đề thực tiễn một cách hiệu quả.
2. Các năng lực thành tố của năng lực thực hành
Đối với HS cấp THPT, các năng lực thành tố của năng lực thực hành trong vật lí bao
gồm:
2.1. Năng lực đề xuất phương án thí nghiệm
Lập kế hoạch TN là bước đầu tiên, có vai trò quan trọng, góp phần quyết định sự
thành công của bài TN. Nếu bước này hoàn thành tốt sẽ giúp HS tiến hành TN một cách
chủ động, không lúng túng trong các thao tác, theo đúng phương pháp và thu được kết
quả TN tương đối chính xác. Kỹ năng lập kế hạch TN thể hiện qua các khả năng: xác
định vấn đề, mục đích TN; đề xuất và lựa chọn phương án TN; xây dựng tiến trình làm
TN và lập các bảng biểu, đồ thị cần thiết.
2.2. Năng lực gia công và sử dụng các dụng cụ thí nghiệm
Đối với kỹ năng này, HS phải có hiểu biết nhất định về dụng cụ TN như công
dụng, nguyên tắc hoạt động hay sử dụng kết hợp một số dụng cụ với nhau. Tuy nhiên,
trong quá trình tiến hành TN, có một số dụng cụ HS được tiếp xúc lần đầu, chính vì vậy
để thực hiện tốt bước này HS phải: có sự quan sát hình dạng bên ngoài của dụng cụ đặc
biệt là các dụng cụ tiếp xúc lần đầu tiên nhằm giúp HS nhận dạng và gọi tên dụng cụ
trong những lần sau; khâu quan trọng nhất là chọn dụng cụ, tìm hiểu cấu tạo, công dụng,
- Tăng cường sử dụng thí nghiệm học sinh trong dạy học
- Thường xuyên sử dụng phương pháp thực nghiệm trong dạy học
Trên đây là các biện pháp chính mang tính chiến lược lâu dài và quan trọng trong việc
đổi mới giáo dục nhằm phát triển NLTH cho HS. Vì Vật lí là môn khoa học thực nghiệm,
việc sử dụng phương pháp thực nghiệm trong dạy học vật lí sẽ góp phần làm tăng niềm
tin của HS đối với khoa học, đồng thời giúp HS làm quen với PP thực nghiệm.
Các kết quả thực nghiệm do HS thu được có thể có những sai lệch nhỏ so với các định
luật, công thức mà các nhà khoa học đã tìm ra trước đó, nhưng điều quan trọng là GV cần
hướng dẫn HS cách xử lí các số liệu và nhận xét các kết quả thu được, rút ra được nguyên
nhân sai số, đánh giá được quy trình làm TN để từ đó rút ra những kết luận và đi đến kiến
thức mới một cách phù hợp và không phải gượng ép.
-Tăng cuờng sử dụng thí nghiệm trong dạy học
Tăng cường sử dụng TN trong dạy học thể hiện ở việc GV khai thác, sử dụng nhiều
TN biễu diễn có liên quan đến nội dung bài học và thường xuyên tổ chức cho HS làm các
TN thực tập trong quá trình dạy học. Vì TN vật lí có vai trí quan trọng trong việc hình
thành và phát triển các NLTH cho HS, là phương tiện để vận dụng tri thức vào thực tiễn,
là cầu nối giữa lí thuyết và thực tiễn. Mục đích của việc tăng cường sử dụng TN trong
DH nhằm giúp HS có sự quan sát, tiếp xúc với dụng cụ TN, từ đó có thể thực hiện các
thao tác đơn giản là bắt chước, làm TN theo hướng dẫn và có phương án cho trước đến
việc tự đề xuất phương án TN, tự chế tạo dụng cụ và tiến hành TN độc lập.
- Tổ chức cho HS chế tạo dụng cụ hoạt động dựa trên các nguyên tắc vật lí và tăng
cường phát động các cuộc thi sáng tạo khoa học công nghệ
Các kĩ năng mà HS có được nếu vận dụng vào đời sống thông qua việc chế tạo dụng
cụ thì sẽ càng bền vững hơn. Bên cạnh đó, thời lượng của môn học trên lớp khá hạn chế,
nên HS không có điều kiện được thực hiện các thao tác để rèn luyện tất cả các kĩ năng.
Bởi thế, việc đưa ra một hình thức nhằm giúp HS rèn luyện, vận dụng các kĩ năng thực
hành ở nhà với thời gian không hạn chế là điều rất cần thiết.
Một trong các hình thức đó là tổ chức cho HS chế tạo các dụng cụ có ứng dụng các
nguyên tắc vật lí. Hoạt động này có thể được tổ chức trong lớp học giữa các nhóm HS
cho GV lơ là, xem nhẹ việc phát triển NLTH cho các em; HS không nhận thấy tầm quan
trọng và không có ý thức trong việc tự phát triển NLTH cho bản thân. Do đó, việc đổi
mới cách thức kiểm tra đánh giá là một biện pháp góp phần phát triển NLTH cho HS.
* Một số lưu ý trong tổ chức dạy học theo hướng phát triển NLTH cho HS.
Trong DH vật lí, để có thể tổ chức DH theo hướng phát triển NLTH cho học sinh một
cách có hiệu quả, nhằm góp phần nâng cao chất lượng DH cần lưu ý một số vấn đề sau:
- Cải tiến phương pháp dạy học truyền thống
Thuyết trình, đàm thoại, luyện lập luôn là những PPDH quan trọng. Đổi mới PPDH
không có nghĩa là loại bỏ các PPDH truyền thống quen thuộc. Để nâng cao hiệu quả các
phương pháp này, giáo viên trước hết cần nắm vững yêu cầu, sử dụng thành thạo kỹ
thuật trong chuẩn bị cũng như tiến hành bài trên lớp, như kỹ thuật mở bài, kỹ thuật trình
bày, giải thích trong khi thuyết trình, kỹ thuật đặt các câu hỏi, xử lý câu trả lời trong đàm
thoại, hay kỹ thuật làm mẫu trong luyện tập…
- Kết hợp đa dạng các phương pháp và hình thức dạy học
Không có một PPDH toàn năng, phù hợp với mọi mục tiêu và nội dung dạy học. Mỗi
phương pháp và hình thức dạy học có những ưu, nhược điểm và giới hạn sử dụng riêng.
Vì vậy, cần phối hợp linh hoạt, đa dạng các PPDH để phát huy tính tích cực, chủ động
cho HS và nâng cao chất lượng dạy học.
- Tăng cường sử dụng các phương tiện dạy học
Phương tiện dạy học có vai trò quan trọng việc đổi mới PPDH, nhằm tăng cường tính
trực quan và thí nghiệm, thực hành trong dạy học. Tuy nhiên, việc sử dụng các phƣơng
tiện dạy học cần phải phù hợp với mối quan hệ giữa phương tiện dạy học và phương
pháp dạy học.
Hiện nay, việc trang bị phương tiện dạy học mới cho các trường phổ thông từng bước
được tăng cường. Tuy nhiên, các phương tiện dạy học tự làm của giáo viên luôn có ý
nghĩa quan trọng, cần được phát huy.
Đa phương tiện và công nghệ thông tin vừa là nội dung dạy học vừa là phương tiện
dạy học trong dạy học hiện đại. Bên cạnh việc sử dụng đa phương tiện như một phương
giới hạn vào khả năng tái hiện tri thức mà chú trọng khả năng vận dụng tri thức trong
việc giải quyết các nhiệm vụ phức hợp.
Cần sử dụng phối hợp các hình thức, phương pháp kiểm tra, đánh giá khác nhau. Kết
hợp giữa kiểm tra miệng, kiểm tra viết và bài tập thực hành. Kết hợp giữa trắc nghiệm tự
luận và trắc nghiệm khách quan. Hiện nay, ở Việt Nam có xu hướng chọn hình thức trắc
nghiệm khách quan cho các kỳ thi tốt nghiệp hay tuyển đại học. Trắc nghiệm khách quan
có những ưu điểm riêng cho các kỳ thi này. Tuy nhiên, trong đào tạo thì không được lạm
dụng hình thức này. Vì nhược điểm cơ bản của trắc nghiệm khách quan là khó đánh giá
được khả năng sáng tạo cũng như năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp.
Trong DH vật lí, mỗi khâu của quá trình có những đặc điểm riêng về việc tổ chức, sử
dụng các PP và hình thức DH. Vì thế, cần phối hợp linh hoạt các phương pháp DH đồng
thời tăng cường vai trò của các TN một cách phù hợp với các khâu khác nhau của quá
trình DH thì mới góp phần rèn luyện các kĩ năng, phát triển NLTH cho HS.
Ngoài ra, việc tổ chức DH theo hướng phát triển năng lực không những phải bám sát
các nội dung cơ bản của chương, bài, phần, đơn vị kiến thức… mà còn phải phù hợp với
khả năng của người học. Hơn nữa, việc tổ chức DH theo hướng phát triển năng lực cho
HS phải phù hợp với thời gian tổ chức các hoạt động học tập và điều kiện cụ thể của từng
loại hình trường, lớp, vùng, miền...
4. Bộ tiêu chí đánh giá kĩ năng thực hành
4.1. Cơ sở xây dựng bộ tiêu chí đánh giá kĩ năng thực hành
Tiêu chí là tính chất, là dấu hiệu làm căn cứ để nhận biết, xếp loại một sự vật, một
khái niệm. Để xây dựng bộ tiêu chí đánh giá kĩ năng thực hành của học sinh cần dựa vào
mục tiêu kĩ năng mà HS cần đạt được. Hai loại bảng phân loại mục tiêu giáo dục của
Harrow và Dave cho lĩnh vực kĩ năng trong đào tạo theo năng lực, thường được sử dụng.
Harrow phân loại mục tiêu kĩ năng gồm có 5 mức độ
Mức độ
Định nghĩa
Sự thực hiện
Thực hiện được các kĩ năng trong các
Làm được chính xác như
hóa
hoàn cảnh và tình huống khác nhau
mẫu trong các hoàn cảnh và
tình huống khác nhau
5 Làm thành
Đạt trình độ cao về tốc độ và sự chính
Làm được chính xác như
thục
xác, ít cần sự can thiệp về ý thức
mẫu, kĩ năng như bản năng
Phân loại mục tiêu theo kĩ năng của Dave
Mức độ
Sự thể hiện
Mức 1
cập đến một kĩ năng xác định, được chia theo 5 mức độ tương ứng với các mức năng lực
từ thấp đến cao:
• Tiêu chí 1: Lập được bảng kế hoạch thí nghiệm hợp lí
Mức 1: Chưa lập được kế hoạch thí nghiệm, giáo viên cần phải đưa ra phương án thí
nghiệm và mẫu kế hoạch thí nghiệm để học sinh bắt chước và sao chép rập khuôn các
bước lập kế hoạch của giáo viên.
Mức 2: Đã lập được bản kế hoạch nhưng còn sơ sài, phương án thí nghiệm thiếu tính khả
thi, vẫn cần sự định hướng và hướng dẫn của giáo viên
Mức 3: Biết lập bảng kế hoạch nhưng chưa đầy đủ, chi tiết, phương án thí nghiệm có tính
khả thi nhưng chưa tối ưu, cần sửa chữa, điều chỉnh, bổ sung ý kiến của giáo viên
Mức 4: Đã tự đề xuất được phương án thí nghiệm, lập được bảng kế hoạch chi tiết, đầy
đủ, đúng thời gian quy định mà không cần đến sự hỗ trợ, can thiệp của giáo viên
Mức 5: Tự đề xuất và tự lựa chọn được phương án thí nghiệm tối ưu, trình bày đầy đủ và
chi tiết bản kế hoạch trong thời gian ngắn
• Tiêu chí 2: Tìm hiểu đầy đủ về dụng cụ, biết cách sử dụng dụng cụ thí nghiệm
Mức 1: Chưa biết cách tìm hiểu dụng cụ và cách thức sử dụng dụng cụ thí nghiệm. Giáo
viên cần phải thực hiện mẫu các thao tác tìm hiểu dụng cụ và cách thức sử dụng dụng cụ
để học sinh làm theo và thực hiện rập khuôn các thao tác đó theo giáo viên.
Mức 2: Bước đầu biết tìm hiểu dụng cụ, thực hiện các thao tác sử dụng dụng cụ nhưng
cần sự hướng dẫn chi tiết, tỉ mỉ của giáo viên.
Mức 3: Biết tìm hiểu dụng cụ khi quan sát trực tiếp dụng cụ và đọc tài liệu hướng dẫn. Tự
thao tác được với dụng cụ mà không cần sự hỗ trợ nhiều của giáo viên.
Mức 4: Từ việc quan sát trực tiếp các dụng cụ và đọc bản hướng dẫn, học sinh tự tìm hiểu
được dụng cụ mới. Thao tác được với dụng cụ mà không cần sự hướng dẫn, trợ giúp của
giáo viên.
Mức 5: Tự tìm hiểu được một dụng cụ mới và thao tác được với dụng cụ đó.
• Tiêu chí 3: Lắp đặt, bố trí thí nghiệm đúng và hợp lí
Mức 1: Chưa tự tháo lắp dụng cụ theo sơ đồ, cần sự làm mẫu của giáo viên để bắt chước,
Mức 3: Xử lí được các số liệu và rút ra nhận xét nhưng kết quả còn sai lệch so với thực
tế, sai số lớn, nhận xét đánh giá chưa cụ thể, chi tiết.
Mức 4: Xử lí được các số liệu và đưa ra được các nhận xét về quá trình làm thí nghiệm.
Kết quả thí nghiệm phù hợp với thực tế, sai số không vượt quá phạm vi cho chép, tìm ra
được nguyên nhân dẫn đến sai số nhưng chưa có biện pháp khắc phục cải tiến.
Mức 5: Nhanh chóng xử lí được số liệu, rút ra được các nhận xét về quá trình làm thí
nghiệm. Kết quả thí nghiệm phù hợp với thực tế, sai số không vượt quá phạm vi cho
chép, tìm ra được nguyên nhân dẫn đến sai số đồng thời đề xuất được biện pháp khắc
phục.
• Tiêu chí 6: Sửa chữa, chế tạo dụng cụ thí nghiệm
Mức 1: Chưa tự sửa chữa được các thiết bị thí nghiệm hư hỏng kể cả những hư hỏng nhẹ.
Chưa chế tạo được dụng cụ thí nghiệm theo phương án đã đề xuất.
Mức 2: Bước đầu sửa chữa được một số hư hỏng đơn giản. Chế tạo được dụng cụ thí
nghiệm đơn giản nhưng cần sự hướng dẫn chi tiết của giáo viên.
Mức 3: Biết sửa chữa một số thiết bị hư hỏng mà ít cần sự hướng dẫn của giáo viên, tuy
nhiên hiệu quả chưa cao. Đã chế tạo được một số dụng cụ thí nghiệm nhưng tính thẩm mĩ
và kĩ thuật chưa cao.
Mức 4: Tự sửa chữa được các thiết bị hư hỏng. Chế tạo được dụng cụ thí nghiệm phù hợp
với phương án lựa chọn mà không cần sự bổ sung góp ý của giáo viên.
Mức 5: Sửa chữa các hư hỏng với tốc độ cao và hiệu quả. Chế tạo được thiết bị thí
nghiệm phù hợp với phương án đã đề xuất đảm bào tính thẩm mĩ và kĩ thuật cao, hoàn
thành trong thời gian ngắn.
5. Ví dụ
Ví dụ: Bài thực hành “Nghiệm lại lực đẩy Acsimet”, Vật lí lớp 8 THCS, thí nghiệm được
sử dụng trong bài là TN của HS phải được thực hiện trên phòng TN sau khi HS đã tìm
hiểu kiến thức về lực đẩy Acsimet. Năng lực thực hành (NLTH) của HS được biểu hiện
qua các yếu tố sau:
trung thực, tỉ mỉ, kiên nhẫn trong quá trình làm TN vì thực hành đo lực trong bài rất dễ bị
sai số và đôi lúc kết quả TN cũng không phải như mong muốn.
THỰC HÀNH:
NGHIỆM LẠI LỰC ĐẨY ÁC-SI-MÉT
* Mục đích:Nghiệm lại xem độ lớn của lực đẩy Ác-si-mét có bằng trọng lượng phần chất
lỏng bị vật chiếm chỗ hay không.
- Dụng cụ thực hành:
1. Một lực kế.
2. Một vật nặng.
3. Cốc đựng nước.
4. Một giá đo.
5. Một bút lông để đánh dấu.
- Công thức lực đẩy Ác-si-mét:
FA = d.V
trong đó:
d: Trọng lượng riêng của chất lỏng (N/m3).
V: Thể tích phần chất lỏng bị vật chiếm chỗ (m3).
FA : Lực đẩy Acsimet (N).
* Muốn kiểm chứng độ lớn của lực đẩy Acsimet cần phải đo những đại lượng:
+ Đo độ lớn lực đẩy Acsimet (FA).
+ Đo trọng lượng phần chất lỏng (nước) bị vật chiếm chỗ (P) (có thể tích bằng thể tích
vật ).
1. Đo lực đẩy Ác-si-mét
•
Bước1: Đo trọng lượng P của vât đặt trong không khí.
•
•
Bước 3: Dùng lực kế đo trọng lượng của bình nước khi nước ở mức 1 (P1 )
Bước 4: Đổ thêm nước vào bình đến mức 2, đo trọng lượng của bình nước khi
nước ở mức 2 (P2 )
Trọng lượng phần nước bị vật chiếm chỗ PN được tính:
PN = P2 - P1
3. So sánh kết quả đo PN và FA
Nhận xét và rút ra kết luận.
- Lưu ý khi thực hiện thí nghiệm đo lực đẩy Ácsimét
+ Điều chỉnh lực kế chỉ đúng vạch số 0;
+ Đổ nước vào 2/3 cốc thủy tinh;
+ Vật nặng nhúng ngập vào cốc, không được chạm vào đáy hay thành cốc.
- Lưu ý khi thực hiện thí nghiệm đo trọng lượng P
+ Điều chỉnh lực kế chỉ đúng vạch số 0;
+ Đổ nước đến vòi miệng bình tràn, cho nước tràn ra một ít, đổ bỏ phần tràn ra;
+ Vật nặng nhúng ngập vào bình tràn, không được chạm vào đáy hay thành bình;
+ Đổ nước từ cốc hứng vào cốc có móc treo phải cẩn thận, không để nước đổ ra ngoài.
KẾT LUẬN
Bài tiểu luận đã giải quyết được những nhiệm vụ sau:
1. Xây dựng được khái niệm thực hành và khái niệm năng lực thực hành, từ đó đã đưa ra
được các năng lực thành tố của năng lực thực hành.
2. Đề xuất được các biện pháp phát triển năng lực thực hành cho học sinh như là:
- Trang bị kiến thức vững chắc liên quan vấn đề thực hành
- Tăng cường cho học sinh đề xuất phương án thí nghiệm để phát huy tính sáng tạo của
học sinh