Quyền con người và thực thi quyền con người của đồng bào dân tộc Mông ở các tỉnh Tây Bắc Việt Nam hiện nay (LA tiến sĩ) - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trƣơng Văn Hòa

QUYỀN CON NGƢỜI VÀ THỰC THI QUYỀN CON NGƢỜI Ở
ĐỒNG BÀO DÂN TỘC MÔNG TẠI CÁC TỈNH TÂY BẮC
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Chuyên ngành: CNDVBC &CNDVLS
Mã số

: 62 22 03 02

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS PHẠM VĂN ĐỨC

HÀ NỘI- 2017


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình
nghiên cứu khoa học độc lập của tôi. Các số
liệu và tư liệu trong luận án đảm bảo độ tin
cậy, chính xác và trung thực. Tôi xin hoàn toàn
chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của
mình.


Mông ở các tỉnh Tây BắcViệt Nam………………………………………………….. ..108


CHƢƠNG 4: PHƢƠNG HƢỚNG CƠ BẢN VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU,
NHẰM THỰC THI TỐT HƠN QUYỀN CON NGƢỜI CỦA ĐỒNG BÀO DÂN
TỘC MÔNG Ở CÁC TỈNH TÂY BẮC VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN
HIỆN NAY………………………………………………………………………… ..113
4.1. Phương hướng cơ bản đảm bảo thực thi quyền con người của đồng bào dân tộc
Mông ở các tỉnh Tây Bắc Việt Nam ......................................................................................113
4.2. Một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy thực thi tốt hơn quyền con người cửa
đồng bàodân tộc Mông ở các tỉnh Tây Bắc Việt Nam .........................................................120
KẾT LUẬN…………………………………………………………………………..147
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ…………… ..151
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………....152


NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

Chủ nghĩa Xã hội

: CNXH

Dân tộc thiểu số

: DTTS

Đảng và Nhà nước

: Đ&NN



: KTXH

Tây Bắc Việt Nam

: TBVN

Thực thi quyền con người

: TTQCN


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quyền con người là một trong những vấn đề cơ bản của loài người, là
vấn đề được đặc biệt quan tâm của cộng đồng nhân loại. Mỗi bước phát triển của
con người đều gắn liền với cuộc đấu tranh nhằm cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội,
xây dựng và hoàn thiện các mối quan hệ xã hội của con người. Chính vì vậy, bảo
vệ và phát huy quyền con người luôn được coi là trọng tâm, là đích đến của mỗi
cuộc cách mạng. “Sự không hiểu biết, sự lãng quên hay sự coi thường quyền con
người là những nguyên nhân duy nhất của những nỗi bất hạnh công cộng, của tệ
hủ bại của các chính phủ” (Lời nói đầu Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền
năm 1789 của nước Pháp) [24, tr.13].
Quyền con người mặc dù đã có lịch sử phát triển lâu dài trong tư tưởng
nhân loại, tuy nhiên, do tính chất phức tạp của nó, nên vẫn đang tồn tại những quan
điểm khác nhau, thậm chí trái ngược nhau. Mặc dù vậy, nhân loại tiến bộ đã đi đến
những quan điểm chung về quyền con người, đó là: Quyền con người không thể
tách rời giữa quyền cá nhân và quyền cộng đồng, giữa dân tộc và nhân loại, giữa
quyền lợi và trách nhiệm, giữa quyền dân sự chính trị với quyền kinh tế văn hóa…
Tất cả những điều đó tạo nên tính phổ biến và đặc thù của quyền con người. Việc

chính trị và an ninh quốc gia tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó có
đồng bào Mông ở các tỉnh Tây Bắc nước ta. Chính điều đó đang đặt ra những nhiệm
vụ hết sức bức thiết trên cả lĩnh vực bảo vệ quyền con người và phát triển kinh tế,
xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng.
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc - đa tộc người (khái niệm các dân tộc
thiểu số ở Việt Nam được đề cập trong công trình nghiên cứu này được hiểu là các
tộc người trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam),trình độ phát triển của các dân tộc
không đồng nhất, có những nét văn hóa riêng biệt, tạo nên sự đa dạng và nét đặc sắc
cho nền văn hóa chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Đồng thời, chính điều
đó cũng đòi hỏi trong nhận thức và hoạch định chính sách của Đảng và Nhà nước
cần đứng trên quan điểm: Phát triển dựa trên quyền con người, nhằm phát huy
những giá trị văn hóa, truyền thống tốt đẹp của các dân tộc, đồng thời tạo ra điều
kiện thuận lợi thực hiện quyền con người một cách tốt nhất.
Đối với các dân tộc thiểu số, khi đề cập đến quyền con người, luôn được
gắn với quyền bình đẳng, quyền phát triển. Quyền con người và quyền phát triển

2


có quan hệ biện chứng, thống nhất nhau. Quyền phát triển là điều kiện tiên quyết
để quyền con người được thực hiện. Ngược lại, chỉ khi quyền con người được
tôn trọng mới có quyền tự do phát triển. Khi quyền phát triển không được đảm
bảo, là nguyên nhân phát sinh những mâu thuẫn, tạo ra các yếu tố mất ổn định
chính trị, xã hội, vi phạm đến quyền con người.
Xuất phát từ thực tế đó, thời gian qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà
nước ta, một mặt lý luận quyền con người đã được quan tâm nghiên cứu; mặc khác,
chúng ta đã tích cực chủ động trong cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng.Đồng
thời, quan tâm đề ra các chủ trương, xây dựng các chính sách, nhằm không ngừng
phát huy quyền con người một cách rộng rãi, đảm bảo cho nhân dân ta được hưởng
những giá trị quyền con người một cách thực tiễn hơn, phát huy tính ưu việt thuộc

hơn quyền con người của đồng bào dân tộc Mông ở các tỉnh Tây Bắc Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Về đối tượng:
+ Đề tài nghiên cứu một số lý luận về quyền con người, lý luận thực thi
quyền con người (các điều kiện đảm bảo, cơ chế bảo vệ). Nghiên cứu thực tiễn
thực thi quyền con người củađồng bào dân tộc Mông ở các tỉnh Tây Bắc Việt
Nam hiện nay.
+ Tiếp cận nghiên cứu quyền con người của đồng bào Mông dưới góc độ
triết học, luận án tập trung luận giải các điều kiện ảnh hưởng đến quá trìnhthực thi
quyền con người của đồng bào dân tộc Môngở các tỉnh Tây Bắc Việt Nam, từ đó là
cơ sở để đưa ra các giải pháp nhằm đảm bảo thực thi tốt hơn quyền con người của
đồng bào dân tộc Mông tại đây.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Địa bàn nghiên cứu: Đồng bào dân tộc Mông ở các tỉnh Tây Bắc Việt Nam.
+ Thời gian nghiên cứu: Từ khi Đổi mới (năm 1986) đến nay.
+ Thuật ngữ Đ đồng bào dân tộc Mông trong luận án được hiểu và thống
nhất sử dụng để chỉ tộc người Mông, nhằm phân biệt thuật ngữ dân tộc với nghĩa
rộng dân tộc – quốc gia.

4


4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Luận án đựa trên cơ sở quan điểm của Chủ nghĩa Duy vật biện chứng và
Chủ nghĩa Duy vật lịch sử, lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin về quyền con người.
Đặc biệt, luận án dựa trên quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, những tư tưởng
của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chính sách pháp luật của Việt Nam về quyền con người
và thực tiễn thực thi quyền con người trong đời sống hiện nay ở nước ta.

quan trọng là trình độ dân trí, nguồn lực con người của đồng bào dân tộc Mông còn
nhiều hạn chế.
- Luận án có những đóng góp nhất định, khi đề ra được một số giải pháp có
tính khả thi, nhằm thúc đẩy thực thi tốt hơn quyền con ngườicủa đồng bào dân tộc
Mông tại Tây Bắc hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Về mặt lý luận, luận án trước hết là tài liệu phục vụ nghiên cứu, giảng dạy
và học tập, phổ biến thực thi quyền con người, một việc đang cần triển khai rộng rãi
nhưng còn nhiều hạn chế ở Việt Nam.
- Về thực tiễn, luận án là tài liệu tham khảo, trang bị, nâng cao nhận thức
quyền con người trong việc hoạch định các chính sách phát triển kinh tế, văn hóa, xã
hội, an ninh, quốc phòng, nhằm nâng cao điều kiện về mọi mặt cho đồng bào dân tộc
Mông ở các tỉnh Tây Bắc Việt Nam, tạo cơ sở thực thi tốt hơn quyền con người của
đồng bào dân tộc Mông và của các dân tộc thiểu số trong cả nước.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, mục lục tài liệu tham khảo, phụ lục và danh
mục các công trình nghiên cứu khoa học của tác giả đã công bố có liên quan đến đề
tài, luận án gồm 4 chương 11 tiết, cụ thể như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài.
Chương 2: Một số vấn đề lý luận chung về quyền con người và thực thi quyền
con người của các dân tộc thiểu số
Chương 3: Thực trạng và những vấn đề đặt ra trong thực thi quyền con người
của đồng bào dân tộc Mông ở các tỉnh Tây Bắc Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Chương 4: Phương hướng cơ bản và giải pháp chủ yếu, nhằm bảo đảm
thực thi tốt hơn quyền con người của đồng bào Mông ở các tỉnh Tây Bắc Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay.

6





Những công trình nghiên cứu về QCN phản ánh đa dạng các nội dung,
nhưng có thể khái quát một số nội dung cơ bản sau:
Một là, QCN là một giá trị cao quý thể hiện các đặc tính quan trọng của
nhân cách. Trong sự tác động của hoàn cảnh lịch sử, con người xác định phẩm giá,
nhân cách, địa vị, phát triển các quan hệ tập thể, cộng đồng, quốc gia dân tộc và
nhân loại.
Hai là, QCN luôn gắn bó chặt chẽ với từng con người với tư cách là một
cá nhân, lại vừa với tư cách là một thành viên trong xã hội. Vì vậy, nó vừa mang
tính tự do cá nhân, vừa thể hiện lợi ích quốc gia, cộng đồng, dân tộc. QCN phải
là sự cần thiết cho từng cá nhân, không phân biệt sắc tộc, tôn giáo, giới tính.
Đồng thời, QCN phải được pháp luật ghi nhận.
Ba là, QCN, một mặt mang tính tự nhiên, khách quan, nhưng mặt khác,
lại luôn bị chi phối bởi điều kiện KTXH và văn hóa truyền thống, do đó vừa
mang tính phổ biến vừa mang tính đặc thù.
Các nghiên cứu, hầu hết đều mong muốn đi tìm nguồn gốc và lịch sử phát
triển QCN, nhằm đem lại cho nhân loại những nhận thức ngày càng sâu sắc hơn và
cũng để thấy được những giá trị cao quý của QCN mà nhân loại cần đấu tranh để đạt
được. Đồng thời,qua các nghiên cứu cho thấy tính phức tạp của khái niệm QCN.
Ngay từ rất sớm, trong kinh điển của các tôn giáo lớn, QCN đã được nhắc
đến và ẩn chứa trong các điều răn dạy. Mặc dù còn sơ khai, chưa thể hiện rõ
quyền bình đẳng của con người, thậm chí có sự phân biệt đẳng cấp trong những
tư tưởng đó, nhưng đã ít nhiều quan tâm đến lòng nhân ái, ước vọng về một cuộc
sống công bằng, tôn trọng sự sống, răn đe điều ác... Đó là những biểu hiện về
việc đề cao phẩm giá, nhân cách và quyền được đối xử bình đẳng của mỗi cá
nhân, là tư tưởng quan tâm đến các nhóm yếu thế trong xã hội. Điều đó thể hiện
những bước tiến lớn trong quá trình con người tìm đến và khẳng định những giá
trị QCN của mình trong lịch sử.
Không chỉ luận giải QCN trong tôn giáo, các nghiên cứu còn tìm hiểu, làm

của hoàng đế Caracalla ban bố QCN La Mã cho tất cả những người dân tự do
(không phải nô lệ) của đế quốc này. Nhưng phải đến Xpáctacút thì quyền chống áp
bức của những người nô lệ mới được bắt đầu.

9


Trong tác phẩm “Quyền con người” [96], tác giả Võ Khánh Vinh cũng đã
đề cập đến những tư tưởng QCN của Hy Lạp – La Mã cổ đại. Lúc này, QCN mang
tính giai cấp sâu sắc, chỉ có tầng lớp quý tộc trong xã hội mới có QCN, còn người
nô lệ thì không hề có chút quyền nào. Aritstoteles (384-322 TCN) cho rằng, chỉ có
những công dân (nam từ 18 tuổi trở lên) mới có quyền công dân, còn phụ nữ, trẻ
em, nô lệ ....không có QCN như những công dân khác. Platon (427-447 TCN), coi
nông dân và thợ thủ công là hạng người thấp nhất trong “nhà nước lý tưởng của
ông” [96, tr.150], “trong xã hội phải duy trì các hạng người khác nhau và do đó,
không thể có sự hoàn toàn bình đẳng giữa mọi người được”[96, tr.192].
Đêmôcrit (460-370 TCN) là nhà triết học đầu tiên đặt ra vấn đề đấu tranh
cho dân chủ, nhưng đó chỉ là bảo vệ nền dân chủ chủ nô, còn nô lệ phải tuân thủ
theo người chủ (nghĩa là không có QCN). Trong thời kỳ này “cá nhân phải tuyệt đối
phục tùng nhà nước, điều đó cũng đồng nghĩa với việc chưa thể có cái gọi là quyền
công dân, quyền cá nhân”[96, tr.176].
Tư tưởng quyền con người trong thời cận đại
Đến thời cận đại, tư tưởng về QCN đã được phát triển lên một bước mới.
“Học thuyết về pháp luật tự nhiên được Thomas Peine (1737-1809) và Thomas
jeffeson (1743-1826) phát triển, không chỉ hướng tư tưởng của mình vào thành lập
chế độ nhà nước dân chủ mà còn bảo vệ các quyền tự nhiên không thể tước đoạt của
con người….Theo lẽ tự nhiên, tất cả mọi người sinh ra đều tự do và độc lập như
nhau và đều có những quyền nhất định mà ở trong trạng thái xã hội và bằng một
thỏa thuận nào đó cũng không thể bị tước đoạt, đó là quyền được sống, quyền sở
hữu, quyền được mưu cầu hạnh phúc và an ninh”[27, tr.22].

như sau:
Một là, trường phái pháp luật tự nhiên như Spinôda, Lốc cơ, Can tơ (1724
– 1804) cho rằng, “QCN là đặc tính tự nhiên. Đặc quyền tự nhiên này do có pháp
luật tự nhiên đứng trên, cao hơn pháp luật thực định. Lốc cơ nêu ra và lập luận các
quyền cơ bản, tự nhiên của con người bao gồm: quyền sống, quyền tự do và quyền
có tài sản. Tư tưởng này ra đời để chống lại hai thứ quyền lực là vương quyền và
thần quyền.

11


Hai là, xem con người cũng như QCN trong tổng hòa các mối quan hệ xã
hội. QCN là một giá trị nhân loại, khái niệm QCN mang tính lịch sử, không trừu
tượng, không phải mang tính bẩm sinh vốn có. Do đó, QCN không thể ra đời
trước khi có nhà nước, nó không được đặt ra trong xã hội thị tộc khi chưa có sự
vi phạm QCN.
Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về quyền con người
Lý luận về QCN đã có một lịch sử phát triển lâu dài; tuy nhiên, chỉ đến khi
chủ nghĩa Mác xuất hiện mới hoàn chỉnh về nội dung và ý nghĩa, QCN lúc này thực
sự mang nhiều nội dung mới, mang đầy đủ ý nghĩa và khoa học. Những nội dung
mới, những đóng góp hoàn chỉnh cho lý luận QCN đã được đúc rút chính trong quá
trình đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người, hiện
thực hóa QCN trong thực tiễn.
Trong cuộc đấu tranh đó, Mác (1818-1883) và Ăngghen (1820-1895) đã
đưa ra nhiều tư tưởng và luận điểm đặc sắc về con người, về QCN, quyền công dân.
Trong đó đặc biệt phải kể đến các luận điểm về mối quan hệ giữa con người với môi
trường khách quan và khả năng của con người có thể cải tạo môi trường xung
quanh; về sự phân cách giữa con người công dân nói chung (tức con người lý tưởng
của giai cấp tư sản) với con người cá thể (tức con người cụ thể trong xã hội tư sản),
về bản chất của con người, về bản năng phản kháng của những con người nghèo

không thể làm chủ - thợ bình đẳng” [27, tr.300]. Ở đây, rõ ràng Gandhi đã nhận ra
nguồn gốc của sự bất bình đẳng nằm ở chế độ chính trị, chế độ sở hữu, tạo nên sự
phân chia giai cấp và bất bình đẳng. Tuy nhiên, quan điểm của ông là đấu tranh phi
bạo lực để đạt đến sự bình đẳng.
Tôn Trung Sơn (1866-1924) nhà cách mạng dân chủ Trung Quốc: Luận
giải về chế độ nhà nước, giai cấp, Tôn Trung Sơn đã khẳng định sự tất yếu tồn tại
của thế giới dân quyền. Tuy nhiên, lịch sử loài người trải qua những giai đoạn khác
nhau từ thời hồng hoang, người và thú tranh giành quyền sống, đến thời đại thần
quyền, con người phải đấu tranh với thiên nhiên để duy trì sự sống và đến thời đại
quân quyền, khi giới quân sự có thế lực và các nhà chính trị đã giành quyền lực
của giáo hoàng. Đến lúc này cuộc đấu tranh giữa người và trời chuyển sang cuộc
đấu tranh giữa người và người. Khi thần quyền suy yếu, quân quyền phát triển

13


cực thịnh, hoàng đế Louis XIV(1638-1715) của Pháp đã nói “Hoàng đế và quốc
gia không có gì phân biệt, ta là hoàng đế, do đó ta chính là quốc gia”. Rồi đến
thời đại dân quyền đã tới. Ông lý giải bản thân Khổng Tử (551-479 TCN) cũng
có xu hướng dân quyền khi “Khổng Tử nói “ Khi cái đạo lớn được thực hiện thì
thiên hạ là của chung” tức là ông chủ trương một thế giới đại đồng theo chế độ
dân quyền” [27, tr.307].
Ông cũng phê phán Rousseau, người chủ trương dân quyền cực đoan với
tác phẩm “Khế ước xã hội” cho rằng, dân quyền là do trời sinh ra, từ khi sinh ra con
người đã có quyền tự do và bình đẳng, đó là quyền trời phú cho con người nhưng
sau đó người ta đã để mất nó.
Theo Tôn Trung Sơn, dân quyền và tự do gắn liền với nhau, tự do, bình
đẳng, bác ái là căn cứ vào dân quyền; dân quyền đã phát triển lên từ tự do, bình
đẳng, bác ái. “Tự do tức là một đoàn thể mà vẫn có thể hoạt động, đi lại như ý, như
thế là tự do” do đó nói dân quyền thì không thể không nói đến tự do. Tuy nhiên, tự

Thuyết này đề cao tính vị kỷ, nhấn mạnh QCN tự bao bọc mình thoát khỏi những
ràng buộc xã hội.
Ba là, nhấn mạnh nội dung đạo đức trong khái niệm QCN. “Quyền con
người là quyền đạo đức thuộc về mỗi người đàn ông và mỗi người đàn bà. Sở dĩ
người đàn ông và người đàn bà có cái quyền đó, vì họ là người có đạo đức”
(Macfarlane. The thecry and Practice of Human Right, Manrice temple Sunth Ltd
1985, P3) [81, tr.33]
Bốn là, QCN được phân chia theo phái thần học và phi thần học. Trong đó,
“QCN theo phái thần học là nội dung phấn đấu của tôn giáo và nhiều nhà thần học
đương đại. Họ quan niệm nhân quyền là thiêng liêng, là phần hồn thần bí do những
lực lượng siêu nhiên hoạch định” [81, tr.35].
Năm là, quan niệm, cần phải hiểu QCN theo nghĩa hẹp là “nhân quyền chủ
trương”, “nói cách khác đó là quyền hiểu theo nghĩa cơ cấu. A do Y mà có quyền X
đối với B, ở đây có bốn nhân tố được bàn đến: A là chủ thể của quyền, Y là tính
chất của quyền, X là khách thể của quyền (nghĩa là quyền về cái gì) B là đối tượng
của quyền là người có nghĩa vụ”[81, tr.35]

15


Sáu là, khái niệm QCN dựa vào trình độ phát triển của lịch sử, xây dựng
“Quyền con người thế hệ thứ tư”, tiếp sau các QCN thế hệ thứ nhất xuất hiện trong
cách mạng tư sản ở Mỹ, Pháp; QCN thế hệ thứ hai chịu ảnh hưởng của khái niệm
“nhà nước phúc lợi chung”; QCN thế hệ thứ ba có quan hệ trực tiếp đến vấn đề sinh
tồn, hủy diệt, duy trì hòa bình.
Bảy là, khái niệm QCN được xây dựng trên thuyết “Nhân quyền quan
niệm” của Lang Nghị Hoài (Trung Quốc). Trong đó khẳng định, “Nhân quyền là sự
phản ánh trong đầu óc con người trở thành quan niệm, do đó lịch sử nhân quyền và
lịch sử đấu tranh cho nhân quyền chẳng qua là lịch sử của quan niệm. Mọi tranh
luận về nhân quyền và mọi quy định về nhân quyền đều là tự biện thuần túy ý niệm,

Xem xét từ góc độ triết học,QCN được quy vào hai dạng chủ yếu:
Một là, quyền được bảo đảm các điều kiện xã hội để con người tồn tại xứng
đáng với con người, bao gồm các quyền làm việc, quyền cư trú, đi lại, quyền bất
khả xâm phạm về thân thể, quyền được bảo đảm về chỗ ở, quyền an ninh, chính trị,
quyền tự do kết hôn, quyền sở hữu, thừa kế tài sản, quyền nghỉ ngơi, chữa bệnh.
Hai là, quyền tự do lựa chọn các hoạt động sáng tạo, quyền được sáng tạo
để biểu hiện mình như là một nhân cách, gồm quyền được học tập, nâng cao học
vấn, quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp, pháp minh, sáng chế, quyền tự do ngôn
luận, quyền phê bình, chất vấn, quyền bảo lưu chính kiến trên cơ sở trách nhiệm về
hành vi cá nhân, quyền đấu tranh bảo vệ chân lý, quyền tự do bầu cử, ứng cử, quyền
tự do lập hội, quyền tự do tín ngững tôn giáo.
Xem xét từ góc độ khoa học pháp lý, QCN bao gồm:
Một là, các quyền tự do dân chủ về chính trị như quyền tham gia quản lý
nhà nước, quyền bầu cử, ứng cử, bình đẳng nam – nữ, quyền tự do ngôn luận, báo
chí, quyền được thông tin, quyền được hội họp, lập hội, biểu tình, tự do tín ngưỡng..
Hai là, các quyền dân sự như quyền tự do đi lại, cư trú, quyền bất khả xâm
phạm về thân thể, quyền được bảo vệ về tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân
phẩm.....

17


Ba là, các quyền kinh tế - xã hội như quyền lao động, tự do kinh doanh,
quyền sở hữu, thừa kế, quyền học tập, nghiên cứu,quyền hôn nhân gia đình....
Ngoài ra, từ yêu cầu pháp chế, người ta phân biệt thành quyền phổ biến tuyệt
đối và quyền phổ biến tương đối, tức quyền phải thực hiện ngay không điều kiện,
không hạn chế và quyền bảo đảm thực hiện tùy theo mức độ, điều kiện của mỗi
quốc gia.
Nhìn chung, khi nghiên cứu về QCN, hầu hết các tác giả đều luận giải
những nhóm quyền cơ bản của con người, đó là QDSCT; quyền kinh tế, văn hóa,

nhiều tác giả, nhưng các bài viết được trình bày một cách khoa học, logic, tạo ra một
kết cấu liền mạch, đề cập đến những vẫn đề cơ bản, bức thiết, những vấn đề đang nổi
lên trong giai đoạn hiện nay của nhóm quyền này. Các bài viết không chỉ giải quyết các
vấn đề lý luận, mà tập trung nhiều đến thực tiễn TTQCN hiện nay. Trong đó, lý luận về
nhóm QDSCT được thể hiện qua bài "Nhận thức chung về quyền dân sự: Khái niệm và
nội dung" của tác giả Hà Thị Mai Hiên.Theo tác giả, các QDSCT được xếp vào thế hệ
nhân quyền thứ nhất. Các quyền này về bản chất là các quyền thụ động, thể hiện tính
độc lập, không phụ thuộc của chủ thể quyền và giới hạn sự can thiệp của nhà nước vào
công việc thực thi, thụ hưởng các quyền của chủ thể. Các quyền này mang tính tuyệt
đối và được thực hiện không điều kiện. Nội dung của các QDSCT được đề cập ở rất
nhiều văn kiện quốc tế, các công ước của LHQ. Tuy nhiên theo tác giả, có thể khái quát
thành các quyền như sau: Quyền tự do, tự quyết định; Quyền bình đẳng và không bị
phân biệt đối xử; Quyền sống, tự do và an ninh cá nhân; Quyền tự do đi lại và cư trú;
Quyền sở hữu tài sản của công dân; Quyền được bảo vệ đời tư; Quyền về xét xử công
bằng; Các quyền và tự do trong hôn nhân và gia đình.
Tác giả Phạm Hữu Nghị, trong bài "Quyền chính trị và thực hiện các quyền
chính trị ở Việt Nam" đã trình bày nội dung của các quyền chính trị bao gồm:
Quyền tự do ý kiến và biểu đạt; Quyền tự do lập hội; Quyền tự do hội họp một cách
hòa bình; Quyền được tham gia vào đời sống chính trị.

19


Đây là hai bài viết, hai tác giả nhưng bổ sung đầy đủ cho những nhận thức
về QDSCT trên phương diện lý luận và phần nào đã đề cập đến thực tiễn thực thì
quyền dân sự và chính trị ở Việt Nam.
Như vậy, nội dung, phạm vi các quyền cơ bản đã được nhiều tác giả nghiên
cứu và đến nay người ta không còn tranh luận về vấn đề đó. Vấn đề hiện nay là tính
đa dạng của các quyền đó được thể hiện trong thực tiễn như thế nào, khi nào thi đề
cao nhóm quyền nào hơn, hoặc mối liên hệ giữa chúng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status