ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
---------------------
CÀ XUÂN DỰ
TÊN ĐỀ TÀI:
“TÌM HIỂU VAI TRÒ CỦA CÁN BỘ NÔNG NGHIỆP XÃ YÊN NINH,
HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
:
Chính Quy
Định hướng đề tài
:
Hướng ứng dụng
Chuyên ngành
:
Kinh tế nông nghiệp
Khoa
:
:
:
:
:
Chính Quy
Hướng ứng dụng
Kinh tế nông nghiệp
K45 KTNN - N04
Kinh tế và PTNT
Khóa học
Giảng viên hướng dẫn
: 2013 - 2017
: TS. Bùi Đình Hòa
Cán bộ hướng dẫn cơ sở
: Ngµyễn Thành Long
Thái Nguyên, năm 2017
i
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, nay em đã hoàn thành báo cáo
DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ
Bảng 1.1: Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp ......................................... 4
Bảng 3.1: Hiện trạng sử dụng đất đai của xã Yên Ninh 2016........................ 23
Bảng 3.2: Tình hình dân số xã Yên Ninh năm 2016 ..................................... 25
Bảng 3.3: Tổng giá trị sản xuất của xã Yên Ninh Năm 2016 ........................ 26
Bảng 3.4: Tình hình cơ sở hạ tầng của xã Yên Ninh năm 2016 .................... 28
Bảng 3.5: Thực trạng nhà ở người dân xã Yên Ninh năm 2016 .................... 29
Bảng 3.6: Trình độ của cán bộ xã Yên Ninh nhiệm kỳ 2016-2021................ 31
Bảng 3.7: Hoạt động của các tổ chức đoàn thể xã Yên Ninh năm 2016 ........ 32
Bảng 3.8: Các loại tài liệu thứ cấp thu thập tại xã Yên Ninh......................... 36
Bảng 3.9: Các hoạt động tham gia trong thời gian thực tập tại xã Yên Ninh. 37
Bảng 3.10: Các hoạt động đoàn thể xã Yên Ninh ......................................... 40
Sơ đồ 3.1: Sơ đồ bộ máy tổ chức cấp xã ....................................................... 41
iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Nội dung đầy đủ
HĐND
Hội đồng nhân dân
UBND
Ủy ban nhân dân
Bảo hiểm y tế
KHKT
Khoa học kỹ thuật
NTM
Nông thôn mới
iv
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................. i
DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ ............................................................... ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ........................................................................ iii
MỤC LỤC .................................................................................................... iv
PHẦN 1: MỞ ĐẦU ....................................................................................... 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài ........................................................................... 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu ................................................................................ 2
1.2.1. Mục tiêu chung ..................................................................................... 2
1.2.2. Mục tiêu cụ thể ..................................................................................... 2
1.3. Nội dung và phương pháp thực hiện ........................................................ 3
1.3.1. Nội dung thực tập ................................................................................. 3
1.3.2. Phương pháp thực hiện ......................................................................... 3
1.4. Thời gian và địa điểm thực tập ................................................................ 4
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ............................................................ 5
2.1. Về cơ sở lý luận....................................................................................... 5
2.1.1. Một số khái niệm liên quan đến nội dung thực tập ................................ 5
1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Mục tiêu của phát triển sản xuất nông nghiệp thứ nhất là nâng cao hiệu
quả sản xuất kinh doanh của người sản xuất để tăng thu nhập, thoát đói nghèo,
làm giàu thông qua các hoạt động đào tạo nông dân về kiến thức, kỹ năng và
các hoạt động cung ứng dịch vụ để hỗ trợ nông dân sản xuất kinh doanh đạt
hiệu quả cao, thích ứng với các điều kiện sinh thái, khí hậu và thị trường. Thứ
hai, là góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hương phát
triển sản xuất hàng hóa, nâng cao năng suất, chất lượng, an toàn vệ sinh thực
phẩm đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu, thúc đẩy tiến trình hiện đại
hóa nông nghiệp, nông thôn, xây dựng nông thôn mới, đảm bảo an ninh lương
thực quốc gia, ổn định kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường. Thứ ba, là huy
động các nguồn lực từ các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tham
gia phát triển sản xuất nông nghiệp.
Để thực hiện các mục tiêu trên Đảng và Nhà nước ta cần ngày càng quan
tâm, phát huy hơn nữa vai trò của cán bộ phụ trách nông nghiệp, tạo điều kiện
thuận lợi để cán bộ tham gia vào tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội…
nói chung, đặc biệt là trong ngành nông nghiệp nói riêng. Ở khu vực nông
thôn, cùng với việc tích cực tham gia vào quá trình phát triển sản xuất nông
nghiệp, mỗi cán bộ phụ trách nông nghiệp còn tham gia nhiều hoạt động xã
hội, góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội, ổn định an ninh quốc
phòng địa phương làm thay đổi diện mạo của khu vực nông thôn Việt Nam.
Xã Yên Ninh là một xã trung du miền núi cách trung tâm huyện Phú
Lương 20km về phía nam, phía Ðông xã giáp với tỉnh Bắc Kạn; phía Tây
xã giáp với xã Yên Trạch; phía Nam giáp với xã Yên Đổ, Yên Lạc; phía
3
- Nâng cao kỹ năng làm việc và tác phong chuyên nghiệp qua quá trình
học và làm việc độc lập, tinh thần làm việc nhóm, giải quyết các vấn đề có tính
khoa học.
- Có thêm được nhiều kinh nghiệm và kỹ năng mới cho bản thân như:
kỹ năng giao tiếp, xử lý tình huống, xây dựng và lập kế hoạch….
Về thái độ, kỹ năng làm việc
- Nâng cao kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng ứng
xử hiệu quả trong công việc.
- Giúp sinh viên xác định và lựa chọn tốt nhất công việc, lĩnh vực
ngành nghề trong tương lai.
Về kỹ năng sống
- Rèn luyện kỹ năng làm việc chuyên nghiệp cho sinh viên.
- Tận dụng được hết các cơ hội nếu có, chịu khó chú tâm trong công việc.
- Giao tiếp tích cực, chân thành trong ứng xử.
1.3. Nội dung và phương pháp thực hiện
1.3.1. Nội dung thực tập
- Tìm hiểu đặc điểm tự nhiên, điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội, an
ninh - quốc phòng của xã Yên Ninh.
- Tìm hiểu cụ thể nghiên cứu vai trò của cán bộ phụ trách nông nghiệp
trong việc phát triển sản xuất.
- Bên cạnh đó, tham gia các hoạt động xã hội do UBND xã tổ chức
trong thời gian thực tập.
- Đề xuất các giải pháp để nâng cao năng lực của cán bộ phụ trách nông
nghiệp trong việc phát triển sản xuất nông nghiệp tại UBND xã Yên Ninh.
1.3.2. Phương pháp thực hiện
1.3.2.1. Thu thập số liệu thứ cấp
Kết quả hoàn thành nhiệm vụ
Cán bộ nông nghiệp xã Yên
Ninh
Các khái niệm liên quan đến nông
Nguồn Internet, Giáo trình,
nghiệp
Bài giảng.
1.3.2.2. Thu thập thông tin sơ cấp
- Phương pháp quan sát: Quan sát tác phong làm việc, cách làm việc và xử
lý công việc của cán bộ xã nói chung và cán bộ nông lâm nghiệp nói riêng.
- Tiếp cận có sự tham gia hướng dẫn của cán bộ xã.
1.3.2.3. Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu
Dùng word để tổng hợp lại các số liệu và viết báo cáo hoàn chỉnh.
1.4. Thời gian và địa điểm thực tập
- Thời gian: Từ ngày 21/2/2017đến ngày 21/5/2017
- Địa điểm: UBND xã Yên Ninh, huyện Phú Lương, Tỉnh Thái Nguyên.
5
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Về cơ sở lý luận
2.1.1. Một số khái niệm liên quan đến nội dung thực tập
hoàn thành chương trình đào tạo tại các trường đại học, cao đẳng, trung học
chuyên nghiệp, dạy nghề; cán bộ được bổ nhiệm, đề bạt hoặc bầu cử.
Cán bộ được hưởng lương và chính sách đãi ngộ căn cứ vào chức
danh, nội dung, chất lượng hoạt động và thời gian công tác của họ.
Vậy hiểu theo nghĩa chung nhất cán bộ là người lãnh đạo, quản lý hoặc
người làm chuyên môn, nhà khoa học hay công chức, viên chức làm việc,
hưởng lương từ ngân sách Nhà nước hoặc từ các nguồn khác. Họ được hình
thành từ tuyển dụng, phân công công tác sau khi tốt nghiệp ra trường, từ bổ
nhiệm, đề bạt đến bầu cử.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra định nghĩa về cán bộ hết sức khái quát
giản dị và dễ hiểu. Theo người: “Cán bộ là người đem chính sách của Đảng,
Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành, đồng thời đem tình
hình dân chúng báo cáo cho Đảng, Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho
đúng. Vì vậy, cán bộ là cái gốc của mọi công việc. Vì vậy, huấn luyện cán bộ
là công việc gốc của Đảng”.
2.1.1.2. Khái niệm Cán bộ công chức
Theo khoản 2 điều 4 luật cán bộ công chức 2008 quy định:
Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào
ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà
nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ
quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân
chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an
7
nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy
lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt
Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự
nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối
Việc tuyển dụng công chức do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tiến hành
căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế được giao. Cơ
quan thực hiện việc tuyển dụng bao gồm những cơ quan được quy định tại Điều
39 Luật cán bộ công chức 2008 đó là: Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát
nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước; Văn phòng quốc hội, Văn phòng Chủ
tịch nước; Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; UBND cấp tỉnh; Cơ
quan của Đảng cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị xã hội. Các cơ quan này
đều tiến hành tuyển dụng công chức trong các văn phòng UBND, các sở, các
đơn vị thuộc quyền quản lý. Ví dụ: UBND cấp tỉnh tuyển dụng công chức trong
các văn phòng của UBND, các sở, các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc cơ cấu
tổ chức cơ quan chuyên môn thuộc UBND.
Người được tuyển dụng phải là người đáp ứng đầy đủ các điều kiện
theo quy định tại Khoản 1 Điều 36 luật cán bộ công chức 2008 và không phải
những người được quy định tại khoản 2 Điều 36. Khi đáp ứng đầy đủ các
điều kiện trên người được tuyển dụng phải trải qua kì thi tuyển hoặc xét
tuyển theo quy định của pháp luật. Thi tuyển là phương pháp tuyển dụng
công chức trong đó hình thức nội dung thi phải phù hợp với nhành nghề bảo
đảm lựa chọn được người có phẩm chất, trình độ và năng lực đáp ứng yeeu
cầu tuyển dụng. Bên cạnh đó, với những người thỏa mãn các điều kiện tuyển
dụng và cam kết tình nguyện làm việc từ 5 năm trở lên ở miền núi, biên giới,
hải đảo, các vùng đặc biệt khó khăn thì được tuyển dụng thông qua xét tuyển.
Người được tuyển dụng vào công chức phải thực hiện chế độ tập sự theo
quy định của Chính phủ. Hết thời gian tập sự, người đứng đầu cơ quan, tổ chức,
đơn vị sử dụng công chức đánh giá phẩm chất đạo đức và kết quả công việc của
9
người đó; nếu đạt yêu cầu thì đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý
công chức quyết định bổ nhiệm chính thức vào ngạch.
g) Văn hoá - xã hội.
2.1.1.4. Một số khái niệm liên quan đến cán bộ nông lâm nghiệp
Cán bộ nông nghiệp: là người làm công tác nghiệp vụ chuyên môn
trong một cơ quan hoặc một tổ chức quan hệ trực tiếp đến sản xuất và các
ngành kho học kỹ thuật nông nghiệp.
Cán bộ nông nghiệp cấp xã: là những người trực tiếp chỉ đạo hoặc trực
tiếp là công tác trong lĩnh vực nông nghiệp trên địa bàn cấp xã. Đây là những
người trực tiếp tiếp cận với nông dân và tổ chức chỉ đạo hoặc triển khai các
hoạt động nông nghiệp cho nông dân.
2.1.1.5. Những tiêu chuẩn của cán bộ PTNN cấp xã
- Có tinh thần thực sự yêu mến quê hương, biết thương yêu, quý trọng
mọi người đặc biệt là người nông dân;
- Có trình độ hiểu biết và đã được kinh qua đào tạo nghiệp vụ, có
chuyên môn về một trong những ngành cơ bản sản xuất nông nghiệp ở địa
phương như trồng trọt, chăn nuôi, thú y, lâm nghiệp, thuỷ sản...;
- Có đạo đức, tác phong lành mạnh, khiêm tốn, kiên trì, chịu khó học
hỏi kinh nghiệm của những bậc lão nông tri điền, các kinh nghiệm hay của
người khác;
- Biết làm giàu cho bản thân gia đình mình và có tinh thần thương yêu,
giúp đỡ những người xung quanh mình cũng làm giàu;
- Biết vận động và tổ chức nông dân thực hiện đúng các yêu cầu của
chương trình dự án nông nghiệp.
- Cần phải 3 biết: Biết làm, biết nói và biết viết. Do đó khi tuyển chọn
người làm CBPTNNCX thường hướng đến những người ở tại địa phương. Họ
có hiểu biết sâu về điều kiện thực tế của địa phương, có quan hệ gắn bó, tình
11
cảm với nông dân, với quê hương nên họ sẽ cố gắng hết sức vì sự phát triển
Kỹ năng là sự thành thạo, khéo léo của mỗi cá nhân trong quá trình làm
việc, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ được giao. Kỹ năng cá nhân không chỉ
do đào tạo mà có mà nó còn phụ thuộc vào năng khiếu, sự rèn luyện bền bỉ,
kiên trì của mỗi người, sự tích luỹ kinh nghiệm trong quá trình hoạt động,
công tác thực tiễn.
Những kỹ năng mà mỗi cán bộ PTNN cấp xã cần phải có bao gồm:
+ Kỹ năng tổ chức và lập kế hoạch: Cán bộ PTNN cấp xã cần có khả
năng lập kế hoạch các hoạt dộng nông nghiệp và tổ chức, hướng dẫn nông dân
thực hiện những kế hoạch đó;
+ Kỹ năng truyền thông: Cán bộ PTNN cấp xã phải có khả năng nói và
viết tốt, bởi vì họ sẽ phải sử dụng thường xuyên những kỹ năng này để giao
tiếp với nông dân và các cá nhân, tổ chức khác trong quá trình hoạt động nông
nghiệp cán bộ PTNN cấp xã phải có khả năng nói trước đám đông, biết cách
chuyển tải những thông tin, kiến thức của mình cho nông dân để họ hiểu và áp
dụng vào sản xuất.
+ Kỹ năng phân tích và đánh giá: cán bộ PTNN cấp xã phải có năng lực
phân tích, đánh giá các tình huống gặp phải hàng ngày, nhận thức và hiểu rõ
được các vấn đề để có thể đề xuất được các giải pháp kịp thời và hợp lý cho
nông dân.
+ Kỹ năng lãnh đạo: cán bộ PTNN cấp xã phải tự tin và biết tin
tưởng vào những đối tượng mình đang phục vụ, phải gương mẫu trước
quần chúng và có khả năng lãnh đạo quần chúng thực hiện thành công các
hoạt động nông nghiệp.
+ Kỹ năng sáng tạo: cán bộ PTNN cấp xã thường phải làm việc trong
các điều kiện độc lập và đối mặt với nhiều tình huống có thể xảy ra, vì vậy
13
cần có khả năng sáng tạo, linh hoạt, chủ động chứ không phải lúc nào cũng
2.2.1. Kinh nghiệm đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ ở Việt Nam
Kinh nghiệm xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở ở tỉnh Lạng Sơn
Theo lãnh đạo Ban Tổ chức Tỉnh ủy Lạng Sơn, qua việc giám sát về
thực hiện công tác cán bộ ở cấp huyện và xã, có một thực tế là: các lãnh đạo
đương chức ít quan tâm tạo điều kiện để cán bộ cơ sở bổ sung tiêu chuẩn về
quản lý nhà nước và lý luận chính trị. Khi cấp trên phân bổ chỉ tiêu đào tạo,
bồi dưỡng thì cử cán bộ trong quy hoạch nguồn đi học, còn cán bộ đang
đương chức thì không được cử với lý do “cử đi học thì ở nhà không có người
làm việc”. Chính quan niệm sai này khiến một tỷ lệ không nhỏ cán bộ cơ sở
đương chức lâm vào cảnh “nợ” chuẩn. Bởi vậy, sau rà soát, các huyện trong
tỉnh đang thực hiện theo hướng ưu tiên cử cán bộ đương chức đi đào tạo, bồi
dưỡng trước. Đến nay, hầu hết số cán bộ đương chức ở cơ sở “nợ” chuẩn đều
đang theo học các lớp tại chức về quản lý nhà nước và lý luận chính trị (mở
tại huyện). “Với cách làm huyện bỏ ra một nửa kinh phí để mở lớp tại chỗ,
còn các học viên tự túc kinh phí, tỉnh hỗ trợ thủ tục mở lớp ngoài kế hoạch,
chúng tôi dự kiến sẽ “thanh toán nợ” xong trong thời gian ngắn tới đây” đồng chí Lương Đình Ước, Trưởng phòng Tổ chức cán bộ, Ban Tổ chức Tỉnh
ủy Lạng Sơn, khẳng định.
Để bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ, nâng cao ý thức trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức đối với
nhiệm vụ và việc tự học, Tỉnh ủy Lạng Sơn đã ban hành Kế hoạch 05-KH/TU
(ngày 2-3-2016) về việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức tỉnh Lạng Sơn
giai đoạn 2016 - 2020. Tiếp đó, tháng 11-2016, Tỉnh ủy Lạng Sơn có Đề án
“Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trẻ tuổi, cán bộ nữ, cán bộ là
người dân tộc thiểu số đến năm 2020 và những năm tiếp theo”. Các kế hoạch
15
và đề án nêu trên đều nhằm mục tiêu là tập trung nguồn lực xây dựng đội ngũ
cán bộ, công chức cấp xã đạt chuẩn. Phấn đấu đến năm 2020 có 100% cán bộ
Cùng với đó, việc kiểm tra, giám sát hoạt động của các xã được thực
hiện thường xuyên, đặc biệt Tỉnh ủy đã ban hành Quyết định giám sát vượt
cấp, cấp tỉnh trực tiếp đến kiểm tra, giám sát tại các xã. Đồng thời phân công
các đồng chí Ủy viên Ban thường vụ Tỉnh ủy theo dõi, giám sát thường xuyên
đối với Đảng ủy các xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh.[12]
2.2.2. Bài học kinh nghiệm từ các địa phương
Ngày nay trước sự phát triển mạnh mẽ của các ngành khoa học kỹ thuật
đòi hỏi mỗi một đất nước, mỗi quốc gia trên thế giới phải nắm bát nhanh
chóng những thành tựu khoa học kỹ thuật đưa vào áp dụng trong sản xuất
nông nghiệp, nâng cao năng suất lao động giúp cho đời sống xã hội được
nâng cao cả về vật chất lẫn tinh thần. Mặt khác trước nền kinh tế thị trường
đầy biến động nó làm cho tốc độ phát triển giữa thành thị và nông thôn ngày
càng cách xa nhau, chính vì vậy đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật nông
nghiệp sống ở vùng nông thôn đóng một vai trò như một cầu nối cho việc
chuyển giao những thành tựu khoa học kỹ thuật áp dụng vào vùng nông thôn,
tạo điều kiện cho những vùng này phát triển, nâng cao đời sống vật chất tinh
thần, giảm bớt khoảng cách giầu nghèo giữa các vùng nông thôn, nâng cao
đời sống văn hóa xã hội, ổn định chính trị góp phần phát triển kinh tế đất
nước, giữ vững độc lập chủ quyền dân tộc.
Vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn đặt trong mối quan hệ tương
tác với phát triển công nghiệp và đô thị từ lâu đã được Đảng và Nhà nước
quan tâm đặc biệt, nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã chỉ rõ:
+ Phát triển toàn diện Nông - Lâm - Ngư nghiệp hình thành các vùng
tập trung chuyên canh , cơ cấu hợp lý về cây trồng, vật nuôi, có sản phẩm
hàng hóa nhiều về số lượng, tốt về chất lượng, đảm bảo về lương thực cho xã
17
hội, đáp ứng yêu cầu của công nghiệp chế biến, của thị trương trong nước và
hay mỗi tổ chức phải quy hoạch đội ngũ cán bộ KHKT sao cho hợp lý phù hợp
với công việc. Phải biết khâu nào, ngành nào là cần thiết, cần phải bổ sung hay
thay thế chuyển đổi, từ đó mới có chương trình chuyển cụ thể để đưa cán bộ
KHKT mới. Từ đó đưa KHKT vào áp dụng trong tổ chức của mình để phát huy
hết tiềm năng sẵn có. Tạo tiền đề để cho mỗi một tổ chức hay một quốc gia phát
triển ổn định, phồn vinh và hạnh phúc.
Một số kinh nghiệm cho công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức hành
chính ở nước ta như sau:
Một là, nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, công chức, trước hết là
đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp, các ngành về vai trò, tác dụng của công tác
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức để có những nỗ lực cần thiết và biện
pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác này. Trước
hết cần tập trung nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các
cơ quan, đơn vị, vì họ là người đề ra chủ trương, chính sách về đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức, đồng thời là người trực tiếp quản lý, sử dụng cán
bộ, công chức. Khi nhận thức được điều này, họ không chỉ tích cực học tập,
trau dồi năng lực quản lý, điều hành cho bản thân mình để hoàn thành tốt
nhiệm vụ, mà quan trọng hơn là tạo ra cơ chế, chính sách thông thoáng và
điều kiện thuận lợi để công chức tham gia tích cực vào các chương trình đào
tạo, bồi dưỡng.
Hai là, tăng cường chỉ đạo thống nhất công tác đào tạo, bồi dưỡng công
chức từ trung ương đến địa phương, đồng thời thực hiện phân công, phân cấp
rõ ràng, rành mạch hợp lý về thẩm quyền, trách nhiệm giữa các cấp,các
trường đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức; bảo đảm sự phối hợp
chặt chẽ giữa các ngành, các cấp, giữa cơ quan chủ trì với cơ quan phối hợp.
Ba là, cần có những quy định cụ thể và nghiêm ngặt về các khoá đào
tạo bắt buộc mà công chức phải trải qua trước khi nhận nhiệm vụ hay được