Đánh giá hiệu quả của công cụ phí môi trường trong quản lý nước thải công nghiệp tại việt nam và đề xuất biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý - Pdf 46

LỜI CẢM ƠN
Với mỗi sinh viên đại học, khóa luận tốt nghiệp là một mốc cuối cùng đánh
dấu việc kết thúc 4 năm học tập trên giảng đƣờng và cũng là bƣớc khởi đầu làm
quen với công việc nghiên cứu và công tác sau này.
Để hoàn thành khoá luận tốt nghiệp, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến
thầy giáo Ths Bùi Đình Hoàn là ngƣời đã tận tình hƣớng dẫn em trong suốt thời
gian làm luận văn tốt nghiệp. Em xin chân thành cảm ơn đến các thầy cô giáo
trong Viện Môi Trƣờng và các thầy cô trƣờng Đại học Hàng Hải Việt Nam đã
dạy dỗ giúp đỡ em trong suốt 4 năm học qua và tạo điều kiện thuận lợi giúp em
hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này.
Đồng thời, em gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã đã hỗ trợ, động viên
em trong thời gian qua.
Em xin chân thành cảm ơn!

Hải Phòng, ngày…tháng…năm 2015
Sinh viên
Bùi Thị Quế


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU ................................................................................................................ i
1. Tính cấp thiết của đề tài ....................................................................................... i
2. Mục đích của đề tài ............................................................................................ ii
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu....................................................................... ii
4. Phƣơng pháp nghiên cứu .................................................................................... ii
5. Nội dung nghiên cứu ......................................................................................... iii
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ CÔNG CỤ PHÍ MÔI TRƢỜNG ĐỐI VỚI
NƢỚC THẢI CÔNG NGHIỆP………………………………………………….1
1.1. Khái quát về phí môi trƣờng ..................................................................... 1
1.1.1. Khái niệm về phí môi trường .............................................................. 1

3.2. Biện pháp kinh tế.................................................................................... 37
3.3. Biện pháp kĩ thuật .................................................................................. 38
3.4. Biện pháp nâng cao nhận thức của cộng đồng ........................................ 39
KẾT LUẬN .......................................................................................................... 42
1. Kết luận ............................................................................................................ 42
2. Khuyến nghị ..................................................................................................... 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 44
PHỤ LỤC ............................................................................................................ 45


MỘT SỐ TỪ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG ĐỀ TÀI

BVMT

Bảo vệ môi trƣờng

CV

Mã lực

DN SX CN

Doanh nghiệp sản xuất công nghiệp

DWT

Trọng tải

KCN



Hệ số thu phí theo lƣợng nƣớc thải của các cơ sở

16

sản xuất
Bảng 2.1

Bảng tổng hợp kết quả thu phí tại Thành phố Hồ

28

Chí Minh theo Nghị định 25/2013NĐ-CP
Bảng 2.2

Bảng tổng hợp kết quả thu phí tại Hải Phòng theo

28

Nghị định 25/2013/NĐ-CP
Bảng 2.3

Kết quả thu phí nƣớc thải công nghiệp của thành
phố Hải Phòng từ 2010 đến 31/8/2014

30


DANH MỤC HÌNH
Số hình

Hình 2.4

Kênh Ba Bò bị ô nhiễm do nƣớc thải từ các khu
công nghiệp

25


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế toàn cầu đang phát triển mạnh mẽ, đòi hỏi sự nỗ lực vƣơn lên
không ngừng của các nƣớc kém phát triển và các nƣớc đang phát triển để bắt kịp
tốc độ của các nƣớc phát triển trên thế giới.Nhƣng cùng với sự phát triển của
kinh tế là vấn đề môitrƣờng đang rất đáng lo ngại, nhất là ở các nƣớc đang phát
triển. Ở các nƣớc này để phát triển kinh tế họ khai tài nguyên thiên nhiên quá
mức kèmtheo các hoạt động thải chất thải tràn lan ra ngoài môi trƣờng mà
không qua các khâu xử lí hoặc xử lý sơ sài chống đối làm tổn hại nghiêm trọng
đến môi trƣờng. Trƣớc tình hình đó,vấn đề đƣợc đặt ra là phải có những biện
pháp và công cụ hiệu quả nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trƣờng
sinh thái và môi trƣờng sống của con ngƣời. Và thực tế cho thấy các công cụ
kinh tế là một trong những công cụ hiệu quả nhất đã đƣợc nhiều nƣớc áp dụng
và thu đƣợc những hiệu quả nhất định trong quản lý môi trƣờng và bảo vệ môi
trƣờng.
Ở nƣớc ta hiện nay đang trong giai đoạn thực hiện CNH-HĐH đất nƣớc
nên có thể thấy rằng vấn đề ô nhiễm nhiễm môi trƣờng đang là vấn đề vô cùng
bức thiết và nóng bỏng cần đƣợc quan tâm. Khi lấn sâu vào hội nhập kinh tế
quốc tế yêu cầu chúng ta phải không ngừng nỗ lực phát triển để nhanh chóng
thoát khỏi đói nghèo, đƣa nên kinh tế nƣớc nhà bắt kịp với sự phát triển chung
của các nƣớc khu vực và trên thế giới.Nhƣng cùng với sự nỗ lực vƣơn lên ấy là
sự xâm hại nghiêm trọng đến môi trƣờng, lợi ích mà kinh tế đem lại đã làm con

thải, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc sử
dụng công cụ này trong quản lý nƣớc thải công nghiệp ở Việt Nam.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu là các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trƣờng
trong đó đặc biệt chú trọng đến công cụ phí môi trƣờng trong quản lý nƣớc thải
công nghiệp.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là việc áp dụng công cụ phí nƣớc thải trên
lãnh thổ Việt Nam.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phƣơng pháp điều tra, thống kê, tổng hợp dữ liệu.
Phƣơng pháp phân tích số liệu.

ii


5. Nội dung nghiên cứu
Chƣơng 1. Tổng quan về công cụ phí môi trƣờng đối với nƣớc thải công nghiệp
Chƣơng 2. Hiệu quả của công cụ phí môi trƣờng đối với nƣớc thải công nghiệp
Chƣơng 3. Đề xuất biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý

iii


CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ CÔNG CỤ PHÍ MÔI TRƢỜNG ĐỐI VỚI
NƢỚC THẢI CÔNG NGHIỆP
1.1. Khái quát về phí môi trƣờng
1.1.1. Khái niệm về phí môi trường
Hiện nay ở nhiều nƣớc trên thế giới đã sử dụng các công cụ kinh tế nhằm
khuyến khích hành vi tích cực đối với môi trƣờng. Trong các công cụ thì thu phí
dƣới hình thức này hay hình thức khác hiện đang đƣợc áp dụng nhiều tại các

Thuế là khoản thu của cho ngân sách nhà nƣớc, dùng để chi cho mọi hoạt động
của nhà nƣớc. Thuế môi trƣờng nói chung hay thuế ô nhiễm môi trƣờng nói
riêng đều do nhà nƣớc định ra thu về cho ngân sách, dùng để chi chung, không
chi riêng cho lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng.
Phí môi trƣờng là khoản thu của Nhà nƣớc nhằm bù đắp một phần chi phí
thƣờng xuyên và không thƣờng xuyên đối với công tác quản lý, điều phối hoạt
động của ngƣời nộp phí. Nhƣ vậy khác với thuế môi trƣờng, phần lớn kinh phí
thu phí sẽ đƣợc sử dụng, điều phối lại cho công tác quản lý, bảo vệ môi trƣờng
và giải quyết một phần các vấn đề môi trƣờng do những ngƣời đóng góp gây ra.
Lệ phí là khoản thu có tổ chức, bắt buộc với những ngƣời hƣởng lợi hoặc
sử dụng một dịch vụ nào đó do nhà nƣớc hoặc một cơ quan đƣợc nhà nƣớc cho
phép cung cấp. Khác với phí môi trƣờng lệ phí phải chỉ rõ lợi ích của dịch vụ mà
ngƣời trả lệ phí đƣợc hƣởng, còn đối với phí môi trƣờng, đôi khi lợi ích này
không rõ ràng.
Trong thực tế có nhiều cách tính, đánh phí phụ thuộc vào đối tƣợng đánh
phí, điều kiện thực tế, khả năng thông tin, dƣới đây là một số loại phí đang đƣợc
áp dụng ở nhiều nƣớc:
Phí phát thải: Đây là phí đánh vào việc phát chất ô nhiễm ra môi trƣờng và
gây tiếng ồn, phí phát thải liên quan đến số lƣợng, đặc tính của chất gây ô nhiễm
và chi phí gây tác hại ô nhiễm cho môi trƣờng.
Phí sản phẩm: Phí này đánh vào sản phẩm có hại cho môi trƣờng khi sử
dụng chúng trong các quy trình sản xuất, tiêu thụ hoặc thải nó. Mức phí này
đƣợc xác định tuỳ thuộc vào chi phí thiệt hại đến môi trƣờng có liên quan đến
sản phẩm đó.
Phí sử dụng: Phí sử dụng có chức năng làm tăng nguồn thu và liên quan
đến chi phí xử lý, chi phí thu gom và thải bỏ hoặc thu hồi lại chi phí quản lý tuỳ
2


thuộc vào tình huống mà chúng đƣợc áp dụng, phí sử dụng không liên quan trực

3


ra loại hàng hoá này với số lƣợng lớn hơn mức cân bằng trên thị trƣờng, đồng
thời sẽ thải ra các chất ô nhiễm vƣợt quá mức cân bằng thị trƣờng, vƣợt quá mức
sức chịuđựng của môi trƣờng. Vì vậy, Pigou cho rằng để khắc phục mức sản
lƣợng vƣợt quámức cân bằng thị trƣờng do các tác động ngoại ứng gây ra, bằng
cách điều chỉnh sốlƣợng sản phẩm sản xuất thông qua việc đặt một hệ thống
thuế/phí thích hợp đốivới từng đơn vị sản phẩm gây ô nhiễm.
Pigou đã đề ra mức thuế/phí nhƣ sau: mức thế tính cho mỗi đơn vị sản
phẩm gây ô nhiễm có giá trị bằng chi phí bên ngoài do đơn vị sản phẩm gây ô
nhiễm tại mức hoạt động tối ƣu Q*.
Trên hình 1.1, mức thuế Pigou chính bằng MEC tại mức hoạt động Q*,
nghĩa là bằng giá trị t*.Nhƣ vậy sau khi trừ đi thuế/phí Pigou, đƣờng lợi nhuận
biên MNPB sẽ trở thành (MNPB – t*) là đƣờng lợi nhuận biên mới.
Thật vậy, với mức thuế Pigou t*, nhà sản xuất sẽ điều chỉnh mức hoạt động
về Q*. Vì đánh phí vào từng đơn vị sản phẩm nên chỉ khi nào MNPB lớn hơn
mức thuế thì ngƣời sản xuất mới có lãi. Điều này chỉ đạt đƣợc khi sản xuất ở
mức Q*. Do đó ý tƣởng đánh thuế đã đạt đƣợc hoạt động tối ƣu đƣợc thực hiện.
Trên thực tế, xác định mức tối ƣu t* rất khó khăn.Để xác định đƣợc mức
phí này thì phải xác định đƣợc mức hoạt động Q*. Sau đó xác định mức thải do
hoạt động Q* gây ra, đồng thời phải tính đƣợc mức thiệt hai (chi phí ngoại ứng)
do ô nhiễm gây ra tại mức hoạt động Q*.

Hình 1.1. Mức thuế/phí ô nhiễm
4


Xét về mặt toán học, có thể tính phí tối ƣu nhƣ sau:
Gọi NSB là lợi nhuận xã hội do hoạt động sản xuất mang lại. P là giá của


Nhƣ vậy, điều kiện cần để có lợi nhuận xã hôi cực đại là:
P=

𝑑𝐶 𝑑𝐸𝐶
𝑑𝑄

-

𝑑𝑄

-

𝑑𝑆𝐶
𝑑𝑄

(1.3)

Trong đó, SC bằng chi phí biên riêng của ngƣời sản xuất cộng với chi phí ngoại
ứng, gọi là chi phí xã hội.
Từ (1.3) ta có:
P-

𝑑𝐶
𝑑𝑄

=

𝑑𝐸𝐶
𝑑𝑄

𝑑𝑄 ∗

(1.6)

Vậy dEC/dQ* trong (1.6) chính là mức thuế mà Pigou đã đề ra:
𝑑𝐸𝐶
𝑑𝑄 ∗

= t*(1.7)

Vậy giá sản phẩm bằng chi phí cá nhân trên đơn vị sản phẩm là mức tối ƣu Q*
cộng với thuế ô nhiễm Pigou:
P=

𝑑𝐶
𝑑𝑄

– t*(1.8)

Mức thuế đƣợc xác định phải tƣơng đƣơngvới chi phí một đơn vị tác động ngoại
ứng hay sự chênh lệch giữa chi phí cá nhân của xí nghiệp kinh doanh (MC) với
chi phi biên của xã hội (MSC)
Gọi t là mức phí đánh vào một đơn vị đo chất thải ta có:
MSC = t + MC
Hay MSC - MC
Hiệu số (MSC – MC) cũng chính là chi phí ngoại ứng trên một đơn vị chất
thải(MEC) do đó ta có:
t = MSC - MC = MEC
Mức thuế t đƣợc đánh theo sản lƣợng, do đó thuế/ phí có liên quan đến lợi
nhuận, để tối ƣu hóa lợi nhuận của xã hội thì sảnlƣợng của doanh nghiệp phải

án đầu tƣ làm giảm chất thải gây ô nhiễm thay vì nộp phí, phƣơng án này có lợi
cho các doanh nghiệp vì rẻ hơn. Ngƣợc lại khi MAC cao hơn phí gây ô nhiễm
phải trả, doanh nghiêp sẽ lựa chọn phƣơng án trả phí vì rẻ hơn so với tiếp tục
các phƣơng pháp giảm thải chất thải gây ô nhiễm. Nhƣ vậy,doanh nghiệp phải
chịu hai lần chi phí: thứ nhất để giảm ô nhiễm chừng nào MAC thấp hơn phí ô
nhiễm, thứ hai, đóng phí khi MAC lớn hơn mức phí phải đóng. Thực tế cho thấy
các doanh nghiệp và các ngành công công nghiệp thƣờng có hàm chi phí biên
giảm chất ô nhiễm khác nhau. Đây là những yếu tố quyết định chi phí làm giảm
ô nhiễm để doanh nghiệp cân nhắc trƣớc khi xây dựng hệ thống xử lý hay nộp
phí.
Vấn đề đặt ra với xác định phí gây ô nhiễm là phí thải có tác dụng khuyến
khích các doanh nghiệp tiếp tục sản xuất để có lợi nhuận,đồng thời phải đảm bảo
đƣợc tiêu chuẩn, chất lƣợng môi trƣờng quy định. Theo kinh nghiệm của nhiều
nƣớc, việc xác định mức phí vẫn là vấn đề phức tạp gây nhiều tranh cãi, trong đó
7


nguyên nhân quan trọng chính là thiếu thông tin hay thông tin không chính xác
dẫn đến không đủ cơ sở để xác định chi phí thiệt hại chính xác.[1]
1.1.4. Tiêu chuẩn môi trường và và vấn để xác định phí môi trường
Tiêu chuẩn môi trƣờng đƣợc coi là một chuẩn mực để xác định trách nhiệm
của đối tƣợng gây ra ô nhiễm môi trƣờng, nói cách khác, khi ngƣời sản xuất chất
thải ô nhiễm có nồng độ vƣợt tiêu chuẩn môi trƣờng thì họ đã vi phạm qui định.
Khi đó việc xác định mức phí phải cao hơn nhiều và đƣợc coi là tiền phạt khi vi
phạm tiêu chuẩn.[1]
Hiện nay ở Việt Nam đang áp dụng một bộ tiêu chuẩn môi trƣờng bao gồm
giới hạn nồng độ của các chất thải vào môi trƣờng không khí, môi trƣờng nƣớc
và tiếng ồn. Những tiêu chuẩn này đƣa ra giới hạn đối với các khu vực xung
quanh cũng nhƣ cho các điểm nguồn. Các tiêu chuẩn tại điểm nguồn phần lớn
dựa vào nồng độ ô nhiễm thay vì tổng lƣợng chất thải. Khi tính phí ô nhiễm môi

vùng theo khả năng chịu tải của ô nhiễm môi trƣờng tại khu vực đó.
Đối với Việt Nam, đây là một vấn đề quan trọng cần xem xét để chọn đƣơc
phƣơng án thích hợp. Tuy nhiên, không nên qui định một tiêu chuẩn chất thải
giống nhau cho một loại chất thải khi chúng thải ra khu vực khác nhau. Giải
pháp giải quyết cho vấn đề này là xác định hệ số chịu tải riêng cho từng khu vực
và từ đó qui dịnh tiêu chuẩn môi trƣờng thích hợp.
1.1.5. Tính phí dựa vào đặc tính của chất gây ô nhiễm
Đặc tính của chất gây ô nhiễm là một trong các yếu tố quan trọng để xác
định mức phí. Dƣới đây sẽ phân tích đặc tính và khả năng gây hại của một số
chất ô nhiễm môi trƣờng nƣớc:
Nhu cầu oxi sinh hóa –BOD
Nhu cầu oxy sinh hóa là chỉ tiêu thông dụng nhất để xác định mức ô nhiễm
chất hữu cơ có thể phân hủy bởi vi sinh vật trong nƣớc thải đô thị và chất thải
công nghiệp. BOD là nhu cầu oxy cần cho vi sinh vật trong quá trình phân hủy
chất hữu cơ.
Nhu cầu oxy hóa học – COD
Thông số này đặc trƣng cho hàm lƣợng chất hữu cơ của chất thải trong
nƣớc tự nhiên. COD là lƣợng oxy cần thiết cho quá trình oxy hóa các chất hữu
cơ trong nƣớc thành CO2 và nƣớc. Lƣợngoxy này tƣơng đƣơng với hàm lƣợng
chất hữu cơ có thể bi oxy hóa. Trong thông số COD biểu thị tất cả các lƣợng các
9


chất hữu cơ, kể cả phẩn không bị oxy hóa bằng vi sinh vật, do đó nó có giá trị
cao hơn BOD.
Tổng chất rắn lơ lửng
Chất rắn lơ lửng là tác nhân gây ảnh hƣởng tiêu cực đến tài nguyên đồng
thời gây tác hại về mặt cảm quan (tăng độ đục của nƣớc) gây bồi lắng dòng
chảy. Đây là chỉ tiêu xác định chất lƣợng nƣớc thải và nƣớc tự nhiên.[1]
1.2. Kinh nghiệm thu phí nƣớc thải ở một số quốc gia trên thế giới.

sở sản xuất kinh doanh giảm lƣợng ô nhiễm thải ra ngoài môi trƣờng bởi họ cố
tình lẩn tránh bằng cách pha loãng nồng độ chất thải trong khi đó lƣợng chất thải
không thay đổi.
Để khắc phục những nhƣợc điểm trên từ năm 1990 Hàn Quốc đã đánh phí
căn cứ vào lƣợng thải vƣợt tiêu chuẩn cho phép và kết hợp nồng độ chất thải
trong công thức tính phí. Ngoài ra, Hàn Quốc đã điều chỉnh xuất phí cao hơn chi
phí vận hành hệ thống xử lý ô nhiễm để khuyến khích giảm ô nhiễm.
Trung Quốc
Từ nhiều năm qua Trung Quốc đã áp dụng một hệ thống phí phạt với hơn
100 mức phí đánh giá vào các nguồn gây ô nhiễm đối với nƣớc thải, khí thải,
phế thải tiếng ồn và các loại khác do vi phạm tiêu chuẩn môi trƣờng. Hệ thống
này đƣợc áp dụng theo 3 giai đoạn, bắt đầu từ năm 1979 bằng việc thực nghiệm
tại thành phố Suzhou, sau đó đƣợc mở rộng ra toàn quốc vào những năm 1981
và ba giai đoạn đƣợc tiếp tục cho đến ngày hôm nay. Kết quả của việc áp dụng
hệ thống phí này đã giảm tới 60,4% tổng lƣợng chất gây ô nhiễm thải ra môi
trƣờng trong giai đoạn 1979-1996. Mức phí ô nhiễm đƣợc căn cứ vào cả lƣợng
và nồng độ của các chất thải ra ngoài môi trƣờng. Tuy nhiên hệ thống này cũng
bộc lộ những nhƣợc điểm là mức phí đặt ra quá thấp nên đã hạn chế đƣợc tác
động tích cực khiến ngƣời gây ô nhiễm phải thay đổi hành vi của mình.
Mục đích chính của việc áp dụng hệ thống này là tăng nguồn thu cho các
ủy ban bảo về môi trƣờng ở địa phƣơng. Theo quy định, các ủy ban này đƣợc
giữ phép lại 20% nguồn thu từ phí và 100% tiền phạt để dùng cho các hoạt động
của họ. Trên thực tế, nguồn thu đƣợc từ phí đã đƣợc sử dụng để trợ cấp cho các
xí nghiệp để họ thực hiện biện pháp kiểm soát và xử lý ô nhiễm. Hệ thống phí
này hiện đã đƣợc cải cách theo hƣớng không dùng nguồn thu để trợ cấp cho
công việc kiểm soát và xử lý ô nhiễm. Ngày nay, 80% nguồn thu từ quỹ đƣợc
đƣa vào quỹ của các địa phƣơng để cho các xí nghiệp vay cho mục đích môi
11



kinh tế tài chính để huy động nguồn lực toàn xã hội tham gia bảo vệ môi trƣờng
12


đƣợc coi là các biện pháp tốt, vừa giảm gánh nặng cho NSNN, vừa giúp đạt
đƣợc các mục tiêu về môi trƣờng có hiệu quả cao hơn.
Kinh nghiệm tại các nƣớc cũng chỉ ra rằng quyết định sử dụng công cụ
kinh tế không đồng nghĩa với việc quá nhấn mạnh các công cụ này mà bỏ đi các
biện pháp hành chính và kiểm soát truyền thống. Cần phải có một hệ thống hỗn
hợp để vừa duy trì đƣợc những yếu tố tích cực của các biện pháp hành chính,
vừa phải sử dụng các công cụ kinh tế để phát huy tính linh hoạt, giảm chi phí
thực hiện, khuyến khích phát triển bền vững.
Việc sử dụng các công cụ kinh tế tài chính sẽ mang lại hiệu quả cao hơn
khi nó đƣợc sử dụng một cách đồng bộ ở tất cả các khâu, các hoạt động chủ yếu
của công tác quản lý và bảo vệ môi trƣờng trên cơ sở kết hợp các biện pháp
hành chính. Các công cụ kinh tế rất đa dạng nhƣng cần ƣu tiên sử dụng những
công cụ có tác động làm thay đổi hành vi của con ngƣời.
Thứ ba, nên thực hiện tốt phƣơng châm phòng ngừa hơn chữa trị.
Trong lĩnh vực môi trƣờng, việc phòng ngừa và ngăn chặn những bất lợi
gây ra đối với môi trƣờng sẽ đỡ tốn kém hơn rất nhiều so với chi phí xử lý, khắc
phục hậu quả. Để giúp các chủ thể kinh doanh giảm bớt khó khăn do việc phải
chi các khoản phí đƣợc xem là “bất thƣờng” trong việc khắc phục các hậu quả
môi trƣờng và tạo nguồn tài chính cho hoạt động phòng ngừa, khắc phục rủi ro
về môi trƣờng, thì việc sử dụng các công cụ kinh tế là cần thiết.
Kinh nghiệm các nƣớc cho thấy, trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng, các
công cụ kinh tế có thể đƣợc sử dụng ở hầu hết các khâu và việc sử dụng các
công cụ kinh tế này thƣờng mang lại hiệu quả một cách tổng hợp, cả về kinh tế,
xã hội và môi trƣờng.
Các công cụ kinh tế cũng tiềm tàng các hiệu quả phòng ngừa và cả chữa trị
bởi việc bắt buộc trả tiền khi xâm hại đến môi trƣờng đã đủ làm cho các chủ thể

m) Cơ sở sản xuất: linh kiện, thiết bị điện, điện tử;
n) Cơ sở: sơ chế phế liệu, phá dỡ tàu cũ, vệ sinh súc rửa tàu;
o) Nhà máy cấp nƣớc sạch;
p) Hệ thống xử lý nƣớc thải tập trung khu công nghiệp, khu đô thị (trừ các
trƣờng hợp đƣợc miễn phí bảo vệ môi trƣờng theo quy định của pháp luật);
14


q) Cơ sở sản xuất công nghiệp khác.[4]
Người nộp phí
- Tổ chức, cá nhân xả nƣớc thải công nghiệp ra ngoài môi trƣờng là ngƣời nộp
phí bảo vệ môi trƣờng.
- Trƣờng hợp các tổ chức, cá nhân xả nƣớc thải vào hệ thống thoát nƣớc
và nộp phí thoát nƣớc thì đơn vị quản lý, vận hành hệ thống thoát nƣớc là ngƣời
nộp phí bảo vệ môi trƣờng đối với nƣớc thải đã tiếp nhận và thải ra ngoài môi
trƣờng.
- Đối với các cơ sở sản xuất, chế biến nông sản, lâm sản thủy sản quy
định tại Khoản 2 Điều 2 Nghị định 25/2013/NĐ-CP này sử dụng nguồn nƣớc từ
đơn vị cung cấp nƣớc sạch cho hoạt động sản xuất, chế biến phả nộp phí bảo vệ
môi trƣờng đối với nƣớc thải công nghiệp (không phải nộp phí bảo vệ môi
trƣờng đối với nƣớc thải sinh hoạt).[5]

1.3.2.Mức phí và cách xác định số phí phải nộp đối với nước thải công nghiệp
1.3.2.1. Mức phí đối với nước thải công nghiệp
a) Phí bảo vệ môi trƣờng đối với nƣớc thải của cơ sở sản xuất, cơ sở chế
biến không thuộc Danh mục lĩnh vực, ngành sản xuất, chế biến có nƣớc thải
chứa kim loại nặng do Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng ban hành (sau đây gọi tắt
là Danh mục), đƣợc tính theo công thức:
F = f + C, trong đó:
- F là số phí phải nộp;

F = (f x K) + C, trong đó:
- F, f và C nhƣ quy định tại Điểm a Khoản này;
- K là hệ số tính phí theo lƣợng nƣớc thải của cơ sở sản xuất, cơ sở chế
biến thuộc Danh mục và đƣợc xác định nhƣ sau:
Bảng 1.2: Hệ số tính phí theo lƣợng nƣớc thải của các cơ sở sản xuất
STT Lƣợng nƣớc thải (m3/ngày đêm)

Hệ số K

1

Dƣới 30 m3

2

2

Từ 30 m3 đến 100 m3

6

3

Từ trên 100 m3 đến 150 m3

9

4

Từ trên 150 m3 đến 200 m3


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status