Chuyên đề: Nhật kí
trong tù
Phần thứ nhất : Phần chung
I. Lí do chọn đề tài:
Có những tác phẩm đọc xong ta quên ngay. Cũng có những tác phẩm nh dòng
sông chảy qua tâm hồn ta, khắc cham lại trong tâm trí ta những những ấn tợng khó
phai nhạt, Nhật ký trong tù của Hồ chí Minh là một tác phẩm nh thế. Tuy chỉ là
một cuốn nhật kí ghi chép lại chuyện ăn, ở, sinh hoạt của Hồ Chí Minh trong hoàn
cảnh đặc biệt trong xiềng xích, gông cùm của nhà lao tăm tối nhng sáng lên trong
từng trang thơ là tâm hồn trong sáng, cao đẹp của Ngời, là chân dung một con ngời vĩ
đại: một bậc đại nhân, một bậc đại chí, một bậc đại dũng.
Hơn nửa thế kỉ qua, Nhật kí trong tù vẫn có sức sống mãnh liệt và làm lay
động bao trái tim của ngời đọc hôm nay. Bởi nó mang nội dung t tởng lớn lao và nghệ
thuật đặc sắc. Chính vì vậy mà trong chơng trình Ngữ Văn 8 ( Phần Văn học cách
mạng Việt Nam giai đoạn 1930-1945 ) chuyên đề Nhật kí trong tù có một vai trò
vô cùng quan trọng. Tác phẩm này có 133 bài thơ nhng chơng trình mới chỉ có hai
tác phẩm : Ngắm trăng và Đi đờng đợc đa vào chơng trình học. Điều đó sẽ rất
khó khăn cho học sinh khi tiếp cận một tác phẩm hay và có giá trị lớn. Nhận thức sâu
sắc vai trò to lớn, ý nghĩa thiết thực của chuyên đề này khi bồi dỡng học sinh giỏi
Ngữ Văn 8 nên đã thôi thúc tôi viết chuyên đề Nhật kí trong tù với mong muốn sẽ
nghiên cứu sâu sắc hơn nữa về tác phẩm này để nâng cao chất lợng bồi dỡng học sinh
giỏi.
II. Lịch sử vấn đề.
Nhật kí trong tù là một tác phẩm có giá trị lớn nhng chơng trình đa vào lớp 8
không có tiết giới thiệu khái quát về tác giả và giá trị của tác phẩm vì lẽ đó mà rất
khó khăn trong việc giúp học sinh cảm và hiểu trọn vẹn giá trị của tập Nhật kí tronh
tù.
Nhật kí trong tù là một tác phẩm lớn đợc nhiều nhà nghiên cứu. Họ nghiên cứu
Nhật kí trong tù từ nhiều khía cạnh khác nhau. Là giáo viên bồi dỡng học sinh giỏi,
tôi tìm tòi, nghiên cứu sâu hơn nữa về chuyên đề này. Với mong muốn khám phá
1
các bài thơ không đơn giản chút nào. Bởi một tác phẩm chữ Hán muồn hiểu cặn kẽ
phải đọc kỹ từ bản nguyên tác đến bản dich nghĩa và bản dịch thơ. Điều đó đòi hỏi
ngời học phải chịu đọc, chịu khó suy nghĩ thì mới có sự hiểu biết sâu sắc. Do đặc trng
của thơ chữ Hán khó nhớ, nên học sinh rất ngại học. Vì vậy vốn hiểu biết về tác phẩm
rất hạn chế.
Phần thứ hai : Nội dung và các giải pháp cụ thể
A. Giới thiệu tác giả:
1. Tiểu sử:
Hồ Chí Minh sinh ngày 19 tháng 05 năm 1890, mất ngày 02 tháng 09 năm
1969. Ngời tên thật là Nguyễn Sinh Cung (giọng địa phơng phát âm là côông), tự là
Tất Thành, quê ở làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, nơi có truyền
thống đấu tranh kiên cờng chống ách thống trị nặng nề của thực dân phong kiến.
Hồ Chí Minh xuất thân trong một gia đình trí thức yêu nớc, nguồn gốc nông dân.
Thân phụ Ngời là một nhà nho tên là Nguyễn Sinh Sắc, từng đỗ phó bảng. Thân mẫu
là bà Hoàng Thị Loan. Và Ngời có một chị gái là Nguyễn Thị Thanh, một ngời anh
là Nguyễn Sinh Khiêm (Tự Tất Đạt, còn gọi là cả Khiêm), một ngời em trai mất sớm
là Nguyễn Sinh Nhuận (1900 1901), tên khi mới lọt lòng là Xin.
Theo gia phả của dòng họ Nguyễn ở làng Kim Liên tại Nam Đàn, Nghệ An thì bẩy
đời dòng họ Nguyễn có nhiều ngời học giỏi, đỗ đạt cao. Vì thế chính gia đình, dòng
họ và truyền thống của quê hơng đã ảnh hởng sâu sắc đến Hồ Chí Minh ngay từ thời
niên thiếu.
2. Cuộc đời và sự nghiệp:
3
Chuyên đề: Nhật kí
trong tù
a.Cuộc đời: Thuở nhỏ Nguyễn Tất Thành nổi tiếng là học giỏi, thông minh và
ham học, ham đọc sách. Từ bé Thành đã có suy nghĩ học không phải để làm quan
mà cốt để hiểu biết.
Lớn lên với tinh thần yêu nớc nồng nàn, với sự sáng suốt về chính trị, Ngời đã bắt
đầu suy nghĩ về những nguyên nhân thành bại của các phong trào yêu nớc lúc bấy giờ
Năm 1941, sau 30 năm hoạt động ở nớc ngoài, Ngời về nớc triệu tập hội nghị thứ tám
của ban chấp hành trung ơng Đảng, quyết định đờng lối đánh Pháp, đuổi Nhật, thành
lập mặt trận dân tộc thống nhất lấy tên là Việt Nam độc lập đồng minh(Việt Minh).
Ngày 22 tháng 12 năm 1944, Ngời chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền
giải phóng quân, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay và xây dựng
căn cứ địa cách mạng.
Tháng 8 năm 1945, trong không khí sục sôi cách mạng của thời kỳ tiền khởi
nghĩa, Ngời cùng trung ơng triệu tập đại hội quốc dân ở Tân Trào. Đại hội đã cử Ngời
làm chủ tịch chính phủ lâm thời của nớc Việt Nam dân chủ cộng hòa. Ngời đã phát
lệnh tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nớc. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Ng-
ời đọc bản tuyên ngôn độc lập trớc nhân dân cả nớc và nhân dân toàn thế giới thành
lập nớc Việt Nam dân chủ cộng hòa, nhà nớc công nông đầu tiên ở Đông Nam châu
á.
Tháng 9 năm 1945, thực dân Pháp trở lại xâm lợc nớc ta một lần nữa, âm mu
xóa bỏ thành quả của cuộc cách mạng tháng 8.
Tháng 12 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi toàn quốc kháng chiến và
cùng ban chấp hành trung ơng Đảng lãnh đạo cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện
và lâu dài chống thực dân Pháp đến thắng lợi lịch sử Điện Biên Phủ (1954).
Tháng 9 năm 1960, đại hội lần thứ ba của Đảng đã họp, thông qua nghị quyết về
hai nhiệm vụ chiến lợc và bầu đồng chí Hồ Chí Minh làm chủ tịch ban chấp hành
Trung ơng Đảng. Dới sự lãnh đạo của Ngời và ban chấp hành Trung ơng Đảng, nhân
dân ta vừa đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc, vừa tiến hành
cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nớc để giải phóng Miền Nam, thống nhất nớc nhà và
đa cả nớc lên chủ nghĩa xã hội.
Cuộc đời của Chủ Tịch Hồ Chí Minh là một cuộc đời trong sáng cao đẹp của
một ngời cộng sản vĩ đại, một anh hùng dân tộc kiệt xuất, một chiến sĩ quốc tế lỗi lạc
đã đấu tranh không mệt mỏi và dâng hiến cả đời mình vì Tổ quốc, vì nhân dân, vì lý
tởng cộng sản, vì độc lập, tự do của các dân tộc, vì hòa bình và công lý trên thế giới.
5
Chuyên đề: Nhật kí
1. Giá trị nội dung t tởng:
6
Chuyên đề: Nhật kí
trong tù
1.1. Nhật ký trong tù phản ánh hiện thực đen tối về nhà tù và xã hội Trung Quốc
thời T ởng Giới Thạch:
a,NKTT lên án chế độ nhà tù cực kỳ vô nhân đạo:
ở đó, ngời tù bị bóc lột tàn nhẫn, vào tù phải nộp đủ mọi khoản tiền: tiền vào
nhà giam, tiền đèn:
Sơ lai yếu nạp nhập lung tiền,
Chí thiểu nhng tu ngũ thập nguyên;
Mới đến nhà giam phải nộp tiền
Lệ thờng ít nhất năm mơi nguyên
(Tiền vào nhà giam )
Hay:
Nhập lung yếu nạp đăng quang phí,
Quế tệ nhân nhân các lục nguyên;
Vào lao anh phải nộp tiền đèn
Tiền Quảng Tây vừa đúng sáu mơi nguyên
(Tiền đèn)
Ngời tù phải tự lo lấy muối, dầu, gạo, củi:
Giam phòng dã thị tiểu gia đình,
Sài, mễ,du, diêm tự kỷ doanh;
Mỗi cá lung tiền nhất cá táo,
Thành thiên chử phạn dữ điều canh.
Nhà lao mà giống tiểu gia đình,
Gạo củi, muối, dầu tự sắm sanh;
Trớc mỗi phòng giam bày một bếp,
Suốt ngày lụi hụi với cơm, canh.
(Nhà lao Quả Đức)
trong tù
Phải ngủ rét:
Thu thâm vô nhục diệc vô chiên
Súc hĩnh cung yêu bất khả miên
Đêm thu không đệm cũng không chăn
Gối quắp lng còng ngủ chẳng an
(Đêm lạnh)
Bị giải đi suốt ngày, suốt đêm lại không ngủ đợc:
Nhật hành ngũ thập tam công lý,
Thấp tận y quan, phá tận hài;
Triệt dạ hựu vô an thụy xứ,
Xí khanh thợng tọa đãi triêu lai.
Năm ba cây số một ngày
áo mũ dầm ma rách hết giày
Lại khổ thâu đêm không chỗ ngủ
Ngồi trên hố xí đợi ban mai.
(Mới đến nhà lao Thiên Bảo)
Ngày Hồ Chí Minh bị giải tới nhà lao Thiên Bảo là ngày Ngời phải đi bộ 53
cây số,quần áo ớt đẫm, đôi giày dới chân rách nát. Đến nhà lao trời đã tối, các chỗ
ngủ đã bị tù nhân chiếm hết, ngời tù cao niên ấy chỉ còn một chỗ duy nhất có thể đặt
chân: cái hố xí.
Đặc biệt ngời tù bị hạn chế cả những chuyện nhỏ nhất:
Một hữu tự do chân thống khổ
Xuất cung dã bị nhân chế tài;
Khai lung chi thì đỗ bất thống,
Đỗ thống chi thì lung bất khai.
Đau khổ chi bằng mất tự do
Đến buồn đi cũng không cho
Cửa tù khi mở không đau bụng
Đau bụng thì không mở cửa tù.
Gẩy đàn trong ngục thẩy tri âm
(Ghẻ lở)
Vì thế mà ngời tù bị bệnh tật hành hạ và cái chết lúc nào cũng có thể xẩy ra:
Tha thân chỉ hữu cốt bao bì
Thống khổ cơ hàn bất khả chi
Tạc dạ tha nhng thụy ngã trắc,
Kim triêu tha dĩ cửu tuyền quy.
Thân anh ra bọc lấy xơng
Khổ đau, đói rét hết phơng sống rồi
Đêm qua còn ngủ bên tôi
Sáng nay anh đã về nơi suối vàng
(Một ngời tù cờ bạc vừa chết cứng)
Hình ảnh nhà tù cực kì vô nhân đạo cũng chính là hình ảnh thu nhỏ của xã hội
Trung Quốc thời Tởng Giới Thạch.
b, Nhật ký trong tù lên án một chế độ xã hội đầy rẫy sự bất công:
Đó là xã hội mà quyền sống của con ngời không đợc đảm bảo, ngời lơng thiện vô
tội bị bắt giam bừa bãi:
Oa! Oa! Oa!
Gia phạ đơng binh cứu quốc gia;
Sở dĩ ngã niên tài bán tuế,
Yếu đáo ngục trung căn trớc ma.
Oa! Oa! Oa!
Cha sợ sung quân cứu nớc nhà;
Nên nỗi thân em vừa nửa tuổi
Phải theo mẹ đến ở nhà pha
(Cháu bé trong ngục Tân Dơng)
Nhân vật trong bài thơ là một em bé sáu tháng. Tiếng nói ở đây là tiếng khóc,
tiếng khóc tố cáo xã hội Trung Quốc. Đó là xã hội mà pháp luật trừng trị, hành hạ cả
những nạn nhân đáng thơng vô tội đáng lẽ phải đợc trân trọng, chăm sóc, yêu thơng.
Chế độ xã hội ấy, nền tảng pháp luật ấy mất đi bản chất nhân đạo và sự công bằng
Nhật ký trong tù là bản án đanh thép chế độ xã hội Tởng Giới Thạch.
1.2. Nhật ký trong tù chân dung tự họa Hồ Chí Minh:
Ai mở cuốn sách này sẽ gặp một con ngời. Câu nói ấy hoàn toàn đúng với
tập Nhật ký trong tù. Những lời đẹp đẽ ấy dờng nh nghĩ ra và viết riêng cho cuốn
Nhật ký trong tù .
1.2.1. Một con ngời bình thờng:
Đọc nhật ký trong tù ta bắt gặp một ngời tù nh bao nhiêu ngời tù bình thờng
khác. Ngời cũng phải chịu cảnh ăn đói:
Cháo tù lng bát thấm vào đâu
Bụng đói luôn cứ réo gào
(Cháo tù)
Ngời tù bị trói, bị cùm, bị xiềng xích:
Thiết thằng ngạnh thế ma thằng nhuyễn,
Bộ bộ đinh đang hoàn bội thanh;
Hôm nay xiềng xích thay dây trói,
Mỗi bớc leng keng tiếng ngọc rung
(Đi Nam Ninh)
Phải chịu cảnh mặc rét và bệnh tật hành hạ đến ốm nặng:
Lạc liễu nhất chích nha Răng rụng mất một chiếc
10
Chuyên đề: Nhật kí
trong tù
Phát bạch liễu hứa đa,
Hắc sấu tợng ngã quỷ
Toàn thân thị lại sa
Tóc bạc thêm mấy phần
Gầy đen nh quỷ đói
Ghẻ lở mọc đầy thân
(Bốn tháng rồi)
1.2.2 Nhật ký trong tù khắc họa chân dung một con ngời vĩ đại:
khiến nhiều đêm dài ngời không ngủ đợc nó luôn canh cánh thờng trực trong lòng
Ngời và vào cả trong giấc mộng:
Tứ, ngũ canh thì tài hợp nhãn
Mộng hồn hoàn nhiễu ngũ tiêm tinh.
Canh bốn canh năm vừa chợp mắt
Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh
11
Chuyên đề: Nhật kí
trong tù
(Không ngủ đợc)
Lòng yêu nớc có khi đợc thể hiện thành nỗi nhớ bạn, nhớ đồng chí da diết
bâng khuâng:
Tích quân tống ngã chí giang tân
Vấn ngã quy kỳ, chỉ cốc tân
Hiện tại tân điền dĩ lê hảo,
Tha hơng ngã tác ngục trung nhân.
Ngày đi, tiễn bạn đến bến sông
Hẹn ngày về khi lúa đỏ đồng
Nay gặt đã xong, cày đã khắp
Quê ngời tôi vẫn chốn lao lung.
(Nhớ bạn)
a.2.Niềm khao khát tự do cháy bỏng:
ở tù nỗi đau khổ lớn nhất của ngời là mất tự do là không đợc trực tiếp đấu
tranh giải phóng dân tộc. Ngời yêu tự do nh một lẽ sống cao cả nhất. Ngời thốt lên
đầy xót xa cay đắng:
Thế thợng thiên tân hòa vạn khổ,
Mạc nh thất khớc tự do quyền !
(Trên đời ngàn vạn điều cay đắng
Cay đắng chi bằng mất tự do )
(Cảnh binh khiêng lợn cùng đi)