LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Tiểu học Khương
Thượng các bạn đồng nghiệp, các em học sinh lớp 1E đã động viên tôi về tinh
thần, tạo điều kiện, giúp đỡ tôi về mặt thời gian, tài liệu, sách tham khảo …để
tôi hoàn thành bài viết này.
Là giáo viên trẻ cả về tuổi đời và tuổi nghề nên tôi rất mong nhận được
sự chỉ bảo, góp ý nhiệt tình của các cấp lãnh đạo, của đồng nghiệp để việc dạy
học của tôi có thể đạt kết quả tốt hơn trong những năm học sau.
Xin chân thành cảm ơn!
1
MỤC LỤC
TT
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
13
16
17
18
23
MỘT SỐ KINH NGHIỆM
GIÚP HỌC SINH LỚP 1 HỌC TỐT PHẦN GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN
PHẦN I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
1. Lý do lựa chọn đề tài.
Như chúng ta đã biết bậc tiểu học là quá trình giáo dục tiếp nối của bậc
mầm non và là cầu nối cho sự nghiệp giáo dục sau này. Cùng với sự giáo dục
hình thânh nhân cách đạo đức cho học sinh, nhất là các em ở bậc tiểu học thì
điều thiết yếu cơ bản nhất là phát triển trí tuệ và trao dồi học vấn cho các em,
nhất là các em học sinh ở giai đoạn đầu cấp (lớp 1). Đây là giai đoạn hình thành
kiến thức, kỹ năng sơ đẳng, cơ bản tạo cơ sở tiền đề cho học sinh tiếp thu tri
thức ở các lớp trên.
Chính vì thế, hiện nay ngành giáo dục của chúng ta đã xây dựng và đang
thực hiện chương trình tiểu học mới. Chương trình này được xây dựng với định
hướng theo kịp và đón đầu sự phát triển của trẻ em độ tuổi học trong xã hội hiện
đại, đáp ứng nhu cầu mới của việc đào tạo nguồn nhân lực, phục vụ cho sự phát
triển của đất nước.
Để thực hiện mục tiêu trên, chương trình môn Toán nói chung, Toán lớp
1 nói riêng đã có nhiều thay đổi về nội dung cùng với sự đổi mới trong phương
pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm.
Hiển nhiên việc thay đổi về nội dung và phương pháp này cũng đều
hướng tới đích chung là kết quả của việc dạy học toán.
Hiện nay, trong nhà trường tiểu học, việc dạy - học giải toán có lời văn là
hoạt động chủ yếu được tiến hành một cách thường xuyên ở lớp 1. Đây là lớp
cao chất lượng môn Toán.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể: Học sinh lớp 1E trường Tiểu học Khương Thượng, các bài
tập Toán có lời văn - SGK lớp 1.
- Đối tượng nghiên cứu: Phương pháp dạy học giải toán có lời văn ở lớp 1.
4
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được những mục đích trên, nhiệm vụ của đề tài cần giải quyết
những vấn đề sau:
- Nghiên cứu kỹ Sách giáo khoa Toán 1.
- Nghiên cứu lý luận.
- Nghiên cứu thực trạng (giáo viên - học sinh)
- Nghiên cứu các bài tập giải toán có lời văn - SGK Toán 1.
- Nghĩ cách giải quyết từng loại bài tập cụ thể để tìm cách giảng cho đúng
mục đích, yêu cầu.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu tài liệu và phương pháp dạy học môn
Toán lớp 1 (Tập 1), SGV Toán 1, Vở BT Toán in 1, tài liệu bồi dưỡng giáo viên
Toán 1, tài liệu hướng dẫn giáo viên, tài liệu giới thiệu về chương trình Tiểu học
mới và một số tài liệu khác.
- Điều tra thực tiễn: Điều tra tình hình Toán lớp 1 ở trường.
6. Phạm vi đề tài
Phương pháp giải các bài tập toán trong giảng dạy môn Toán có rất nhiều
cách khác nhau. Nhưng trong bài viết này, tôi chỉ đề cập đến vấn đề: “Phương
pháp dạy học giải bài toán có lời văn” đối với học sinh lớp 1E trường Tiểu học
Khương Thượng năm học 2010 - 2011.
5
6
viên giảng dạy toán có lời văn ở lớp 1 tốt hơn và giúp các em có một phương
pháp học toán có lời văn. Từ đó các em có một kiến thức nhất định về loại toán
này.
Như chúng ta đã biết, mục đích của việc dạy toán có lời văn là giúp học sinh:
- Nhận biết thế nào là một bài toán có lời văn (cấu tạo các phần của bài toán).
- Biết giải và trình bày các bài toán bằng một phép tính cộng hoặc một
phép tính trừ. Trong đó có bài toán về “thêm” và “bớt” một số đơn vị (viết được
bài giải bao gồm cho câu lời giải, phép tính giải và đáp số).
- Bước đầu phát triển tư duy, rèn luyện phương pháp giải toán và khả
năng diễn đạt (phân tích đề bài toán).
Cùng với việc học toán góp phần vào việc hình thành và phát triển nhân
cách cho trẻ.
2. Nội dung bài tập dạng giải toán có lời văn trong SGK lớp 1 - Thực trạng
việc dạy và học tại lớp 1E trường Tiểu học Khương Thượng
a. Nội dung dạy học toán ở lớp 1 được sắp xếp thành 2 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Chuẩn bị về bài toán có lời văn và giải toán có lời văn.
Giai đoạn này học trong học kỳ I của lớp 1, học sinh được làm quen với
các “tình huống” của bài toán diễn tả qua các tranh vẽ. Yêu cầu chỉ ở mức độ
quan sát tranh, phân tích nội dung của tranh, từ đó nêu được bài toán (đề toán)
rồi viết được phép tính giải (chưa đòi hỏi học sinh trình bày bài giải một cách
hoàn chỉnh). Hình thức của bài tập này là viết phép tính thích hợp (viết phép tính
vào 5 ô vuông).
Giai đoạn 2: Chính thức học giải bài toán có lời văn
Giai đoạn này học trong học kì II của lớp 1 từ tuần 21. Học sinh được biết
thế nào là một bài toán có lời văn ( cấu tạo bài toán gồm có hai phần: Giả thiết
bài toán cho biết gì? Và câu hỏi bài toán hỏi gì ?). Từ đó, HS biết cách giải các
bài toán đơn về “ thêm”, “ bớt” một số đơn vị.
: … bông hoa?
Bài giải
Số bông hoa Hà có tất cả là:
13 + 5 = 18 ( bông hoa)
Đáp số: 18 bông hoa
* Loại 2: Bài toán về “ bớt” một số đơn vị.
Bài toán:
Hoa có a bông hoa. Hoa cho em b bông hoa. Hỏi Hoa còn lại bao nhiêu
bông hoa?
Phương pháp giải:
Giải bằng phép trừ:
a–b
8
Bài tập cụ thể:
Mai có 13 bông hoa. Mai cho bạn 2 bông hoa. Hỏi Mai còn lại bao nhiêu
bông hoa?
Tóm tắt:
Có
: 13 bông hoa
Cho
: 2 bông hoa
Còn lại
giống nhau.
Một khó khăn nữa cho các em chưa phân biệt được các yếu tố trong bài
toán. Thông thường một bài toán gồm có ba yếu tố: “ dữ kiện” (là những cái đã
cho), “ẩn số” (những cái chưa biết) ẩn số đối với loại bài toán này là dạng câu
hỏi (điều kiện) là quan hệ giữa ( dữ kiện) và ẩn số. Các em chưa phân biệt được
3 yếu tố này. Các em khó nhận thức tính chất của cái đã cho với cái cần tìm,
nhất là không nhận thức được vai trò của câu hỏi trong bài toán. Khó nhận rõ
quan hệ giữa dữ kiện với điều kiện. Mặt khác nội dung đầu bài toán thường nêu
ra các tình huống quen thuộc, gần gũi với học sinh. Vì vậy việc tìm hiểu đề bài
của các em thường phân tán nội dung cụ thể của đại lượng hơn là số cần thiết
cho việc diễn tả điều kiện của bài toán theo yêu cầu cần học.
VD: Trên bàn có 15 lá cờ màu đỏ và 23 lá cờ màu xanh. Hỏi trên bàn có
tất cả bao nhiêu lá cờ?
Khi giải bài toán học sinh gặp khó khăn trong việc lựa chọn phép tính
do nhiều đề toán chứa các từ thường gọi là chìa khoá hay từ (cảm ứng). Tức là
nội dung quen thuộc của và ra một phép tính nào đó.
VD: “thêm” (gợi ra phép tính cộng), “ bớt đi”, “ cho đi” (gợi ra phép tính
trừ)
Khi giải xong bài toán, việc tìm đơn vị kèm theo của bài toán gặp nhiều
khó khăn, thường sai vì các em chưa xác định rõ được đơn vị đề bài hỏi hoặc
còn nhầm lẫn, không thống nhất. VD: Đơn vị của bài toán là lọ hoa học sinh lại
chọn là bông hoa, đơn vị là bạn trai học sinh lại cho là bạn nam …
VD1: Lan gấp được 5 cái thuyền, Hằng gấp được 3 cái thuyền. Hỏi cảc
hai bạn gấp được bao nhiêu cái thuyền?
VD2: Quyển sách của Lan gồm 64 trang, Lan đã đọc được 24 trang. Hỏi
Lan còn phải đọc bao nhiêu trang nữa thì hết quyển sách?
VD2: Học sinh khó xác định đơn vị do các em nhầm lẫn giữa số quyển
sách và số trang.
* Giáo viên:
10
quan hệ giữa dữ kiện và ẩn số. Trong một bài toán giáo viên cần hướng dẫn học
sinh kĩ từng dòng để học sinh phân biệt được đâu là cái đã cho và đâu là cái cần
11
tìm. Sau đó sẽ chọn các từ khoá trong bài để đưa vào phần tóm tắt. Phần này
giáo viên phải làm kĩ tránh các em bị phân tán vào yếu tố phụ mà yếu tố phụ
không liên quan gì đến bài toán.
Khi làm toán tình trạng các em bị “ám ảnh” bởi tác dụng “ cảm ứng”. Vì
vậy khi giải một bài toán các em phải đọc kĩ đề bài và hiểu đúng đề bài, sau đó
dựa vào các từ khóa trong phần tóm tắt để lựa chọn phép tính đúng cho bài toán.
3.3. Biện pháp 3: Hướng dẫn học sinh tóm tắt bài toán:
Trên cơ sở phân biệt cái gì là cái đã cho ( dữ kiện ), cái gì là cái cần tìm
(ẩn số), cái gì là điều kiện. tập trung suy nghĩ vào các yếu tố này giáo viên cần
cho học sinh gạch chân dưới những từ khoá sau đó ghi vào tóm tắt một cách
ngắn gọn, cô đọng nhất.
Đối với học sinh lớp 1 có đặc điểm tư duy cụ thể nên việc tóm tắt đề bài
bằng lời, dựa vào tóm tắt học sinh dễ tìm ra cách giải hơn.
VD: Để dạy bài toán có lời văn ở tiết Luyện tập chung – trang 147
Có 10 cây cam và 8 cây chanh. Hỏi có tất cả bao nhiêu cây? Tôi đã
hướng dẫn học sinh phân tích đề bài, tìm đâu là cái đã biết, đâu là cái chưa biết,
gạch chân các từ khóa ghi tóm tắt.
Tóm tắt:
Cam
: 10 cây
Chanh
: 8 cây
13
PHẦN III: KẾT LUẬN
Gần một năm học qua tôi đã mạnh dạn thực hiện những biện pháp trên
và bước đầu thu được những kết quả đáng khích lệ.
Học sinh có chuyển biến rõ rệt, số lượng học sinh làm được bài, yêu
thích giải toán tăng lên .
Bài kiểm tra giữa kì 2 vừa qua lớp tôi đã đạt được kết quả cụ thể sau :
Hoc sinh
Số lượng
Điểm 9, 10
50
Điểm 7, 8
15
Điểm 5, 6
0
Dưới TB
0
Trên đây là một số kinh nghiệm về việc dạy học giải bài toán có lời văn
lớp 1E trường Tiểu học Khương Thượng tôi đã thu được kết quả sau :
1. Hiểu rõ cấu trúc, nội dung môn Toán 1.
2. Hiểu rõ được một số đặc điểm nổi bật của nội dung chương trình
3. Hiểu rõ được cấu trúc, nội dung, đặc điểm của bài toán có lời văn lớp 1.
GV : Trần Thị Minh Châu
Tên bài dạy : Giải toán có lời văn ( tiếp )
I/ Mục tiêu:
- Củng cố kỹ năng giải và trình bày giải toán có lời văn
- Tìm hiểu bài toán ( Bài toán cho biết gì ? Bài toán hỏi gì ?)
- Giải bài toán
II/ Đồ dùng dạy học :
- Phấn màu
III/ Hoạt động dạy học chủ yếu :
Thời
gian
5p
Nội dung các hoạt động
PP – HT tổ chức hoạt động
dạy học
A/ Kiểm tra bài cũ:
+ Viết các số có hai chữ số giống nhau.
1 em lên bảng chữa
+ Điền dấu > , < , =
1 em lên bảng làm
73 ……. 76
47 ……..35
18 ……..15 + 3
Có
: 9 con gà
Bán : 3 con gà
Còn : … con gà ?
* HD HS giải bài toán và trình bày bài Đàm thoại
giải
HS nêu phép trừ - GV ghi
- Muốn biết nhà An còn lại mấy con gà bảng
ta làm thế nào ? ( làm phép trừ )
9 – 3 = 6 ( con gà )
* HD viết lời giải :
Đàm thoại
- Bài toán gồm những gì ? ( gồm câu lời
giải, phép tính và đáp số )
- Nêu câu lời giải của bài toán ?
- 6 ở đây chỉ số gì ? ( số gà còn lại )
- Phải viết đơn vị là con gà vào trong GV nêu
ngoặc đơn, bên phải kết quả .
HS nêu lại cách trình bày.
Bài giải
Số gà còn lại là :
9 – 3 = 6 ( con gà )
Bay đi : 2 con chim
HS làm bài, 1 em ghi lời giải.
Còn lại : … con chim ?
Bài giải
Số con chim còn lại là :
8 – 2 = 6 ( con chim )
Đáp số : 6 con chim
BT2: An có 8 quả bong, An thả 3 quả bay Trình tự như BT 1.
đi. Hỏi An còn lại mấy quả bóng ?
Tóm tắt :
Có : 8 quả bóng
Thả đi : 3 quả bóng
Còn lại: … quả bóng ?
Bài giải
Số quả bóng còn lại là :
8 – 3 = 5 ( quả bóng )
17
Đáp số : 5 quả bóng
BT3 : Đàn vịt có 8 con, 5 con ở dưới ao. Trình tự như BT 1
Hỏi trên bờ có mấy con vịt ?
Tóm tắt :
Có: 8 con vịt
Dưới ao : 5 con vịt
Trên bờ : … con vịt ?
Bài giải
7. Tạp chí Toán học tuổi thơ
8. Tạp chí Giáo dục và thời đại
Bộ giáo dục và đào tạo
Dự án phát triển giáo viên Tiểu học
Nhà xuất bản giáo dục 2004
19