Chính sách bảo vệ môi trường biển từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam (tt) - Pdf 47

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM NGỌC HÀ NY

CHÍNH SÁCH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành: Luật hiến pháp và Luật hành chính
Mã số: 60.38.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, năm 2017


Công trình được hoàn thành tại
Học viện Khoa học Xã hội

Người hướng dẫn khoa học: TS. LÊ THỊ THANH HÀ

Phản biện 1: .............................................................
Phản biện 2: ..............................................................

Luận văn sẽ được bảo vệ trước hội đồng chấm luận văn
thạc sĩ họp tại Học viện khoa học xã hội ....... giờ ...... ngày ......
tháng ..... năm 2017.

Có thể tìm hiểu luận văn tại
Thư viện Học viện Khoa học Xã hội

1


dựng cảng, trong đó, một số nơi có khả năng xây dựng cảng quy mô
tương đối lớn, kể cả cấp trung chuyển quốc tế. Tiềm năng tài nguyên
biển của nước ta tuy không được coi là vào loại giàu có của thế giới,
nhưng cũng rất đáng kể và có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sự
phát triển của đất nước.
Biển, đảo Việt Nam là địa bàn quan trọng trong phát triển kinh
tế đất nước. Hiện nay có trên 31% dân số cả nước sinh sống ở 28 tỉnh,
thành phố ven biển. Đa số các thành phố, thị xã đều nằm ở ven sông,
cách biển không xa, nhất là các thành phố, thị xã ở Trung Bộ nằm sát
ven biển, có đường quốc lộ 1A chạy qua. Khu vực ven biển cũng là
nơi tập trung các trung tâm công nghiệp lớn. Các tỉnh, thành phố ven
biển có các cảng, cơ sở sữa chữa, đóng tàu, đánh bắt hoặc chế biến hải
sản, làm muối… thu hút hơn 13 triệu lao động, giải quyết công ăn việc
làm, góp phần to lớn vào việc ổn định tình hình kinh tế, chính trị, xã
hội và an ninh quốc phòng.
Ý thức rõ vai trò to lớn của biển đối với sự sống cũng như phát
triển kinh tế - xã hội của nước ta, trong những năm đổi mới, Ðảng và
Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách, biện pháp quan
trọng nhằm quản lý, khai thác biển, phát triển kinh tế từ biển, đảo và
bảo vệ môi trường biển. Ngày 06-5-1993, Bộ Chính trị đã ra Nghị
quyết 03-NQ/TW về một số nhiệm vụ phát triển kinh tế biển. Chỉ thị
399, ngày 05-8-1993, về một số nhiệm vụ phát triển kinh tế biển trong
những năm trước mắt; Chỉ thị 171/TTg năm 1995 triển khai Nghị
quyết 03-NQ/TW. Ngày 22-9-1997, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số
20-CT/TW về đẩy mạnh phát triển kinh tế biển theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa. Thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị, một loạt
kế hoạch về phát triển kinh tế biển đã được thông qua, như: Chiến lược

sông suối, môi trường xung quanh.Vùng biển Cửa Đại, ngoài hiện
tượng nước biển dâng cao, xâm thực đất liền, còn tiếp nhận nguồn
nước ô nhiễm từ sông Vu Gia - Thu Bồn. Hoạt động khai thác, chế
3


biến khoáng sản sử dụng kim loại nặng và các hóa chất độc hại trên
thượng nguồn và một lượng nước thải không nhỏ xả ra từ các nhà máy
ở khu, cụm công nghiệp… là nguy cơ gây ô nhiễm môi trường biển
rất cao. Nguồn nước phía hạ lưu Thu Bồn bị đe dọa bởi tốc độ phát
triển công nghiệp, đô thị. Sông Vĩnh Điện có nồng độ dầu mỡ ở mức
cao, sông Hoài chảy qua Hội An, qua kết quả quan trắc các năm cho
thấy, ngoài chất rắn lơ lửng còn có nhiều thông số dầu mỡ, hàm lượng
Sắt, Amoni Photphat và vi sinh Coliform bị ô nhiễm từ sự phân bố dân
cư đông đúc cùng hệ thống nhà hàng, khách sạn ven sông dày đặc.
Nước biển khu vực cảng Cửa Đại, Cửa Lở có hàm lượng sắt đều vượt
giới hạn bình thường...
Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam thuộc Bộ TN&MT kiểm
kê tải lượng thải từ đất liền ra vùng biển ven bờ Quảng Nam - Đà Nẵng
cho thấy tổng lượng ô nhiễm hàng năm khoảng 92,6 nghìn tấn COD,
22,4 nghìn tấn BOD (Biochemical oxygen Demand- nhu cầu oxy sinh
hoá) là lượng oxy cần thiết để vi sinh vật oxy hoá các chất hữu cơ ),
hơn 428 nghìn tấn tổng chất rắn lơ lửng, gần 83 tấn hóa chất bảo vệ
thực vật và khoảng 430 tấn kim loại nặng các loại. Theo dự báo, nước
biển ven bờ sẽ chịu sự tác động nặng nề hơn do thu hút đầu tư xây
dựng và đưa vào khai thác các dự án du lịch ven biển.
Nguyên nhân dẫn tới ô nhiễm môi trường biển cả nước nói
chung và biển Quảng Nam nói riêng có nhiều. Nhưng một trong
những nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường biển tại Quảng
Nam là do việc thiếu chính sách bảo vệ môi trường biển, việc thực

- Nghiên cứu cơ sở lý luận của chính sách bảo vệ môi trường.
- Phân tích thực trạng thực hiện chính sách bảo vệ môi trường
ở tỉnh Quảng Nam trong những năm gần đây.
- Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính
sách bảo vệ môi trường tỉnh Quảng Nam hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
5


- Luận văn nghiên cứu việc thực hiện chính sách bảo vệ môi
trường ở tỉnh Quảng Nam hiện nay dưới góc độ chính sách công.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu việc thực hiện chính sách bảo vệ môi trường của
tỉnh Quảng Nam từ năm 2010 đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở lý luận: Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý
luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm,
đường lối của Đảng và chính sách pháp luật bảo vệ môi trường biển
của Nhà nước Việt Nam, của tỉnh Quảng Nam hiện nay.
5.2. Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương
pháp nghiên cứu định tính và định lượng:
+ Phương pháp phân tích và tổng hợp: được sử dụng để phân
tích thực trạng và đánh giá kết quả thực hiện chính sách bảo vệ môi
trường;
+ Phương pháp thống kê: được sử dụng để tập hợp thành các
chuỗi số liệu phản ảnh thực trạng, phục vụ cho việc phân tích và đánh
giá kết quả thực hiện chính sách bảo vệ môi trường biển.
+ Phương pháp quan sát thực địa: được sử dụng nhằm kiểm
nghiệm thực tế môi trường Biển ở địa bàn để nghiên cứu như một

vệ môi trường biển ở tỉnh Quảng Nam hiện nay.
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm bảo vệ môi trường
Vấn đề môi trường và bảo vệ môi trường chưa bao giờ nhân loại
nhắc đến nhiều như hiện này bởi nhân loại đang phải chứng kiến nhiều
thảm họa môi trường, sự cố môi trường, biến đổi khí hậu và những tác
7


hại của ô nhiễm môi trường gây ra cho con người trong thời gian gần
đây. Trước tình hình đó on người buộc phải bảo vệ môi trường.
Ở Việt Nam thuật ngữ bảo vệ môi trường được sử dụng lần đầu
tiên trong Pháp lệnh Bảo vệ rừng năm 1972. Nhưng do Việt Nam là
nước phải khắc phục nhiều ảnh hưởng của chiến tranh, là nước có nền
kinh tế chậm phát triển nên thời kỳ đó vấn đề bảo vệ môi trường chưa
đặt ra và ưu tiên giải quyết như những vấn đề khác. Đến năm 1998,
trước tình hình đất nước bị ô nhiễm môi trường do tác động của quá
trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Đảng ta đã ra Chỉ thị số
36/CT-TW ngày 25/6/1998 về tăng cường công tác bảo vệ môi trường
trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.. Nhưng do Việt
Nam là nước phải khắc phục nhiều ảnh hưởng của chiến tranh, là nước
có nền kinh tế chậm phát triển nên thời kỳ đó vấn đề BVMT chưa đặt
ra và ưu tiên giải quyết như những vấn đề khác. Đến năm 1998, trước
tình hình đất nước bị ô nhiễm môi trường do tác động của quá trình
CNH, HĐH đất nước Đảng ta đã ra Chỉ thị số 36/CT-TW ngày
25/6/1998 về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ
công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Chỉ thị khẳng định “Bảo vệ

1.3. Các bước thực hiện chính sách bảo vệ môi trường biển
Quá trình tổ chức thực hiện chính sách bảo vệ môi trường biển
diễn ra trong thời gian dài và có liên quan đến nhiều tổ chức, cá nhân
vì thế, để chính sách bảo vệ môi trường biển mang lại kết quả và hiệu
quả như mong muốn thì quá trình tổ chức thực hiện cần phải được thực
hiện thoe một quy trình khoa học, hợp lý và phù hợp với những điều
kiện khách quan của chính sách. Cụ thể các bước như sau:
Bước 1: Xây dựng chính sách bảo vệ môi trường biển trên cơ
sở chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước và thực tiễn của địa
phương
Bước 2: Lập kế hoạch về quản lý môi trường biển
Bước 3. Phổ biến, tuyên truyền chính sáchbảo vệ môi trường biển
Bước 4, Thực hiện và điều hành chính sách bảo vệ môi trường
9


biển
Bước 5: Kiểm tra và hành động khắc phục
Bước 6: Tổng kết việc thực hiện chính sách và rút bài học kinh
nghiệm
CHƯƠNG 2
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN Ở
QUẢNG NAM HIỆN NAY – THỰC TRẠNG VÀ
NGUYÊN NHÂN
2.1. Điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội Quảng
Nam tác động tới môi trường biển
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
2.2. Thực trạng thực hiện chính sách bảo vệ môi trường biển
ở tỉnh Quảng Nam hiện nay


3

4

5

6

7

Ký hiệu, thời điểm
ban hành
Số 4510/QĐUBND
ngày 24/11/2015
Số 1571/QĐUBND
ngày 17/5/2010
Số 2302/QĐUBND
ngày 23/7/2010

Văn bản

Phê duyệt quy hoạch mạng lưới quan trắc
môi trường tỉnh quảng nam giai đoạn 2016
-2020
Quyết định về việc Phê duyệt Chiến lược
BVMT tỉnh Quảng Nam đến năm 2015 và
định hướng đến năm 2020.
Quyết định về ban hành kế hoạch hành động
kiểm soát ô nhiễm môi trường trên địa bàn

tỉnh
UBND
tỉnh
UBND
tỉnh
UBND
tỉnh
UBND
tỉnh

(Nguồn tổng hợp của tác giả)
Quyết định số 1571/QĐ-UBND ngày 17/5/2010 của UBND
tỉnh Quảng Nam về việc Phê duyệt Chiến lược BVMT tỉnh Quảng
11


Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020.
Quyết định số 4510/QĐ-UBND ngày 24/11/2015 của UBND
tỉnh Quảng Nam về việc Phê duyệt quy hoạch mạng lưới quan trắc
môi trường tỉnh quảng nam giai đoạn 2016.
Quyết định số 3603/QĐ-UBND ngày 09 tháng 11 năm 2011của
UBND tỉnh Quảng Nam về việc phê duyệt kế hoạch hành động Đa dạng
sinh học tỉnh Quảng Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020.
2.3. Thành tựu trong BVMT biển tỉnh Quảng Nam hiện nay
Một là, nhận thức về bảo vệ môi trường của các cấp ủy, tổ chức
đảng và trong hệ thống chính trị được nâng lên rõ rệt
Hai là, ngăn ngừa, hạn chế tác động xấu đến môi trường nói
chung và môi trường biển nói riêng.
Ba là, cải thiện môi trường các khu công nghiệp, cụm công
nghiệp

thấy hết vai trò, trách nhiệm, tư tưởng xem nhẹ công tác bảo vệ môi
trường còn khá phổ biến. Ý thức, trách nhiệm về bảo vệ môi trường
của một bộ phận nhân dân và nhiều doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh
doanh còn hạn chế.
- Hạn chế trong thực hiện và điều hành chính sách. Hệ thống
tổ chức bộ máy, cán bộ làm công tác bảo vệ môi trường cấp huyện, xã
còn bất cập. Cấp huyện, định mức cán bộ còn thấp, đa số chưa được
đào tạo đúng chuyên ngành. Cấp xã, hầu hết phân công cán bộ địa
chính, xây dựng kiêm nhiệm. Nhiều xã, chưa thể hiện rõ việc phân
công, theo dõi đôn đốc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường. Đa số
các cơ sở sản xuất quy mô vừa và nhỏ chưa có cán bộ chuyên trách
bảo vệ môi trường, chỉ phân công cán bộ kiêm nhiệm, không đúng
chuyên môn và thường không ổn định. Cán bộ kiêm nhiệm bảo vệ môi
trường chưa dành thời gian đúng mức cho công việc.
- Hạn chế trong kiểm tra và hành động khắc phục:Công tác
quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của nhiều đơn vị chưa chặt
chẽ, hiệu lực, hiệu quả chưa cao(Còn thiếu dữ liệu về quản lý khai thác
13


bền vững tài nguyên nước, thiếu thông tin và dữ liệu về tài nguyên,
môi trường biển và một số lĩnh vực liên quan. Công tác đo, vẽ, thành
lập bản đồ địa chính tỷ lệ 1/10.000 đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh
kết quả đạt thấp có ảnh hưởng nhất định đến công tác quản lý và phát
triển rừng. Đến nay, mới thực hiện xong được 38 xã, phường, thị trấn
tại 04 huyện, thành phố là: Tam Kỳ, Núi Thành, vùng Đông huyện
Thăng Bình và Duy Xuyên; còn lại 14 huyện, thành phố khác chưa
được triển kha). Việc quản lý, theo dõi các doanh nghiệp bị ô nhiễm
môi trường nghiêm trọng trên địa bàn tỉnh chưa chặt chẽ. Công tác lưu
trữ hồ sơ, văn bản chỉ đạo về bảo vệ môi trường ở cấp cơ sở còn hạn

Nguồn vốn đầu tư bảo vệ môi trường hiện nay chủ yếu từ ngân sách
nhà nước. Một số địa phương sử dụng kinh phí bảo vệ môi trường chưa
hợp lý, mới giải quyết được những việc cụ thể, trước mắt, chưa tập
trung cho việc xây dựng các công trình xử lý, cải tạo môi trường, tuyên
tuyền, phổ biến pháp luật. Tiến độ thi công, thanh toán các công trình
được cấp kinh phí theo dự án bảo vệ môi trường còn chậm so với yêu
cầu. Cấp huyện thiếu trang thiết bịcần thiết phục vụ quan trắc, giám
sát, kiểm tra môi trường.
Hiện nay, một số vấn đề liên quan đến bảo vệ môi trường còn
nhiều khó khăn, bất cập: Ứng phó với biến đổi khí hậu là lĩnh vực mới,
còn thiếu kinh nghiệm và nguồn lực; năng lực cảnh báo, dự báo thiên
tai còn hạn chế. Mạch nước ngầm nhiều nơi bị khai thác quá mức phục
vụ phát triển công nghiệp, nuôi trồng thủy sản đã bị cạn kiệt và ô
nhiễm.Tình trạng khai thác lâm, khoáng sản trái phép đã làm mất rừng,
là nguyên nhân của sạt lở núi, lũ quét. Việc xử lý các hóa chất độc hại
trong khâu chế biến quặng cùng việc tồn dư và tích tụ các hóa chất độc
hại dùng trong sản xuất nông nghiệp đã và đang làm ô nhiễm nghiêm
trọng môi trường đất và nước. Thói quen sinh hoạt chưa hợp vệ sinh,
việc chăn thả gia súc, gia cầm, vứt rác, xả nước, xử lý rác thải chưa
đúng quy định đã góp phần gây nên ô nhiễm môi trường tại các địa
bàn dân cư.
15


CHƯƠNG 3
MỘT SỐ QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN THỰC HIỆN
HIỆU QUẢ CHÍNH SÁCH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN Ở
TỈNH QUẢNG NAM HIỆN NAY
3.1. Quan điểm thực hiện hiệu quả chính sách bảo vệ môi
trường biển ở Quảng Nam hiện nay

nhiều những bộ phận thân thể của nó như động, thực vật, đất đai,
khoáng chất... chính trong quá trình đó con người đã làm thay đổi giới
tự nhiên. Có thể nói rằng, những biến đổi dù to hay nhỏ trong môi
trường tự nhiên đều do quá trình tăng trưởng kinh tế đem lại. Vì mục
đích phát triển kinh tế ấy, con người đã tác động đến môi trường tự
nhiên theo hai hướng có lợi hoặc có hại.Nếu hành động đúng quy luật,
con người sẽ tạo ra hướng có lợi cho môi trường tự nhiên. Trong quá
trình thúc đẩy kinh tế tăng trưởng, con người đã tác động vào tự nhiên,
ít nhiều cũng đã cải tạo môi trường tự nhiên, nâng cao sự hiểu biết sâu
hơn về giới tự nhiên và đặc biệt là có thể tạo ra điều kiện vật chất để
cải tạo, tái tạo môi trường tự nhiên.Sự tăng trưởng kinh tế trên cơ sở
áp dụng những thành tựu khoa học, kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào
sản xuất đã phần nào đó loại trừ được những hậu quả không mong
muốn do sự tác động không kiểm soát được của con người gây ra cho
tự nhiên. Chẳng hạn, việc dùng lưới chuyên biệt để khai thác thủy hải
sản đã loại trừ ra được những loại nhỏ để bảo đảm cân bằng môi trường
biển và tạo vốn cho lần đánh bắt sau. Hơn nữa, chính sự tăng trưởng
kinh tế sẽ tạo tiền đề vật chất để xử lý các sự cố môi trường, đảm bảo
cho môi trường trong sạch. Ở chiều ngược lại, con người tác động vào
tự nhiên không theo quy luật như khai thác tài nguyên thiên nhiên,
khoáng sản quá mức sẽ làm cho môi trường tự nhiên mất cân bằng,
ngày càng nghèo nàn, kiệt quệ, sự cân bằng sinh thái sẽ bị phá vỡ và
tự nhiên sẽ “trả thù” con người. Như vậy, giữa tăng trưởng kinh tế và
17


bảo vệ môi trường tự nhiên vừa có sự thống nhất, vừa có sự mâu thuẫn.
Sự thống nhất và mâu thuẫn đó đều thể hiện ở nền sản xuất xã hội.
Con người không ngừng sản xuất ra của cải vật chất. Mọi của cải vật
chất mà con người sản xuất ra xét đến cùng bằng cách này hay cách

giảm nghèo; Từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng;
Phải rất coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường ngay trong từng bước
phát triển... Với chiến lược phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền
vững, Đảng ta đề ra các quyết sách gắn nhiệm vụ bảo vệ môi trường
với phát triển kinh tế-xã hội; Đổi mới cơ chế quản lý tài nguyên và
bảo vệ môi trường; Thực hiện nghiêm lộ trình xử lý các cơ sở gây ô
nhiễm môi trường. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ môi
trường; xây dựng chế tài đủ mạnh để ngăn chặn, xử lý các hành vi vi
phạm. Khắc phục suy thoái, khôi phục và nâng cao chất lượng môi
trường; Thực hiện tốt chương trình trồng rừng, ngăn chặn có hiệu quả
nạn phá rừng, cháy rừng; tăng diện tích các khu bảo tồn thiên nhiên;
Khai thác có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, bảo đảm môi trường và
cân bằng sinh thái; Chú trọng phát triển kinh tế xanh, thân thiện với
môi trường; Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, dự báo, đánh giá tác động
để triển khai thực hiện có hiệu quả các giải pháp phòng, chống thiên
tai và Chương trình quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, nhất là
nước biển dâng; Tăng cường hợp tác quốc tế để phối hợp hành động
và tranh thủ sự giúp đỡ của cộng đồng quốc tế cho công tác bảo vệ tài
nguyên và môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu. Nhà nước tăng
đầu tư đồng thời có các cơ chế, chính sách ưu đãi để đẩy mạnh xã hội
hóa, huy động các nguồn lực bảo vệ môi trường. Đảng ta đề ra mục
tiêu phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công
nghiệp theo hướng hiện đại. Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong
nước (GDP) đạt bình quân 7-8%/năm. GDP bình quân đầu người đạt
khoảng 3000-3200 USD. Đến năm 2020, có một số lĩnh vực khoa học,
công nghệ, giáo dục, y tế đạt trình độ tiên tiến, hiện đại; cải thiện chất
lượng môi trường; chủ động ứng phó có hiệu quả với thiên tai, biến
19





sách của đội ngũ CBCC tham gia thực hiện chính sách quyết định chất
lượng, hiệu quả của việc thực hiện chính sách. Do đó, muốn nâng cao
hiệu quả, chất lượng thực hiện chính sách bảo vệ môi trường cần phải
có các giải pháp đồng bộ nâng cao năng lực thực hiện chính sách của
đội ngũ CBCC tham gia thực hiện chính sách.
Năng lực, khả năng làm việc của CBCC được hội tụ bởi ba yếu
tố là: kiến thức, kỹ năng và thái độ của CBCC trong thực thi công vụ.
Kiến thức là sự hiểu biết, là những thông tin hữu ích công chức cần
hiểu và ghi nhớ để phục vụ tốt cho công việc.Kỹ năng là khả năng
chuyển kiến thức thành hành động để kết quả đạt được như mong
muốn.Thái độ là ý thức, thái độ đối với công việc và trong các mối
quan hệ với con người.Nói một cách ngắn gọn, năng lực là khả năng
làm việc tốt nhờ phẩm chất và trình độ chuyên môn.
3.2.2.1. Năng lực xây dựng chính sách bảo vệ môi trường biển
3.2.2.2. Năng lực phổ biến, tuyên truyền chính sách bảo vệ môi
trường biển
3.2.2.3. Năng lực phân công, phối hợp thực hiện chính sách
BVMT biển
3.2.2.4. Năng lực duy trì chính sách bảo vệ môi trường biển
3.2.2.5. Năng lực điều chỉnh chính sách bảo vệ môi trường biển
3.2.2.6. Năng lực theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện
chính sách bảo vệ môi trường biển
3.2.2.7. Năng lực đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm việc thực
hiện chính sách bảo vệ môi trường biển
3.2.3 Khắc phục tình trạng ô nhiễm và suy thoái môi trường
biển nghiêm trọng và tăng cường kiểm soát, ngăn ngừa các nguồn
ô nhiễm biển
Để giải quyết vấn đề ô nhiễm biển có nguồn gốc từ biển và từ

biển và nâng cao nhận thức cho người dân ven biển về tầm quan
trọng của việc bảo vệ môi trường biển
Thực tế cho thấy lâu nay đa số dân cư ở vùng ven biển thường
22


nghèo và sống phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn lợi biển. Để giảm thiểu
áp lực đối với nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, việc chú
trọng tăng cường áp dụng các giải pháp dựa vào thị trường trong quản
lý tài nguyên đồng thời chú trọng các giải pháp chuyển đổi nghề
nghiệp, đảm bảo sinh kế bền vững cho cộng đồng dân cư ven biển
cũng được tỉnh hết sức quan tâm. Đến nay, tại địa phương đã có nhiều
họat động, chương trình đa dạng sinh kế bền vững cho cư dân ven biển
được triển khai như đào tạo nghề thủ công mỹ nghệ; hỗ trợ nuôi trồng
thủy sản bền vững, xây dựng chương trình du lịch sinh thái gắn với
các khu bảo tồn biển, đào tạo nghề hướng dẫn viên du lịch cho cộng
đồng dân cư… và đã thu được những kết quả đáng khích lệ, ví dụ như
tại Cù Lao Chàm, số liệu thống kê cho thấy các loại hải sản trên đảo
đã được dán nhãn và chỉ khai thác khi đạt kích thước cho phép, nguồn
lợi thủy sản đang được phục hồi, việc thành lập khu bảo tồn biển Cù
Lao Chàm đã tạo ra nhiều cơ hội việc làm trong lĩnh vực du lịch cho
cư dân ven biển, đồng thời ý thức của người dân đã được tăng cao góp
phần bảo vệ môi trường và hệ sinh thái khu vực.
KẾT LUẬN
Tỉnh Quảng Nam là một tỉnh có 125 km bờ biển với nhiều bãi
tắm đẹp lý tưởng như: Hà My, An Bàng, Cửa Đại, Bình Minh, Tam
Thanh, Biển Rạng và các địa điểm du lịch nổi tiếng như Hội An, Tháp
Chàm Mỹ Sơn hiện nay tỉnh đang tập trung ưu tiên phát triển các làng
nghề du lịch cộng đồng hiện trạng nơi đâu ở Quảng Nam cũng có các
bãi biển dài hoang sơ, tràn đầy gió và ánh nắng mặt trời, các bãi tắm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status