Nghiên cứu đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường và tiết kiệm năng lượng nhằm phát triển du lịch xanh tại đảo cát bà, hải phòng - Pdf 46

MỤC LỤC

KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT ............................................................................3
DANH MỤC CÁC BẢNG ......................................................................................4
DANH MỤC CÁC HÌNH .......................................................................................5
LỜI CẢM ƠN ..........................................................................................................6
PHẦN MỞ ĐẦU ......................................................................................................7
1.

Tính cấp thiết của đề tài .............................................................................7

2.

Mục đích của đề tài .....................................................................................7

3.

Phạm vi nghiên cứu .....................................................................................7

4.

Phƣơng pháp nghiên cứu ...........................................................................8

5.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài .................................................8

CHƢƠNG MỘT: TỔNG QUAN VỀ DU LỊCH XANH ...................................9
1.1. Tổng quan về du lịch xanh. ........................................................................9
1.1.1.



CHƢƠNG BA: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG
VÀ TIẾT KIỆM NĂNG LƢỢNG NHẰM PHÁT TRIỂN DU LỊCH XANH
TẠI ĐẢO CÁT BÀ ................................................................................................33
3.1. Công tác giáo dục và tuyên truyền về du lịch xanh ..............................33
3.2. Giao thông tính toán đến bảo vệ môi trƣờng. .......................................34
3.3. Tiết kiệm năng lƣợng tại các công trình du lịch ...................................36
3.4. Giải pháp giảm thiểu ô nhiễm do rác thải .............................................37
3.5. Triển khai thực hiện kế hoạch phát triển du lịch xanh cho đảo Cát
Bà... ......................................................................................................................38
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ..............................................................................40
TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................42

2


KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
1. EV: Electric Vehicles – xe dùng điện.
2. GDP: Gross Domestic Product – Tổng sản phẩm quốc nội.
3. LED: Light Emitting Diode – điốt phát quang.
4. UBND: Uỷ ban Nhân dân.
5. UNESCO: United Nations Educational Scientific and Cultural
Organization – Tổ chức Giáo dục Khoa học và Văn hoá của Liên hiệp
quốc.
6. UNWTO: United National World Tourist Organization - Tổ chức Du
lịch Thế giới.

3



14

2.1

Dự án Khu nghỉ dưỡng Venus Cát Bà

28

2.2

Hoạt động du lịch tại đảo Cát Bà

30

2.3

Bãi thu gom rác thải gia đình

31

2.4

Lò đun bằng than tại nhà máy bột cá

31

2.5

Bảo vệ động vật hoang dã


Và hơn hết, em xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành nhất tới Thạc sĩ
Trần Anh Tuấn, người đã trực tiếp hướng dẫn, nhiệt tình chỉ bảo, bổ sung kiến
thức cho em và động viên để em hoàn thành bài luận văn tốt nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hải Phòng, tháng 11 năm 2015

6


PHẦN MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Nhiều năm trở lại đây, du lịch đã và đang trở thành một nhu cầu không
thể thiếu trong đời sống của con người. Là một đất nước có nhiều danh lam
thắng cảnh, du lịch Việt Nam cũng đã có những bước phát triển mạnh mẽ, dần
tạo lập được vị thế trong khu vực cũng như trên toàn thế giới. Tuy nhiên, cùng
với sự phát triển của xã hội thì du lịch lại đang bộc lộ nhưng mặt trái tác động
không nhỏ đến môi trường, cũng như ngược lại, biến đổi khí hậu và sự nóng lên
của trái đất cũng đang ảnh hưởng xấu đến sự phát triển du lịch. Chính vì thế,
nhiều nước trên thế giới đã hướng tới phát triển những hoạt động du lịch mang
tính bền vững hơn hay còn gọi là du lịch xanh và Việt Nam cũng không phải là
một ngoại lệ.
Hải Phòng là thành phố cảng biển có nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên,
du lịch nhân văn phong phú, đặc sắc cùng các hệ sinh thái, hệ động thực vật đa
dạng và điển hình. Đặc biệt, quần đảo Cát Bà từ lâu đã được biết đến là khu du
lịch nổi tiếng mang tầm cỡ quốc gia và quốc tế.
Không nằm ngoài xu hướng phát triển du lịch của Việt Nam nói riêng và
của thế giới nói chung, du lịch Cát Bà cũng đang hướng tới phát triển du lịch
xanh nhằm góp phần vào sự bền vững của thành phố.
Là sinh viên ngành môi trường, em thấy mình cần có trách nhiệm tìm hiểu
và nghiên cứu các vấn đề về du lịch xanh, những lợi ích của du lịch xanh để góp


Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Chính phủ Việt Nam đã đưa ra “Chiến lược tăng trưởng xanh” năm 2012
nhằm đạt được các mục tiêu chung của nhân loại về bảo vệ môi trường. Năm
2014, Thủ tướng chính phủ cũng đã đưa ra quyết định về “Kế hoạch hành động
tăng trưởng xanh” để cụ thể hoá chiến lược này. Thành phố Hải Phòng là một
thành phố lớn, đóng vai trò quan trọng trong hỗ trợ về kinh tế, xã hội cho khu
vực Bắc Bộ bao gồm cả thủ đô Hà Nội. Đặt biệt, du lịch Hải Phòng cũng rất
phát triển với những địa danh nổi tiếng như Đồ Sơn, Cát Bà. Do đó, việc tìm
hiểu về du lịch xanh cung cấp cho ta những kiến thức cơ bản về một hình thức
du lịch bền vững hơn, vừa phát triển kinh tế vừa bảo vệ môi trường. Qua đó đưa
ra được các giải pháp bảo vệ môi trường và tiết kiệm năng lượng nhằm phát
triển du lịch xanh tại đảo Cát Bà.
Nội dung đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về du lịch xanh.
Chương 2: Tình hình phát triển du lịch xanh tại đảo Cát Bà.
Chương 3: Đề xuất một số giải pháp bảo vệ môi trường và tiết kiệm năng
lượng nhằm phát triển du lịch xanh tại đảo Cát Bà.
5.

8


CHƢƠNG MỘT: TỔNG QUAN VỀ DU LỊCH XANH
1.1.

Tổng quan về du lịch xanh.

1.1.1. Khái niệm
Trong một khái niệm rộng, du lịch xanh được định nghĩa là các hoạt động

làm trái đất nóng lên, do ngành du lịch tạo ra.
Vượt lên các loại hình du lịch khác, du lịch xanh không chỉ có ý nghĩa
quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của một địa phương, một đất nước,
mà nó còn góp phần vào sự bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc,
giữ gìn cảnh quan và bảo vệ môi trường. Mục đích của du lịch xanh là cho phép
phát triển du lịch theo cách thuận lợi và công bằng cho cộng đồng người địa
phương, là phải tạo cuộc sống một ổn định dài hạn và không làm tổn hại đến
cảnh quan du lịch và môi trường thiên nhiên.Chính vì vậy mà du lịch xanh đang
được các nước trên thế giới và các tỉnh thành trong nước xem như một giải pháp
hiệu quả để bảo vệ môi trường sinh thái, bên cạnh các lợi ích kinh tế mà nó
mang lại.
Hơn thế nữa, đến nay, du lịch xanh không còn là một chọn lựa mà là một
hướng đi bắt buộc cho mọi quốc gia trong quá trình phát triển ngành du lịch của
mình đặc biệt đối với các nước mới phát triển. Nó cũng là xu hướng chọn lựa
chính hiện nay của những người đi du lịch với một ý thức cao về bảo vệ mội
trường và sự tôn trọng sắc thái văn hóa xã hội cũng như cuộc sống của cộng
đồng dân cư tại những vùng miền , đất nước họ đến du lịch và tìm hiểu.Trong
chương trình “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn
đến năm 2030”, Tổng cục Du lịch đã nêu rõ quan điểm phát triển là chú trọng
phát triển du lịch theo chiều sâu, phát triển du lịch bền vững gắn chặt với việc
bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, giữ gìn cảnh quan và bảo vệ môi
trường.

1.1.3. Biểu hiện của du lịch xanh

10


Du lịch xanh là khái niệm trung tâm được dùng để mô tả những quy tắc
thực hành của ngành du lịch có trách nhiệm đối với kinh tế, văn hóa xã hội, và


Bảo tồn môi trường:
Chọn những tour du lịch khuyến khích những nổ lực bảo tồn thiên

nhiên tại nơi đến du lịch bao gồm cả những khu vực bảo tồn động vật
hoang dã..
5.

Tôn trọng văn hóa địa phương:
Tổ chức các hoạt động , tạo điều kiện để du khách hòa mình cuộc

sống của địa phương, chấp nhận những khác biệt văn hóa , tìm hiểu
11


phong tục tập quán của địa phương đến du lịch và nói ngôn ngữ của họ
nếu có thể .
6.

Sử dụng tài nguyên thiên nhiên:
Giảm thiểu, sử dụng lại và tái tạo ( reduce,reuse, recycle) là những

tiêu chí quan trọng để bảo vệ môi trường, kiểm soát việc sử dụng hiệu
quả các tài nguyên thiên nhiên như nước, năng lượng, vật liệu xây dựng..
cách quản lý phân loại rác thãi của công ty lữ hành và khách sạn lưu trú.

1.2.

Tình hình phát triển du lịch xanh


nghĩa gần giống nhau trong cách thức tham quan nhưng không gây ảnh hưởng
đến môi trường tự nhiên và văn hóa địa phương. Tận dụng thế mạnh biển và
rừng núi của mình, nhiều nước Đông Nam Á đưa ra những sản phẩm du lịch
xanh như tham quan các khu bảo tồn, ngắm chim, cùng sống với người dân địa
phương, tham quan bằng xe đạp, trồng cây, lặn biển ngắm san hô và cá, thưởng
thức cây và hoa, thám hiểm rừng, chinh phục thác nước,... Khi tham gia các
tour du lịch này, khách du lịch được khuyến khích hòa nhập với thiên nhiên,
giúp nâng cao đời sống của người dân địa phương mà không gây bất cứ tác
động gì đến môi trường.Singapore là quốc gia tiêu biểu cho khuynh hướng tạo
ra du lịch xanh. Đây không phải là một đất nước giàu tài nguyên nhưng họ tạo
ra màu xanh cho mình bằng cách trồng cây xanh khắp nơi, thậm chí trồng cả
cây xanh nhân tạo. Vườn cây Garden By the Bay của Singapore đã tạo được
các "siêu cây" cao từ 22-50 mét, có khả năng tổng hợp năng lượng mặt trời,
nhận nước mưa, lọc không khí và có hệ thống quang điện để chuyển ánh sáng
mặt trời thành năng lượng điện. Vườn cây này vừa khai trương vào tháng 6 2012 và dự tính có thể đón đến 5 triệu lượt khách tham quan mỗi năm [3].

13


Hình 1.1. Vƣờn cây Garden By the Bay của Singapore
Ngoài ra, nhằm phát triển du lịch xanh tại các khu du lịch, nhiều nghiên
cứu ứng dụng năng lượng xanh cũng đã được quan tâm và sử dụng tại rất nhiều
quốc gia như Mỹ, Pháp, Hà Lan, Na Uy,... Điển hình có thể kể đến khách sạn
Santa Monica ở Los Angeles, khách sạn Calton ở San Fransico – là khách sạn
5 sao đầu tiên trên thế giới sử dụng năng lượng mặt trời trong các dịch vụ của
mình và đang hướng tới danh hiệu khách sạn xanh.
1.2.2. Tại Việt Nam [4]
Nằm ở vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa, lãnh thổ Việt Nam trải dài trên
15 độ vĩ tuyến với ¾ là địa hình đồi núi và cao nguyên, hơn 3.200 km đường bờ
biển, hàng ngàn hòn đảo... Trên lãnh thổ đó là nơi sinh sống của cộng đồng

Tuy là loại hình du lịch khá mới mẻ ở nước ta, nhưng trước nhu cầu của
thị trường và khả năng đáp ứng của các tiềm năng du lịch xanh của Việt Nam,
tại một số nơi hoạt động du lịch xanh cũng đã hình thành dưới các hình thức
khai thác tiềm năng tài nguyên du lịch tự nhiên khác nhau như du lịch tham
quan, nghiên cứu ở một số khu vườn Quốc gia (Cát Bà, Cúc Phương, Ba Bể,
Nam Cát Tiên, Tam Nông, U Minh...); du lịch thám hiểm, nghiên cứu vùng núi
cao như Phanxipang; du lịch tham quan miệt vườn, sông nước đồng bằng sông

15


Cửu Long; du lịch lặn biển (Hạ Long – Cát Bà, Nha Trang), thám hiểm hang
động (Phong Nha)...
Chiến lược phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm
2030 đã xác định: “Tập trung đầu tư phát các loại hình, sản phẩm du lịch có thể
là thế mạnh về tài nguyên du lịch của đất nước và của từng địa phương. Ưu tiên
phát loại hình du lịch gắn với biển, hải đảo; nhấn mạnh yếu tố văn hóa và sinh
thái đặc sắc trong sản phẩm du lịch.Tập trung phát các khu du lịch biển tầm cỡ,
chất lượng cao, tạo thương hiệu và có sức cạnh tranh trong khu vực và trên thế
giới”.
Như vậy, việc phát triển du lịch xanh đã là một nội dung chiến lược quan
trọng của Du lịch Việt Nam và là một hướng đi đúng đắn cho việc phát triển du
lịch bền vững. Trong những năm qua, ở các địa phương có hoạt động du lịch,
loại hình “du lịch xanh” đã tạo cơ hội tăng thêm việc làm và nâng cao thu nhập
cho cộng đồng cư dân, nhất là người dân ở các địa bàn vùng sâu, vùng xa - nơi
có các khu bảo tồn tự nhiên, các di tích, danh lam và các cảnh quan tự nhiên độc
đáo, hấp dẫn. Ngoài ra, “du lịch xanh” còn góp phần vào việc nâng cao dân trí
và sức khỏe cộng đồng thông qua các hoạt động giáo dục môi trường, văn hóa
lịch sử và nghỉ ngơi giải trí. Bên cạnh các lợi ích về kinh tế, “du lịch xanh” còn
được xem là một giải pháp hữu hiệu để bảo vệ môi trường sinh thái thông qua

số các hệ sinh thái phong phú và năng động nhất trên thế giới.Hệ động vật ở
đồng bằng sông Cửu Long gồm 23 loài có vú, 386 loài và bộ chim, 6 loài lưỡng
cư và 260 loài cá. Số lượng và tính đa dạng của hệ động vật thường lớn nhất
trong các khu rừng tràm và rừng ngập mặn còn lại. Đây là một vùng trú đông
quan trọng đối với các loài chim di trú. Trong những năm gần đây, 7 khu vực
sinh sản lớn của các loài diệc, cò vằn, cò trắng và vạc đã được phát hiện trong
các khu rừng tràm; loài sếu mỏ đỏ Phương Đông đã được phát hiện ở huyện
Tam Nông, Đồng Tháp Mười. Trong khu bảo tồn Tràm Chim có 92 loài chim đã
được xác định. Trong vùng rừng U Minh có 81 loài chim đã được ghi nhận.
Theo Trung tâm Quốc gia Giống thủy sản nước ngọt Nam Bộ, đồng bằng sông
Cửu Long còn có trên 250 loài cá nước ngọt, trong đó khoảng 50 loài có giá trị
kinh tế cao và khoảng gần 20 loài cá quý hiếm.
17


Bên cạnh lợi thế về địa lý - tự nhiên, các tiềm năng nhân văn cho phát
triển du lịch xanh ở đồng bằng sông Cửu Long cũng rất đa dạng và phong phú.
Cộng đồng dân cư ở đây có nền văn hóa phong phú, đa dạng bản sắc của nhiều
dân tộc anh em, trong đó có 4 dân tộc chiếm đa số là Kinh, Khmer, Hoa và
Chăm. Quá trình hình thành và phát triển đã để lại cho đồng bằng sông Cửu
Long nhiều di tích lịch sử, văn hóa cấp quốc gia; nhiều khu sinh thái tự nhiên có
giá trị mang tầm quốc gia và quốc tế (có 2/6 khu Ramsar trên cả nước thuộc
đồng bằng sông Cửu Long là Vườn quốc gia Tràm Chim và Vườn quốc gia Mũi
Cà Mau). Bên cạnh các di tích lịch sử, văn hóa, cách mạng, vùng đồng bằng
sông Cửu Long còn có nhiều nghề thủ công truyền thống (gạch, gốm, rèn, xay
xát, nông ngư cụ,…) với kỹ năng độc đáo; nhiều lễ hội gắn liền với các sinh hoạt
văn hóa, văn nghệ dân gian đặc sắc của cộng đồng các dân tộc (1.234 lễ hội,
trong đó có 856 lễ hội dân gian, 262 lễ hội tôn giáo, 107 lễ hội lịch sử cách
mạng và 9 lễ hội khác). Ngoài ra, những nét riêng, tinh tế của nghệ thuật ẩm
thực cũng đã tạo nên nét đặc trưng về văn hóa vô cùng hấp dẫn của đồng bằng

quản lý, nhà đầu tư về tầm quan trọng chiến lược của phát sản phẩm du lịch
xanh. Chúng ta chưa có được những cơ quan, tổ chức quản lý chuyên nghiệp về
du lịch xanh, chưa có được những bộ tiêu chí,đánh giá về du lịch xanh làm cơ sở
cho việc đánh giá và dán nhãn xanh cho các sản phẩm du lịch tạo nên giá trị và
tính cạnh tranh trong khu vực và trên thế giới.

19


CHƢƠNG 2: TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN DU LỊCH XANH
TẠI ĐẢO CÁT BÀ
2.1. Tổng quan về Đảo Cát Bà
Đảo Cát Bà là địa danh đã được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh
quyển thế giới vào năm 2009 và cũng là địa chỉ du lịch hấp dẫn du khách trong
nước và quốc tế.
2.1.1. Vị trí địa lý
Toạ độ địa lý: Đảo Cát Bà ở khoảng vĩ độ 20o48’ Bắc, kinh độ 107o Đông.
Đảo Cát Bà ở độ cao khoảng 200m so với mực nước biển, cách thành phố
Hải Phòng khoảng 60km về phía Đông và cách thủ đô Hà Nội khoảng 150km về
phía Đông. Vì vậy, Cát Bà nằm ngay phạm vi dải ven bờ biển và là nơi giao lưu
của nhiều tuyến giao thông thuỷ quan trọng trong vùng thuỷ nội địa và quốc tế
nên điều kiện giao lưu với đất liền rất dễ dàng, thuận lợi cho việc phát triển giao
thông vận tải đường biển, thuận tiện cho việc chăm nom, đi lại, kết hợp với các
tuyến du lịch của khách tham quan.
Đảo Cát Bà nằm trong tổng thể vùng du lịch ven biển Hạ Long – Bái Tử
Long, là cửa ngõ tới si sản thiên nhiên thế giới – vịnh Hạ Long và là điểm du
lịch bừng sáng nối giữa hai cực của tam giác tăng trưởng kinh tế của miền Bắc –
Hà Nội – Hải Phòng – Hạ Long – hai trung tâm du lịch lớn nhất miền Bắc Việt
Nam: Hạ Long – Hải Phòng, tạo thành một tuyến du lịch theo đường biển kết
hợp với đường bộ và đường sắt. Khách du lịch sẽ có nhiều trải nghiệm thú vị với

Tuy về kích thước không lớn nhưng các hang lại có hình thái khá đẹp. Vì vậy
đây là nguồn tài nguyên có giá trị lớn không những hấp dẫn khách du lịch bốn
phương mà còn là tiền đề thuận lợi cho việc phát triển du lịch địa phương trong
thời điểm hiện tại và lâu dài.
-

Đồng bằng khá bằng phẳng chỉ có ở Phù Long với góc dốc bề mặt

thường là 1 – 3o. Độ chia cắt sâu trung bình 4-5km, chia cắt dày lớn, trung bình
7-8 km/km2.
-

Đáy biển nguyên là đồng bằng lục địa lớn bị biển làm ngập trong thời

gian biển tiến sau băng hà lần cuối cùng. Đáy biển có hình thái đồng bằng. Vùng
đáy sâu trung bình 5 – 10m, cực đại là 39m.
Trong phạm vi đồng bằng này có một số rạn san hô. Sự phức tạp của địa
hình đáy biển với nhiều rạn san hô có giá trị ở vùng ven đảo Cát Bà là yếu tố
21


quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi phát triển nhiều loại hình du lịch như du lịch
lặn ngầm, du lịch mạo hiểm.
-

Bờ biển xung quanh đảo Cát bà mang kiểu bờ biển mài mòn hoá học.

Cát Bà chủ yếu là núi đá vôi, có đường biển khúc khuỷu, dáng hùng vĩ, độ dốc
lớn, đới bờ hẹp, bị chia cắt mạnh dạng răng cưa. Bờ biển có nhiều mũi nhô đá
gốc xen kẽ với các vụng nhỏ hình dáng không nhất định tạo thành do kết quả

2o47’

23.289

Cát Cò I

250

104

2o13’

18.606

Cát Cò II

270

84

2o56’

17.868

Cát Quyền

140

38



có thể phát triển nhiều loại hình du lịch cùng một lúc: du lịch tham quan, du lịch
sinh thái, du lịch leo núi, du lịch nghiên cứu, du lịch lặn biển và du lịch thể thao
dưới nưới, du ngoạn bằng thuyền...
b. Khí hậu
Cát Bà có những ưu thế về khí hậu, cũng tương tự như những điểm du
lịch khác ở ven biển phía Bắc, khí hậu Cát Bà bị chi phối sâu sắc bởi biển. Ảnh
hưởng của biển làm điều hoà khí hậu khu vực đảo, giảm bớt các ảnh hưởng cực
đoan về nhiệt độ và độ ẩm, mùa hè, thời tiết Cát Bà không qua oi bức, mùa đông
không quá lạnh. Do dự chi phối hoàn lưu gió mùa Đông Nam Á, khí hậu Cát Bà
mang tính nhiệt đới nóng ẩm và gió mùa, chia làm hai mùa rõ rệt:
- Mùa hè, từ tháng 5 đến tháng 9, khí hậu nóng ẩm gần trùng với
mùa mưa nhiều, rất thuận lợi cho hoạt động du lịch, đặc biệt là tắm biển. Mùa hè
cũng là mùa đông khách của hoạt động du lịch trên đảo. Tháng 4 và tháng 10 là
các tháng chuyển tiếp.
- Mùa đông: mang tính lạnh, hạn chế các nhu cầu nghỉ ngơi tắm biển,
từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, đồng thời cũng chính là mùa vắng khách trên
đảo.
Khí hậu Cát Bà thường xuyên biến động, rõ nhất là sự biến động của yếu
tố nhiệt độ trong mùa đông và yếu tố mưa trong mùa hạ. Tuy nhiên, vì Cát Bà
nằm giáp biển Đông, lại chịu ảnh hưởng của biển đổi khí hậu toàn cầu và nước
biển dâng nên hàng năm, Cát Bà vẫn xuất hiện các hiện trạng thời tiết bất
thường:
- Bão và áp thấp nhiệt đới thường xuất hiện vào khoảng các tháng 7,
8, 9, 10. Hàng năm, có từ 3 – 5 lần đổ bộ vào Cát Bà. Bão thường gây mưa lớn
trên toàn khu vực, gây tổn hại lớn đến các công trình phục vụ khách du lịch của
đảo.
- Dông: hàng năm, có khoảng 40 – 50 ngày có dông lớn. Dông
thường xuất hiện vào mùa hạ.


- Thực vật rừng: rừng trên đảo nguyên là rừng rậm nhiệt đới nhưng
do bị tác động mạnh của con người nên hầu hết đã bị thay bằng thực bì thứ sinh
24


nghèo nàn hơn. Tại trung tâm đảo Cát Bà hiện vẫn còn rừng rậm nhiệt đới xanh
quanh năm được bảo tồn khá nguyên vẹn. Về đa dạng sinh học, trong vườn quốc
gia đã xác định có 745 loài thực vật bậc cao thuộc 495 chi và 149 họ thực vật.
- Động vật rừng: toàn bộ động vật vườn quốc gia Cát Bà có thể chia
theo các nhóm sau:
+ Động vật đặc hữu:

1 loài

+ Động vật quý hiếm:

5 loài

+ Động vật có thể làm thuốc:

20 loài

+ Động vật cho da và lông quý:

9 loài

+ Động vật làm cảnh xuất khẩu:

15 loài


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status