Một số biện pháp giúp học sinh “Tìm thành phần chưa biết” trong dạy học Toán 4
LỜI GIỚI THIỆU
------
Các bạn đồng nghiệp thân mến!
Trong tất cả các môn học ở bậc Tiểu học nó mang lại một nội dung giáo dục
có tính chất thời đại. Nội dung ở bậc “Tiểu học” là một nội dung giáo dục toàn
diện. Phần lớn là nội dung có phần ổn định và vững chắc. Môn học nào cũng được
coi là cần thiết và quan trọng. Song môn Toán là một môn học mà nó đòi hỏi người
học phải có những kỹ năng cần thiết, có tư duy, sáng tạo trong học tập thì mới đạt
hiệu quả cao.
Là người giáo viên tiểu học, mỗi chúng ta phải có trách nhiệm với kết quả
học tập của các em. Trong quá trình dạy học, chúng ta phải luôn luôn tìm kiếm,
phát hiện những mặt mạnh, điểm yếu của học sinh. Để chúng ta phát huy mặt
mạnh cũng như giúp đỡ, đề ra những biện phap, giải pháp khắc phục những điểm
yếu. Tạo điều kiện cho các em dần thoát ra tình trạng yếu kém, tình trạng chóng
quên, nhầm lẫn,…là yêu cầu lâu dài có tính liên tục của giáo viên, đặc biệt là giáo
viên chủ nhiệm.
Năm học 2012-2013, tôi được phân công dạy lớp 4A. Qua thời gian đầu dạy
môn Toán, tôi thấy việc học của các em còn rất nhiều hạn chế trong quá trình tiếp
thu bài nói chung và đặc biệt là khi dạy đến các bài có dạng “Tìm thành phần chưa
biết” đa số các em bị nhầm lẫn và hay đưa ra cách làm chưa đúng. Một trong
những điều cần thiết để giúp các em làm đúng các bài tập về “Tìm thành phần chưa
biết” trong học Toán 4, tôi đã nghiên cứu đề tài: Một số biện pháp giúp học sinh
“Tìm thành phần chưa biết” trong dạy học Toán 4. Rất mong được sự ủng hộ và
góp ý của quý cấp lãnh đạo và bạn bè đồng nghiệp. Tôi xin chân thành cảm ơn!
------------------------
Người thực hiện: Vũ Thị Mai
1) Mục tiêu: Muốn giúp học sinh có cách học, cách phân biệt, cách nhớ tốt
nhất khi làm các dạng bài tập “Tìm thành phần chưa biết” trong học Toán 4.
2) Nhiệm vụ:
Người thực hiện: Vũ Thị Mai
2
Một số biện pháp giúp học sinh “Tìm thành phần chưa biết” trong dạy học Toán 4
- Tôi đã tìm hiểu cơ sở lý luận khoa học và cơ sở thực tiễn cho việc thực
hiện đề tài: Một số biện pháp giúp học sinh “Tìm thành phần chưa biết” trong dạy
học Toán 4.
- Phân tích thực trạng và nguyên nhân thực trạng dẫn đến việc của học sinh
lớp 4A khi làm các bài tập dạng “Tìm thành phần chưa biết” trong dạy học Toán 4.
- Đề xuất các phương pháp, giải pháp để giúp học sinh làm các dạng bài
tập “Tìm thành phần chưa biết” trong dạy học Toán 4.
- Từ thực trạng và kết quả nghiên cứu tìm ra những nguyên nhân ảnh hưởng
đến việc truyền thụ một số biện pháp giúp học sinh “Tìm thành phần chưa biết”
của giáo viên trong quá trình dạy Toán 4.
III - ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
Một số biện pháp giúp học sinh “Tìm thành phần chưa biết” trong học Toán
lớp 4A trường Tiểu học Lý Thường Kiệt.
IV - GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
- Đề tài này tôi chuyên sâu nghiên cứu về thực trạng và những đề xuất một số
biện biện pháp giúp học sinh “Tìm thành phần chưa biết” trong học Toán của học
sinh lớp 4A trường TH Lý Thường Kiệt – Huyện CưMgar, năm học 2012-2013.
- Rút ra bài học kinh nghiệm cùng với kết quả nghiên cứu của đề tài.
- Thời gian thực hiện nghiên cứu và áp dụng từ tháng 9/2012 đến cuối tháng
3/2013.
V - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
dục văn minh, hiện đại – Một nền giáo dục mới – Một nền giáo dục Xã hội chủ
nghĩa? Muốn vậy người giáo viên phải không ngừng học tập, sáng tạo trau dồi kiến
thức, tìm tòi nghiên cứu, tích lũy kinh nghiệm để giúp các em giải quyết những vấn
đề cần hiểu được và tìm ra cách giải quyết một cách nhanh chóng nhất.
Lứa tuổi học sinh ở bậc tiểu học, đa phần là các em chỉ làm theo thói quen,
theo khuôn mẫu. Các em tiếp thu nhanh nhưng cũng quên nhanh. Trong học Toán
nói chung và đặc biệt là làm những dạng bài tập “Tìm thành phần chưa biết” nói
riêng, các em hay rất dễ nhầm lẫn, mà trong Toán học “nhầm” là sai kết quả. Dạng
Toán này các em được hình thành từ khi học chương trình Toán lớp 2, lớp 3 lên
đến lớp 4 chỉ là áp dụng, do đó thời gian đã làm cho các em dễ quên, ghi nhớ một
cách hời hợt, nhớ lan man, không chính xác, đôi khi còn bịa đặt cách tính,…Dẫn
Người thực hiện: Vũ Thị Mai
4
Một số biện pháp giúp học sinh “Tìm thành phần chưa biết” trong dạy học Toán 4
đến các em khi làm dạng Toán này rất khó khăn, phần lớn là làm chưa đúng. Vì
vậy để cho các em làm quen, tiếp thu và nắm được bài một cách chắc chắn không
phải là dễ. Người giáo viên cần phải làm thế nào để truyền đạt cho các em hiểu bài,
nắm được bài, có tư duy sáng tạo, có những biện pháp, giải pháp rõ ràng, cụ thể, dễ
nhớ và nhớ một cách chắc chắn trong khi làm các dạng bài tập “Tìm thành phần
chưa biết” trong học Toán 4? Để trả lời cho câu hỏi này, tôi thấy rằng việc áp dụng:
Một số biện pháp giúp học sinh “Tìm thành phần chưa biết” trong dạy học
Toán 4 là rất quan trọng. Tôi rất tâm đắc khi sử dụng những biện pháp này. Qua đó
đã khơi dậy các em niềm tin, sự say mê, hứng thú, phấn khởi, tự tin khi làm các bài
tập dạng “Tìm thành phần chưa biết”.
2 - Cơ sở thực tiễn:
Trong thực tế các giờ dạy và học Toán của Lớp 4 nói chung, lớp 4A nói
riêng, khi dạy đến các dạng toán “Tìm thành phần chưa biết”. Thành phần chưa
- Có một số gia đình con đông. Đa phần cha mẹ học sinh đều làm nông, ít có
thời gian quan tâm đến việc học của con em mình.
- Mặt khác nhiều em có hoàn cảnh khó khăn về kinh tế, hoặc thiếu thốn về
tình cảm gia đình, cha hoặc mẹ chưa dạy con đúng mực, dẫn đến các em lơ là, sao
lãng, ham chơi, không học bài ở nhà, không bao giờ nhắc nhở con em mình ôn
luyện lại các kiến thức học ở những năm trước,…Vì vậy mà đến giờ học Toán nói
chung, khi làm các dạng bài “Tìm thành phần chưa biết” nói riêng, thì điều các em
làm chưa đúng, không nhớ chắc cách làm là tất nhiên.
- Giáo viên chủ nhiệm nhà ở xa trường, đi lại khó khăn, thời gian hạn hẹp
ít có điều kiện đi đến tận nhà các em để động viên, giúp đỡ.
* Điều tra thực trạng
Ngay từ đầu năm học, để nắm được tình hình học sinh làm các bài tập dạng
“Tìm thành phần chưa biết”, tôi đã khảo sát bằng một bài kiểm tra về các dạng bài
“Tìm thành phần chưa biết” đó là: Tìm số hạng, tìm số bị trừ, tìm số trừ, tìm thừa
số, tìm số bị chia, tìm số chia để nắm kết quả của học sinh làm từng dạng bài trước
khi áp dụng đề tài như sau:
Đề ra:
Bài 1) X + 80 = 92;
Bài 2)X - 27 = 50;
Bài 3) 78 – X = 30
Bài 4) X x 9 = 81;
Bài 5) X : 7 = 56;
Bài 6) 48 : X = 8
Người thực hiện: Vũ Thị Mai
6
(44,4%)
15
(29,6%)
19
đúng
(14,8%) (63,0%)
(37,0)
(22,2%)
(55,6%)
(70,4%)
Số HS làm đúng
Bài 1
23
Bài 2
10
Kết quả trên cho thấy số học sinh làm đúng bài 1 (tìm số hạng); bài 4 (tìm
thừa số) chiếm tỉ lệ cao, dạng bài này các em vẫn dễ xác định. Số học sinh làm
Ngoài những thành công trên, còn có những mặt hạn chế nhất định, đó là:
- Thực tế trong lớp vẫn còn một số học sinh tiếp thu bài ở mức độ rất
chậm, các em chưa thực sự chú ý, còn lơ là, hời hợt, hay quên.
- Mặt khác có số ít các em không có cả năng tiếp thu hoặc tiếp thu rất
chậm, nói đi nói lại nhiều lần nhưng vẫn ghi nhớ được rất ít. Do đó mà tỉ lệ làm bài
chưa đúng vẫn còn chiếm rất cao.
- Một số em khả năng giao tiếp kém, nên trong quá trình học giáo viên trao
đổi hoặc nêu câu hỏi về kiến thức kiểm tra xem em có hiểu hay không thì các em
không trả lời (Biết cũng không nói, không biết cũng không nói). Các em chưa tự
tin, mạnh dạn trong trình bày ý kiến của mình. Ngược lại trốn tránh, mặc cảm, nhút
nhát, sợ sệt.
- Giờ học Toán luôn bị áp lực về thời gian, nhất là khi gặp những trường
hợp các em vận dụng kiến thức của các năm học lớp 2, 3 để làm bài mà các em lại
quên, giáo viên phải ôn lại, giải thích, giảng lại, với từ 35 đến 40 phút thì quả là
một áp lực không nhỏ.
- Giáo viên chủ nhiệm chưa có nhiều thời gian để giúp đỡ các em học yếu
như mong muốn, do trong năm học còn phải tham gia rất nhiều phong trào, các
hoạt động khác.
c) Mặt mạnh – mặt yếu:
* Mặt mạnh:
- Tôi là một giáo viên đã giảng dạy khối lớp 4 liên tục được 8 năm, do đó
tôi cũng có nhiều cơ hội để đúc rút kinh nghiệm, học hỏi, trau dồi trình độ chuyên
môn nghiệp vụ trong công tác giảng dạy của mình.
- Ngay từ đầu năm tôi đã nhận thấy đa số các em học sinh của lớp ngoan,
vâng lời luôn có sự phấn đấu. Nhất là giờ học Toán, các em có niềm say mê, thích
Người thực hiện: Vũ Thị Mai
8
Người thực hiện: Vũ Thị Mai
9
Một số biện pháp giúp học sinh “Tìm thành phần chưa biết” trong dạy học Toán 4
- Học sinh của lớp tôi đang chủ nhiệm hầu hết sống trong môi trường là
vùng nông thôn, nên suy nghĩ và nhận thức của các em còn thấp. Phụ huynh có
những suy nghĩ hạn hẹp, cho rằng việc học là trách nhiệm của giáo viên, là ở trên
lớp, nên ít nhắc nhở con em mình học bài, ôn bài ở nhà, hoặc bảo con học thì cũng
không biết con có học hay không?. Trình độ học vấn của họ cũng hạn chế, có
những phụ huynh còn không biết chữ, huống chi là dạy con học.
- Điều kiện học ở nhà của các em còn thiếu thốn. Thiếu sự hướng dẫn bảo
ban của cha mẹ. Có những em cha mẹ đi làm xa, ở nhà các em tự ăn, tự học, nên
thiếu thốn về vật chất, góc học tập chưa phù hợp hoặc có em không có. Mặt khác
kiến thức lớp dưới các em học xong rồi quên, không nắm chắc để áp dụng, có
nhiều em không còn nhớ một nội dung gì ở dưới lớp 1, lớp 2, lớp 3 mà mình đã
học.
- Về phía giáo viên thì chưa nắm bắt hết tâm lý của học sinh, điều kiện
thời gian không cho phép để quan tâm sát sao đến từng học sinh. Một bài Toán
dạng “Tìm thành phần chưa biết” đặt ra những câu hỏi theo thứ tự, khuôn mẫu, khi
hỏi các em điều gì là yêu cầu các em trả lời được, mà các em không có khả năng
hình dung, suy nghĩ như mình mong muốn. Có khi người giáo viên không kiềm
chế được sự bức xúc, nên dẫn đến nóng nảy, bực tức trước học sinh, điều này làm
cho các em sợ hãi, mất bình tĩnh khi làm bài. Đôi khi các em trả lời chưa đúng thì
bỏ qua, gọi em khác trả lời là xong, chưa thực sự quan tâm đến việc tại sao các em
trả lời chưa đúng?. Chính vì vậy tôi cảm thấy trong giờ học Toán dạng “Tìm thành
phần chưa biết” gặp rất nhiều khó khăn đối với học sinh của lớp mình đang giảng
dạy. Chắc chắn là ảnh hưởng đến kết quả của cả môn học nếu tình trạng này cứ
tiếp diễn.
* BẢNG CÔNG THỨC “TÌM THÀNH PHẦN CHƯA BIẾT”:
1) X + A = B ; X = B – A (Ví dụ: X + 10 = 15 ; X = 15 – 10 ; X = 5)
2) X – A = B ; X = B + A (Ví dụ: X – 10 = 5 ; X = 5 + 10 ; X = 15)
3) A – X = B ; X = A – B (Ví dụ: 15 – X = 10 ; X = 15 – 10 ; X = 5)
4) X x A = B ; X = B : A (Ví dụ: X x 10 = 20 ; X = 20 : 10 ; X = 2)
5) X : A = B ; X = A x B (Ví dụ: X : 2 = 10 ; X = 2 x 10 ; X = 20)
6) A : X = B ; X = A : B (Ví dụ: 20 : X = 10 ; X = 20 : 10 ; X = 2)
Với bảng công thức đơn giản và dễ hiểu trên tôi còn lưu ý thêm cho các em
các cặp công thức cần chú ý phân biệt, đó là: 2) và 3) ; 5) và 6). Rồi cho các em
Người thực hiện: Vũ Thị Mai
11
Một số biện pháp giúp học sinh “Tìm thành phần chưa biết” trong dạy học Toán 4
học thuộc, khi làm các bài toán có liên quan các em có thể lấy ra xem nó ở dạng
nào thì áp dụng, cứ như thế các em ngày càng nắm được và dễ nhớ.
b) Xác định tên gọi thành phần và cách tìm thành phần chưa biết của các
phép tính: Tôi đưa ra các công thức ứng với các phép tính, rồi yêu cầu học sinh
xác định tên gọi thành phần của các phép tính, trả lời cách tìm thành phần chưa
biết như sau:
* Xác định tên gọi thành phần trong bài (tìm số hạng chưa biết):
X+A= B
- X gọi là gì ? (X gọi là số hạng chưa biết)
- Muốn tìm số hạng chưa biết ta làm thế nào? (Ta lấy tổng trừ đi số hạng đã
biết).
* Xác định tên gọi thành phần trong bài (tìm số bị trừ, số trừ):
X–A= B
- X gọi là gì? (X: gọi là số bị trừ)
áp dụng theo cách vừa rồi là: X = 845 – 678, X = 167.
+ Ví dụ 2: X – 756 = 214. Tôi cũng chuyển về bài toán dễ như trên, đó là:
X – 3 = 5, Học sinh sẽ làm được ngay X = 5 + 3, X = 8. Vậy bài X – 756 = 214 ta
làm thế nào?, Học sinh sẽ áp dụng X = 214 + 756, X = 970.
+ Ví dụ 3: 825 – X = 362 (Không liên quan đến ví dụ 2, tránh để các em “rập
khuôn”), tôi đưa về ví dụ: 10 – X = 5, X = 10 – 5, X = 5, Các em áp dụng và sẽ
làm: X = 825 – 362, X = 463
+ Ví dụ 4: X x 8 = 208, tôi chuyển sang ví dụ: X x 5 = 15, các em tìm được
X = 15 : 5, X = 3. Vậy ta sẽ làm bài trên, học sinh sẽ làm: X = 208 : 8, X = 26, như
vậy với bài này các em không thể nhầm lẫn là: X = 208 x 8 được (Tôi lưu ý các em
thêm).
+ Ví dụ 5: X : 7 = 43, tôi chuyển sang ví dụ: X : 2 = 3, các em sẽ làm:
X = 3 x 2, X = 6. Vậy ta làm bài trên: X : 7 = 43, X = 43 x 7, X = 301.
+ Ví dụ 6: 144 : X = 9, tôi chuyển sang ví dụ: 8 : X = 2, các em sẽ thực hiện
ngay: X = 8 : 2, X = 4. Vậy ta sẽ thực hiện làm bài 144 : X = 9, X = 144 : 9,
X = 16.
Cách thức tôi đưa ra như trên, xem như là một kinh nghiệm khi gặp các dạng
bài tập “Tìm X” (Kể cả bốn phép tính: cộng, trừ, nhân, chia).
d) Thường xuyên ôn luyện: Những em khi làm dạng toán này, thường xuyên
bị nhầm lẫn, khuôn mẫu, mặc dù là một kết quả vô lý mà vẫn không hề hay biết, là
Người thực hiện: Vũ Thị Mai
13
Một số biện pháp giúp học sinh “Tìm thành phần chưa biết” trong dạy học Toán 4
những em tiếp thu bài chậm. Việc giao tiếp với cô giáo, bạn bè còn rụt rè, sợ sệt.
Các hoạt động học hàng ngày diễn ra chậm chạp. Những học sinh này giáo viên
phải lưu tâm rất nhiều.Trong giờ học giáo viên thường xuyên cho các em nhắc lại
câu trả lời đúng của bạn nhiều lần, gọi các em lên bảng làm bài nhiều hơn. Giờ ra
Một số biện pháp giúp học sinh “Tìm thành phần chưa biết” trong dạy học Toán 4
x = 65
Hoặc giáo viên đưa ra một ví dụ khác.
Tìm y:
81 : y = 9
Giáo viên cũng viết sẵn phép toán vào bông hoa rồi gắn lên bảng.
Gọi một em đọc phép toán trên.
Giáo viên hỏi:
+ Số phải tìm trong phép tính này có tên là gì? (là số chia)
+ Em nào nêu nhanh cách tìm số chia? (muốn tìm số chia ta lấy số bị chia
chia cho thương)
Giáo viên gọi tiếp học sinh lên bảng giải phép toán :
81 : y = 9
y = 81 : 9
y=9
Tương tự như thế tôi đã áp dụng để rèn luyện kĩ năng cho các em nhớ lâu
tên các thành phần trong phép toán và biết cách giải với những phép toán dạng tìm
thành phần khác.
g) Phối kết hợp giữa gia đình và giáo viên chủ nhiệm: Tôi đã thường xuyên
liên lạc với gia đình, gặp trực tiếp bố hoặc mẹ các em để cùng phối hợp giáo dục
các em. Tôi đã đưa ra một số ý kiến, phương pháp, hướng dẫn phụ huynh giúp các
em trong việc học tập ở nhà, nhất là thường xuyên ôn lại những kiến thức đã học ở
những lớp 1, 2, 3 (Cụ thể là: Các bảng nhân, bảng chia; tên gọi các thành phần của
bốn phép tính; cách tìm thành phần chưa biết,…). Việc kết hợp giữa giáo viên và
cha mẹ học sinh trong việc giáo dục các em là điều hết sức cần thiết và mang lại
kết quả tốt đối với việc học tập của các em.
h) Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh: Ngoài yếu tố kết hợp giữa gia đình
và giáo viên chủ nhiệm, điều quan trọng không thể coi nhẹ đó là tinh thần đoàn kết
tập thể lớp. Giáo viên thường xuyên giáo dục cho các em có tình thương yêu các
bạn trong lớp như anh em trong một gia đình. Luôn sẵn sàng giúp đỡ bạn khi bạn
trưng môn học tâm lý của học sinh và trang thiết bị của nhà trường, sự chuẩn bị
chu đáo của giáo viên khi lên lớp.
- Ngôn ngữ dùng trong việc truyền đạt cần ngắn gọn, dễ hiểu. Sử dụng sơ đồ
đơn giản để minh họa (Về thay thế X bằng số, số bằng chữ). Những câu hỏi gợi mở
cần phải rõ ràng, dễ hiểu.
Người thực hiện: Vũ Thị Mai
16
Một số biện pháp giúp học sinh “Tìm thành phần chưa biết” trong dạy học Toán 4
- Các bảng công thức dùng kí hiệu dễ nhớ, ngắn gọn, chặt chẽ.
- Các phương pháp, biện pháp trên được sử dụng một cách linh hoạt, không
nhất thiết phải theo thứ tự trước, sau mà sử dụng bất kỳ lúc nào nếu gặp dạng bài
tập “Tìm thành phần chưa biết”. Dựa vào quá trình tiếp thu, diễn đạt của học sinh
mà áp dụng, sao cho giờ học Toán đem lại hiệu quả cao nhất.
IV- KẾT QUẢ THU ĐƯỢC QUA KHẢO NGHIỆM, GIÁ TRỊ KHOA HỌC
CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:
Sau khi áp dụng một số biện pháp giúp học sinh “Tìm thành phần chưa biết”
trong dạy học Toán của lớp 4A, từ đầu năm cho đến đầu tháng 3/2013, tôi đã khảo
nghiệm bằng một bài kiểm tra (Dạng phân số) để xem tình hình học và mức độ tiếp
thu của học sinh như sau:
Đề bài:
Bài 1) X +
7
6
= ;
8
5
16
6
Bài 6)
22
6
:X=
18
7
KẾT QUẢ SAU KHẢO NGHIỆM:
TS HS: 28(1KT)
Bài 1
25
Bài 2
16
Bài 3
14
Bài 4
22
Bài 5
18
Bài 6
(18,5%)
(33,3%)
(51,9%)
Số HS làm đúng
Kết quả trên cho thấy, quá trình vận dụng Một số biện pháp giúp học sinh
“Tìm thành phần chưa biết” trong học Toán 4, đã phần nào giúp các em có tiến bộ
hơn, tỉ lệ làm đúng các dạng bài (Tìm số bị trừ, số trừ, số bị chia, số chia) tăng hơn
so với đầu năm, tuy nhiên một số em vẫn còn làm chưa đúng là do sai trong quá
trình thực hiện cộng, trừ, nhân, chia phân số. Nhưng dù sao kết quả vẫn cao hơn
nhiều so với đầu năm. Điều này cho tôi thấy được phần nào an tâm hơn khi học
Người thực hiện: Vũ Thị Mai
17
Một số biện pháp giúp học sinh “Tìm thành phần chưa biết” trong dạy học Toán 4
sinh làm các bài tập dạng “Tìm thành phần chưa biết”, tôi tiếp tục duy trì, áp dụng
và luôn giúp đỡ các em cho đến cuối năm học, tôi tin rằng kết quả cuối năm sẽ đạt
được như mong muốn.
Từ kết quả trên, thấy rằng vẫn còn một số em chưa nắm chắc, sự tiếp thu
bài còn rất chậm, tỉ lệ làm bài chưa đúng vẫn còn, tôi tiếp tục áp dụng thêm gần
một tháng và cũng đã gần hết năm học, đến cuối tháng 3/2013, tôi lại khảo nghiệm
bằng một bài kiểm tra để đúc rút lại kết quả cuối cùng bằng tất cả các bài tập dạng
“Tìm thành phần chưa biết” (Kể cả phân số và số tự nhiên) như sau:
Đề bài:
TS HS: 28(1KT)
Bài 1
25
Bài 2
20
Bài 3
19
Số HS làm chưa
(92,6%)
2
(74,1%)
7
(70,4%)
8
(88,9%) (77,8%) (70,1%)
3
6
8
đúng
(7,4%)
18
Một số biện pháp giúp học sinh “Tìm thành phần chưa biết” trong dạy học Toán 4
giúp các em tự tin hơn, say mê, mạnh dạn hơn nhiều so với đầu năm. Nhất là về
phía phụ huynh học sinh, họ luôn có niềm tin tuyệt đối vào cô giáo chủ nhiệm lớp
của con em mình, họ phấn khởi, yên tâm khi thấy con em mình ngày càng tiến bộ.
* Bài học kinh nghiệm:
Năm học 2012-2013 là năm học tiếp tục thực hiện các cuộc vận động, như
những năm học trước, song có thêm phương châm “Học để trở thành người công
dân tốt”, vì thế mà trong quá trình dạy học người giáo viên không nên quá nặng nề
về kiến thức, không nên nhồi nhét hoặc gây áp lực cho các em khi các em chưa
hiểu bài, hay chưa làm đúng, mà ngược lại giáo viên thường xuyên sáng tạo ra
cách truyền đạt kiến thức đến với các em một cách tốt nhất. Tổ chức nhiều hoạt
động phong phú, tạo nên không khí lớp học sôi nổi, đoàn kết gây hứng thứ cho các
em trong học tập. Giáo viên tích cực làm đồ dùng dạy – học giúp các em tiếp thu
bài nhanh hơn. Tổ chức nhiều trò chơi học tập giúp học sinh nhớ bài lâu. Thường
xuyên kiểm tra kiến thức cũ thông qua trò chơi học tập.
Tuy nhiên là giáo viên trực tiếp giảng dạy, bản thân đã không quên ý thức
được tầm quan trọng lớn lao của việc nâng cao chất lượng học sinh yếu, kém môn
Toán. Một số biện pháp giúp học sinh “Tìm thành phần chưa biết” trong dạy
học Toán 4, là bài học kinh nghiệm tôi nên áp dụng thường xuyên và phổ biến
rộng rãi cho bạn bè đồng nghiệp trong tổ khối. Vì ở Tiểu học môn Toán là nền
tảng, là kiến thức cơ bản cho các em học lên các cấp trên.
Đây là một việc làm thường xuyên của tôi, song không phải là một sớm
một chiều có thể giải quyết một cách triệt để được và cũng không có một giải pháp
nào là tối ưu. Mỗi giáo viên căn cứ vào chất lượng thực tế học sinh của lớp mình
và linh hoạt trong việc lựa chọn phương pháp cho phù hợp với từng đối tượng
nghiên cứu và thực hiện đề tài này.
hoàn thiện hơn. Rất mong được sự ủng hộ góp ý của quý cấp lãnh đạo và đồng
nghiệp. Tôi chân thành cảm ơn !
II - MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, ĐỀ NGHỊ:
Để nâng cao chất lượng dạy học ở Tiểu học nói chung và dạy học môn Toán
4 nói riêng. Tôi có một số kiến nghi, đề nghị sau:
- Nhà trường cố gắng tham mưu xây dựng cơ sở vật chất, phòng học (Hoặc
có thêm phòng học dành riêng cho đối tượng học sinh tiếp thu quá chậm).
Người thực hiện: Vũ Thị Mai
20
Một số biện pháp giúp học sinh “Tìm thành phần chưa biết” trong dạy học Toán 4
- Mỗi giáo viên hãy cố gắng hơn nữa, hãy đem hết khả năng và tình thương
yêu của mình để giúp các em, nhất là đối với những em có hoàn cảnh khó khăn
trong học tập.
- Giáo viên chủ nhiệm phải dành thời gian nhiều hơn để đầu tư vào bài giảng
của mình có chất lượng cao. Tổ chức nhiều hoạt động dạy – học phong phú, phù
hợp với đối tượng học sinh của lớp mình. Thường xuyên nhắc nhở các em có tinh
thần đoàn kết thương yêu các bạn trong lớp, giúp các bạn trong học tập.
- Chính quyền địa phương và các bậc phụ huynh cần quan tâm hơn nữa đến
việc học tập ở nhà của con em mình.
- Về phía học sinh cần phải chủ động tích cực, phát huy tính độc lập suy nghĩ
và trí sáng tạo, chăm chỉ học bài và ôn bài kỹ trước khi đến lớp.
- Với đề tài: Một số biện pháp giúp học sinh “Tìm thành phần chưa biết”
trong dạy học Toán 4. Tôi hy vọng sẽ được áp dụng rộng rãi và góp phần bổ sung
thêm để đề tài ngày một hoàn hảo và đem lại kết quả thật mỹ mãn.
EaMnang tháng 4 năm
2013
Người viết
III Đối tượng nghiên cứu
3
IV Giới hạn phạm vi nghiên cứu
3
V Phương pháp nghiên cứu
3
B PHẦN NỘI DUNG
4
I Cơ sở lý luận
4
II Thực trạng
5
III Biện pháp, giải pháp
10
IV Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học
Người thực hiện: Vũ Thị Mai
23
Một số biện pháp giúp học sinh “Tìm thành phần chưa biết” trong dạy học Toán 4
…......................................................... …............................................................
............................................................. ................................................................
............................................................. ................................................................
............................................................. ................................................................
............................................................. ................................................................
............................................................. ................................................................
............................................................. ................................................................
............................................................. ................................................................
............................................................. ................................................................
............................................................. ................................................................
............................................................. ................................................................
............................................................. ................................................................
............................................................. ................................................................
............................................................. ................................................................
............................................................. ................................................................
............................................................. ................................................................
............................................................. ................................................................
............................................................. ................................................................
............................................................. ................................................................
............................................................. ................................................................
............................................................. ................................................................
............................................................. ................................................................
............................................................. ................................................................
............................................................. ................................................................