Quyền hành pháp ở Việt Nam hiện nay (LA tiến sĩ) - Pdf 46

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THỊ NGỌC TRÂM

LÊ THỊ NGỌC TRÂM

QUYỀN HÀNH PHÁP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
QUYỀN
HÀNH PHÁP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Mã số: 62 38 01 02
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật hành chính
Mã số: 62 38 01 02
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:

1. PGS.TS. Nguyễn Thị Hồi
NGƢỜI2.
HƢỚNG
DẪN
KHOA
HỌC:
PGS.TS.

CHƢƠNG 2 ......................................................................................................................... 25
CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUYỀN HÀNH PHÁP ...................................... 25
2.1. Khái niệm quyền lực và quyền lực nhà nƣớc ............................................................... 25
2.2. Khái niệm, nội dung quyền hành pháp và mối quan hệ của quyền hành với quyền lập
pháp, quyền tƣ pháp trong tổ chức quyền lực nhà nƣớc ...................................................... 31
2.3. Việc tổ chức thực hiện quyền hành pháp trong thực tiễn thực hiện quyền lực nhà
nƣớc ........................................................................................................................... 64
CHƢƠNG 3 ......................................................................................................................... 70
THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUYỀN
HÀNH PHÁP Ở VIỆT NAM .............................................................................................. 70
3.1. Khái quát thực trạng quy định pháp luật về tổ chức thực hiện quyền hành pháp ở Việt
Nam trƣớc Hiến pháp năm 2013 .......................................................................................... 70
3.2. Quy định về quyền hành pháp theo Hiến pháp năm 2013 .......................................... 104
CHƢƠNG 4 ................................................................................................................... …128
ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUYỀN HÀNH PHÁP Ở
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỚI .......................................................................................... 128
4.1 Định hƣớng tổ chức thực hiện quyền hành pháp ở Việt Nam giai đoạn tới ................ 128
4.2. Giải pháp tổ chức thực hiện quyền hành pháp ở Việt Nam giai đoạn tới ................... 131
KẾT LUẬN........................................................................................................................ 154


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng cộng sản Việt
Nam và Điều 2 của Hiến pháp nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013
đã khẳng định: “Nhà nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nƣớc pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Nƣớc Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nƣớc thuộc
về Nhân dân…. Quyền lực nhà nƣớc là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm
soát giữa các cơ quan nhà nƣớc trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp,

nhƣ thế nào thì lại chƣa đƣợc giải thích một cách thấu đáo và cụ thể trong các văn
kiện chính thức của Việt Nam. Đồng thời, quyền hành pháp chƣa đƣợc nghiên cứu
một cách cơ bản. Nhiều vấn đề thuộc quyền hành pháp chƣa đƣợc nghiên cứu sâu
sắc, đầy đủ hoặc còn bỏ ngỏ hay xuất hiện các vấn đề mới cần nghiên cứu nhƣ: nội
dung của quyền hành pháp, chức năng, nhiệm vụ của hành pháp, mối quan hệ giữa
quyền hành pháp với quyền lập pháp và quyền tƣ pháp, đánh giá thực tiễn tổ chức
quyền hành pháp, các vấn đề trong việc hoàn thiện tổ chức và vận hành quyền hành
pháp. Đặc biệt trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế hiện nay, khi mà vai
trò và vị thế của quốc gia cũng nhƣ việc bảo đảm thực hiện quyền con ngƣời, quyền
công dân phụ thuộc khá nhiều vào khả năng quản lý điều hành năng động, sáng tạo,
nhạy bén và quyết đoán của hành pháp.
Thêm vào đó, với sự bùng nổ mạnh mẽ của cuộc cách mạng lần thứ 4 (cách
mạng 4.0), sự phát triển của hạ tầng kỹ thuật, trình độ nhận thức và tổ chức xã hội
cùng với sự chuyển dịch trong quan hệ giữa nhà nƣớc và xã hội đã làm cho nhà
nƣớc dịch chuyển mạnh mẽ trong mô hình, phƣơng thức quản trị nhà nƣớc. Đó là
thực tế khi các nhà hành pháp ngày càng gắn chặt và tác động tích cực vào quá trình
hình thành đƣờng lối chính trị, chính sách, hoạt động lập pháp.
Ở Việt Nam trong những năm gần đây đã có sự thay đổi vể tổ chức và hoạt
động của Nhà nƣớc. Nhà nƣớc dân chủ pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã và đang
đƣợc xây dựng, chính phủ kiến tạo, phục vụ, hành động liêm chính đƣợc thể hiện và
chuyển hƣớng rõ ràng. Giờ đây, bộ máy quản lý nhà nƣớc không chỉ là cơ quan
chấp hành mà ngày càng xác lập rõ hơn, đây đủ hơn trách nhiệm giải trình trƣớc

2


nhân dân. Việc phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực lập pháp, hành pháp, tƣ
pháp đƣợc Hiến pháp giao cho Quốc hội, Chính phủ, Toà án thực hiện. Đây là
những điểm tiến bộ của Việt Nam trong cả nhận thức và tƣ duy. Điều đó ít nhiều
làm thay đổi diện mạo quản trị quốc gia ở nƣớc ta.

pháp nhƣ: khái niệm quyền lực nhà nƣớc; khái niệm, nội dung của quyền hành
pháp; mối quan hệ giữa quyền hành pháp với các quyền lực khác của nhà nƣớc nhƣ
quyền lập pháp và quyền tƣ pháp, việc tổ chức thực hiện quyền hành pháp…
- Nghiên cứu các quy định về quyền hành pháp trong Hiến pháp Việt Nam từ
khi Hiến pháp năm 1946 ra đời tới nay để đánh giá thực trạng tổ chức thực hiện
quyền hành pháp trong thực tiễn ở nƣớc ta nhằm hiểu rõ sự thay đổi trong nhận thức
về quyền hành pháp của Đảng và Nhà nƣớc ta thời gian qua và xác định các thành
tựu cũng nhƣ hạn chế trong tổ chức thực hiện quyền hành pháp ở nƣớc ta.
- Xem xét các quy định của pháp luật về tổ chức thực hiện quyền hành pháp
ở một số nƣớc trên thế giới nhằm tìm kiếm kinh nghiệm góp phần hoàn thiện việc tổ
chức thực hiện quyền hành pháp ở Việt Nam
- Đề xuất các giải pháp có tính khả thi và phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của
Việt Nam nhằm giúp cho các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền, các nhà hoạch định
chính sách, các nhà hoạt động thực tiễn có thể tham khảo và áp dụng vào thực tiễn
tổ chức thực hiện quyền hành pháp ở nƣớc ta trong thời gian tới, qua đó góp phần
nâng cao hiệu quả thực hiện quyền lực nhà nƣớc ở Việt Nam.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Về đối tƣợng nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu một số vấn đề về
quyền hành pháp cả về phƣơng diện lý luận lẫn pháp lý ở Việt Nam và một số nƣớc
trên thế giới. Đó là các vấn đề sau: khái niệm, nội dung của quyền hành pháp; mối
quan hệ giữa quyền hành pháp với quyền lập pháp, quyền tƣ pháp; việc tổ chức thực
hiện quyền hành pháp trong thực tiễn thực hiện quyền lực nhà nƣớc
- Về phạm vi nghiên cứu: Luận án chủ yếu nghiên cứu các vấn đề lý luận về
quyền hành pháp, các quy định pháp luật về quyền hành pháp của Việt Nam chủ
yếu đƣợc thể hiện trong các Hiến pháp đã có từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp
năm 2013, và các quy định về quyền hành pháp trong Hiến pháp và pháp luật hiện
hành của một số nƣớc trên thế giới.

4



5


thấy đƣợc tính khách quan và tất yếu của quyền hành pháp và nó tồn tại nhƣ một
phạm trù lịch sử.
- Phƣơng pháp nghiên cứu gián tiếp thông qua tổng hợp và phân tích tƣ liệu,
so sánh, quy nạp các vấn đề nghiên cứu giữa các đối tƣợng đƣợc chọn lựa.
- Phƣơng pháp nghiên cứu qua khảo sát thực tế, tiếp xúc và trao đổi trực tiếp
với các nhà nghiên cứu về các lĩnh vực chính trị và luật pháp.
- Phƣơng pháp thống kê, tổng hợp hệ thống: nhằm thống kê và so sánh các
quy định về tổ chức thực hiện quyền hành pháp trong các văn kiện chính trị - pháp
lý của Việt Nam (chủ yếu ở các mục 3.1, 3.2).
Phƣơng pháp phân tích tổng hợp, tiếp cận đa ngành và liên ngành luật học:
nhằm xây dựng khái niệm quyền lực, quyền lực nhà nƣớc và quyền hành pháp, làm
rõ vai trò của quyền hành pháp trong hệ thống quyền lực nhà nƣớc (chủ yếu ở các
mục 2.1,2.2).
Phƣơng pháp nghiên cứu luật so sánh: nhằm so sánh việc tổ chức thực hiện
quyền hành pháp ở Việt Nam với quyền hành pháp ở một số nƣớc trên thế giới (chủ
yếu ở các mục 2.4).
Phƣơng pháp khảo sát thực tiễn, sử dụng số liệu thống kê của các cơ quan
quản lý nhằm tìm hiểu các quy định về quyền hành pháp trong hệ thống pháp luật
Việt Nam (chủ yếu ở các mục 3.1; 3.2).
Phƣơng pháp phân tích - dự báo khoa học nhằm dự báo về các xu hƣớng phát
triển, phƣơng hƣớng tổ chức thực hiện quyền hành pháp ở nƣớc ta và các giải pháp
đổi mới tổ chức, nâng cao hiệu quả, hiệu lực của quyền hành pháp ở Việt Nam (chủ
yếu ở các mục 4.1,4.2).
Cũng cần phải nhấn mạnh rằng, các phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể trên luôn
đƣợc sử dụng theo hƣớng tiếp cận đa ngành, liên ngành luật học và phối hợp sử
dụng nhiều phƣơng pháp.

7. Kết cấu của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án gồm phần Mở đầu, 4 chƣơng và kết luận
Phần Mở đầu
Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu các vấn đề liên quan đến đề tài
Chƣơng 2: Các vấn đề lý luận cơ bản về quyền hành pháp

7


Chƣơng 3: Thực trạng quy định của pháp luật về tổ chức thực hiện quyền hành pháp
ở Việt Nam
Chƣơng 4: Định hƣớng và giải pháp tổ chức thực hiện quyền hành pháp ở Việt Nam
thời gian tới.
Kết luận

8


CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÁC VẤN ĐỀ
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Nghiên cứu về quyền hành pháp không phải là vấn đề hoàn toàn mới ở nƣớc
ta. Trong thực tế, quyền hành pháp chủ yếu đƣợc nghiên cứu từ phƣơng diện quản
lý hành chính, một phƣơng diện quan trọng thể hiện tác động và hiệu quả của quyền
hành pháp trong đời sống xã hội. Tuy nhiên điều đó chƣa nói hết đƣợc các khía
cạnh quyền lực nhà nƣớc cũng nhƣ vấn đề lý luận, chính trị xã hội của quyền hành
pháp. Nhƣng những công trình nghiên cứu, những bài viết trên các diễn đàn khoa
học là tất cả những gì đáng trân trọng mà các nhà khoa học pháp lý nghiên cứu có
đƣợc về quyền lực nhà nƣớc nói chung và quyền hành pháp nói riêng. Theo nội
dung vấn đề nghiên cứu có thể chỉ ra những nhóm công trình khoa học dƣới đây:

Các công trình nghiên cứu trên đã giải quyết đƣợc một số vấn đề lý luận và
thực tiễn về tổ chức thực hiện quyền lực nhà nƣớc nói chung, quyền lực hành pháp
nói riêng cũng nhƣ mối quan hệ giữa các nhánh quyền lực nhà nƣớc lập pháp, hành
pháp, tƣ pháp ở Việt Nam và ở một số nƣớc trên thế giới
Sách “Xây dựng nhà nƣớc pháp quyền XHCN” – GS.TSKH Đào Trí Úc
(Chủ biên) 2005, Nxb Chính trị Quốc gia. Sách đề cập đến những chủ trƣơng, giải
pháp, những điều kiện cần thiết cho việc bảo đảm, duy trì bản chất của Nhà nƣớc ta
là nhà nƣớc của dân, do dân và vì dân, phát huy hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà
nƣớc và sức mạnh làm chủ của nhân dân.
Sách “Góp phần nghiên cứu Hiến pháp và nhà nƣớc pháp quyền” – Ths. Bùi
Ngọc Sơn (2005), Nxb Tƣ pháp, đã góp phần làm sáng tỏ các giá trị của Hiến pháp,
các vấn đề về lý luận và thực tiễn trong tiến trình xây dựng nhà nƣớc pháp quyền
theo tƣ tƣởng Hồ Chí Minh ở nƣớc ta hiện nay.
Sách “Một số vấn đề về Hiến pháp và bộ máy nhà nƣớc” – PGS.TS Nguyễn
Đăng Dung (2001), Nxb Giao thông vận tải. Sách đề cập đến những vấn đề chung
về Hiến pháp và bộ máy nhà nƣớc nhƣ đối tƣợng điều chỉnh của Hiến pháp, nội
dung cơ bản của Hiến pháp, Hiến pháp và vấn đề tổ chức bộ máy nhà nƣớc, tổng
quan về cơ cấu và tổ chức bộ máy nhà nƣớc Việt Nam và đề cập đến những vấn đề

10


riêng của Luật Hiến pháp nhƣ những chế định cơ bản về Quốc hội, về Chính phủ và
mô hình của Chính phủ, về tƣ pháp và mô hình của Tƣ pháp.
Sách “Một số vấn đề về hoàn thiện tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà
nƣớc CHXHCN Việt Nam” – TS. Lê Minh Thông (2001), Nxb KHXH, bao gồm
nhiều báo cáo của các nhà khoa học, đề cập đến nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về
tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nƣớc ta hiện nay nhƣ: các vấn đề chung về tổ
chức quyền lực nhà nƣớc, về đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch
nƣớc, Chính phủ, các cơ quan tƣ pháp và chính quyền địa phƣơng trong điều kiện

“Những cách diễn giải hiện nay về thuyết phân quyền ở Phương Tây” – Marsenco
M.N (1995), Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lê Nin và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh,
Hà Nội, tƣ tƣởng phân chia quyền lực đƣợc đề cập đến với các tên gọi nhƣ “Thuyết
phân quyền”, “ Học thuyết phân quyền”. Song nếu tìm hiểu về cội nguồn của nó, có
thể thấy những cách gọi trên do ngƣời đời sau đặt ra căn cứ vào nội dung cơ bản của
tƣ tƣởng này, trong thực tế, những ngƣời đặt nền móng, xây dựng và phát triển tƣ
tƣởng phân chia quyền lực nhà nƣớc nhƣ Aristotle, Locke, Montesquieu thì lại
không nhắc đến các tên gọi trên trong tác phẩm của họ. Chẳng hạn, Aristote cho
rằng: Có ba bộ phận trong tất cả các nhà nƣớc, đó là Hội nghị nhân dân (The Public
Assembly), các viên chức nhà nƣớc (The officers of the state) và cơ quan tòa án
(The Judicial Department). Sau đó ông trình bày về ba bộ phận này và đề cập rất sơ
lƣợc về mối quan hệ giữa ba bộ phận đó mà không hề nhắc tới từ “phân quyền” hay
“phân chia quyền lực”
Mặc dù mới chỉ dừng ở mức khái quát, song có thể nói Aristote đã đề cập
đến các chủ thể chính thực hiện quyền hành pháp của nhà nƣớc, đó chính là các
viên chức nhà nƣớc
Trong tác phẩm “Two Treaties of Government” Edited by Laslett.P, Locke,
Cambridge University Press (tạm dịch là Hai chuyên luận về chính quyền), Locke
đã lý giải khá cặn kẽ về nguồn gốc, mục đích của nhà nƣớc và các loại quyền lực
nhà nƣớc, về nội dung, phạm vi giới hạn của từng quyền, về vị trí và mối quan hệ
giữa các loại quyền lực nhà nƣớc. Ở chƣơng XII, quyển 2 với tiêu đề: “Về quyền
lực lập pháp, hành pháp và liên bang của nƣớc cộng hòa” (Of the legislative,
Executive, and federative Power of the Commonwearth), Locke trình bày sơ qua về
nội dung, đặc tính của từng loại quyền lực trên. Ở các chƣơng khác, ông trình bày

12


giới hạn của quyền lực lập pháp, về sự phụ thuộc của các quyền lực khác vào quyền
lập pháp. Nhƣng trong cả tác phẩm ông không nói đến cụm từ “phân quyền” hay


pháp. Điều đặc biệt quan trọng là Montesquieu phát kiến ra cơ chế kiểm soát và
kiềm chế lẫn nhau giữa các loại quyền lực nhà nƣớc theo nguyên tắc “ dùng quyền
lực để ngăn cản quyền lực” nhằm ngăn chặn hạn chế sự lộng quyền và lạm quyền
xâm hại đến quyền tự do của công dân trong quá trình thực hiện quyền lực nhà
nƣớc. Vì thế đây là tác phẩm quan trọng đề cập đến lý luận về quyền lực nhà nƣớc
nói chung và quyền lực hành pháp nói riêng
Sách “Thể chế tam quyền phân lập của Nhật Bản” – Hồ Việt Hạnh, Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội, (2008). Dựa trên cơ sở thuyết tam quyền phân lập của
Montesquieu, đã đánh giá những nét cơ bản về thể chế tam quyền phân lập của Nhật
Bản nhƣ: Mức độ tác động của sự phát triển dân chủ; khả năng bảo đảm chủ quyền
thuộc về nhân dân trên cơ sở bảo đảm tính tối thƣợng của Hiến pháp; và đặc biệt là
vấn đề xác định tính triệt để của thể chế tam quyền phân lập. Đặc biệt tác phẩm chỉ
rõ thể chế tam quyền phân lập ở Nhật Bản là không cơ quan nào toàn quyền tuyệt
đối, lấn át hoàn toàn cơ quan quyền lực khác. Khẳng định nét văn hóa Nhật Bản đã
đƣa nghị viện Nhật Bản thành một thể chế có quyền lực mạnh nhất trong các nhánh
quyền lực cấu thành nên Nhà nƣớc.
Cuốn sách là tài liệu tham khảo cung cấp kinh nghiệm về xử lý mối quan hệ
giữa quyền lực hành pháp với các loại quyền lực nhà nƣớc khác.
1.2. Nhóm các công trình nghiên cứu về quyền hành pháp
Cho đến nay, đã có một số lƣợng khá lớn các công trình nghiên cứu, bài viết
về quyền hành pháp. Có thể kể đến một số công trình sau:
Bài viết “Quyền hành pháp và chức năng của quyền hành pháp” – PGS.TS.
Lê Minh Tâm, Tạp chí Luật học số 6/2000 đã phân tích khái niệm quyền hành pháp
và chức năng của quyền hành pháp.
Bài viết “Về kiểm soát Quyền lực hành pháp trong hệ thống quyền lực nhà
nƣớc Việt Nam hiện nay” – TS. Vũ Thƣ, Tạp chí Nhà nƣớc và pháp luật số 12/2006
đã phân tích cơ sở của việc kiểm soát quyền lực nhà nƣớc, đối tƣợng và các phƣơng
diện của kiểm soát quyền lực nhà nƣớc và đƣa ra nhận định sơ bộ về kiểm soát
quyền lực hành pháp ở nƣớc ta.

09 (265), T5/2014. Bài viết đƣa ra các quan điểm và ý kiến của các nhà khoa học về

15


khái niệm quyền hành pháp và phân tích các quan điểm đó. Đồng thời đƣa ra đề
xuất sửa đổi Luật Tổ chức Chính phủ năm 2001.
Bài viết “Cơ chế thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ theo quy định
của pháp luật”, Nguyễn Phƣớc Thọ, Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 13(269),
T7/2014, đã bƣớc đầu tổng kết, đánh giá thực trạng quy định của pháp luật hiện
hành về cơ chế thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ; đồng thời làm rõ cơ chế
này đƣợc quy định trong Hiến pháp năm 2013 và đề xuất các kiến nghị tiếp tục
hoàn thiện cơ chế.
Kỷ yếu hội thảo “Quyền hành pháp trong nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam – Bản chất và cơ chế thực hiện” – Viện khoa học pháp lý, Bộ Tƣ
pháp, T12/2013 gồm nhiều bài viết của các nhà khoa học nghiên cứu về các vấn đề
nhƣ: Quyền hành pháp, cơ chế thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ, mối quan
hệ giữa quyền hành pháp và quyền lập pháp ở Việt Nam, quyền tƣ pháp với quyền
hành pháp ở Việt Nam hiện nay…..
Bài viết “Chế định Chính phủ trong Hiến pháp năm 2013”, Dƣơng Thị
Thanh Mai, Tạp chí Luật học số ĐSLHP năm 2014 (Tr 46-49) nói vể những nội
dung cơ bản và những điểm mới của chế định Chính phủ và các quy định liên quan
trong Hiến pháp năm 2013”
Các công trình nghiên cứu trên đã làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về
quyền hành pháp nhƣ: khái niệm, bản chất và cơ chế thực hiện quyền hành pháp.
Đồng thời đề cập đến chủ thể chủ yếu thực hiện quyền hành pháp là Chính phủ
Bài viết "Sự cần thiết khách quan của quyền lập quy của Chính phủ",
Nguyễn Đăng Dung, Nguyễn Thị Phƣợng, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Văn phòng
Quốc hội, số 9/2006, tr. 10 – 14.
Bài viết “Một số suy nghĩ vể mô hình Chính phủ trong nhà nƣớc kiến tạo

thực thi các đạo luật và bảo đảm rằng các đạo luật này đƣợc thi hành nhƣ ý định đặt
ra các đạo luật ấy”) (Andre Kaiser, “executive power” in Keith Dowding (ed.),
Encyclopedia of Power (London: Sage, 2011) at 228.
Tác phẩm “The Federalist Papers” (Luận về Hiến pháp Hoa Kỳ) do Ralph
H.Gabriel Chủ biên, bản dịch của Nguyễn Hƣng Vƣợng - Nxb Nhƣ Nguyệt, Sài
Gòn 1959, Tr152,153, 165 đã lý giải đặc tính thực sự của ngành hành pháp, đó là

17


phần lớn quyền lực của ngành hành pháp đều đƣợc giao phó cho một ngƣời độc
nhất… Những yếu tố làm cho ngành hành pháp có uy quyền cƣơng quyết là: trƣớc
hết là sự đơn giản, thứ nhì là sự lâu dài, thứ ba là những dự liệu thích hợp để bảo vệ
uy quyền, thứ tƣ là những quyền lực thích hợp. Các chính trị gia công nhận rằng
ngành hành pháp chỉ nên có một nguyên thủ, còn ngành lập pháp nên có nhiều hội
viên. Họ nhận thấy rằng uy quyền cƣơng quyết rất cần thiết cho ngành hành pháp,
và uy quyền chỉ có thể có đƣợc khi tập trung trong tay một ngƣời độc nhất. Đồng
thời họ cũng nhận thấy rằng ngành lập pháp có đông ngƣời thì mới thảo luận kỹ
lƣỡng, khôn ngoan, vừa đáng để cho nhân dân tín nhiệm, vừa thích hợp để duy trì
quyền lợi của nhân dân.
Trong tác phẩm “An out line of American Government” (Khái quát về chính
quyền Mỹ), Nxb Chính trị quốc gia, 1999 đã tập trung trình về bày Hiến pháp Mỹ và
chế độ Hiến pháp Mỹ với những vấn đề có tính chất đặc trƣng của nó nhƣ: phân
quyền, chế độ Tổng thống, chế độ lƣỡng viện, quyền công dân…. Trong tác phẩm
nêu rõ quyền hành pháp là thiết yếu nhằm bảo vệ đất nƣớc trƣớc sự tấn công của
ngoại bang, quản lý pháp luật công bằng, bộ máy lập pháp phản ánh ý chỉ của ngƣời
dân, đƣa ra những đánh giá thận trọng và đƣợc bàn luận thấu đáo bằng một đạo luật.
Đối với nhánh tƣ pháp, những phẩm chất đề ra cũng rất đặc biệt không phải sự
nhanh nhạy của ngƣời hành pháp, cũng không phải sự cảm thông với thái độ của
công chúng hay khả năng thỏa hiệp của nhà lập pháp mà là “sự minh bạch dung

Sách “Thống nhất phân công và phối hợp quyền lực nhà nƣớc ở Việt Nam” –
Lê Quốc Hùng (2004), Nxb Tƣ pháp, Hà Nội: Sách đã nghiên cứu cơ bản và có hệ
thống, làm sáng tỏ các vấn đề nhƣ bản chất của quyền lực nhà nƣớc, sự thống nhất
của quyền lực nhà nƣớc và cơ chế thực hiện quyền lực nhà nƣớc thông qua sự phân
công và phối hợp các cơ quan nhà nƣớc trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành
pháp và tƣ pháp. Đây là công trình đầu tiên đề cập đến nguyên tắc thống nhất phân
công và phối hợp quyền lực nhà nƣớc ở Việt Nam;
Sách chuyên khảo – tham khảo “Phân công phối hợp giữa các cơ quan nhà
nƣớc trong thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tƣ pháp ở Việt Nam” – TS.
Cao Anh Đô (2013), Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội. Nội dung cuốn sách
tập trung nghiên cứu việc phân công quyền lực nhà nƣớc về lập pháp, hành pháp và

19


tƣ pháp trong mối quan hệ tổ chức bộ máy nhà nƣớc, làm rõ vai trò và chức năng
của các chủ thể này trong việc thực hiện các quyền nói trên.
Bài viết "Về quyền hành pháp của Chính phủ trong cơ chế phân công, phối
hợp và kiểm soát quyền lực nhà nƣớc", Nguyễn Phƣớc Thọ, Cao Anh Đô, Tạp chí
Nghiên cứu lập pháp, Văn phòng Quốc hội, số 22/2011, tr. 35 - 40, 48 đƣa ra vấn đề
cần làm rõ nội dung quyền hành pháp của Chính phủ đến đâu, các nguyên tắc cơ
bản của cơ chế vận hành quyền lực đƣợc trao bảo đảm tính thống nhất, thông suốt
và liên tục của quản lý điều hành các mặt đời sống, kinh tế- xã hội của đất nƣớc.
Bài viết "Mối quan hệ giữa hoạt động lập pháp (Quốc hội) và hành pháp
(Chính Phủ) ở nƣớc ta" - Ngô Đức Tuấn, Khoa học pháp lý, Trƣờng đại học Luật
Thành phố Hồ Chí Minh, Số 3/2000, tr. 9 đề cập đến mối quan hệ giữa hoạt động
lập pháp của Quốc hội và hoạt động hành pháp của Chính phủ.
Bài viết “Về quyền lực nhà nƣớc và sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa
cơ quan nhà nƣớc trong thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tƣ pháp hiện
nay” - Trần Ngọc Đƣờng, tạp chí Cộng sản số 858 (tháng 4 năm 2014), trang 73-77

quyền.
1.4. Đánh giá chung tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
1.4.1. Đánh giá các kết quả nghiên cứu đã đạt được
Qua nội dung các tài liệu, công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài trên
thế giới cũng nhƣ ở Việt Nam đã nêu, có thể đánh giá về các kết quả nghiên cứu đó
nhƣ sau:
Các nghiên cứu đó đã làm rõ mối quan hệ giữa quyền lực, quyền lực nhà
nƣớc, quyền lực nhân dân, sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nƣớc
trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tƣ pháp. Tùy theo quan niệm
và sự phát triển của nhu cầu quản lý nhà nƣớc, vấn đề tổ chức và thực hiện quyền
lực nhà nƣớc ở mỗi nƣớc có sự khác nhau nhất định. Quyền lực nhà nƣớc có thể tập
trung trong tay một cá nhân hoặc một cơ quan (nhóm ngƣời) hay phân công cho
nhiều cơ quan khác nhau thực hiện, nhƣng dù có thành lập thêm bao nhiêu cơ quan
đi chăng nữa thì quyền lực nhà nƣớc vẫn luôn thống nhất, bộ máy nhà nƣớc vẫn
phải luôn là một cơ chế thống nhất nắm giữ và thực hiện quyền lực nhà nƣớc. Do
vậy, việc định ra các quyền lực nhƣ quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tƣ

21


pháp… chẳng qua là xác định các chức năng, thẩm quyền của các cơ quan nhà nƣớc
trong pháp luật.
Việc phân công phối hợp giữa các cơ quan nhà nƣớc trong việc thực hiện ba
quyền lập pháp, hành pháp, tƣ pháp là nhằm tránh hiện tƣợng tập trung quyền lực
vào một chủ thể, nhờ vậy có thể tránh đƣợc hiện tƣợng lộng quyền và lạm quyền.
Tuy nhiên việc phân quyền ở đây không có nghĩa là áp dụng một cách cơ học, các
quyền hoàn toàn biệt lập, không có mối liên hệ với nhau. Trái lại, các quyền đó bổ
sung cho nhau, tƣơng tác lẫn nhau để sao cho trong nội tại mỗi quyền và giữa các
quyền sẽ hình thành mối liên hệ vừa phối hợp, vừa kiểm soát lẫn nhau trong một
chỉnh thể thống nhất của quyền lực nhà nƣớc.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status