I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay tiếng Anh đã trở thành ngôn ngữ phổ biến trên toàn Thế Giới và
hơn 40 quốc gia sử dụng nó như một ngôn ngữ chính, gần 400 triệu người dùng
nó như một ngôn ngữ thứ hai trong giao tiếp. Ở Việt Nam, nhằm bắt kịp với xu
thế hội nhập toàn cầu, ngành giáo dục Việt Nam đang ngày một hội nhập cùng
thế giới. Hiểu rõ tầm quan trọng của giáo dục hiện đại là đào tạo ra những con
người có thể bắt kịp xu thế hội nhập toàn cầu. Ngoại ngữ nói chung,tiếng Anh
nói riêng là công cụ đắc lực cho quá trình hội nhập.Nhiều công ty nước ngoài đã
đầu tư vào Việt Nam, số người nước ngoài đến du lịch, làm việc ở nước ta ngày
càng nhiều. Bên cạnh đó thì số học sinh Việt Nam du học nước ngoài cũng tăng
một cách đáng kể và theo một số thống kê gần đây đã công bố rằng: du học sinh
của Việt Nam không kém các học sinh, sinh viên của các nước khác về tiếp nhận
kiến thức, nghiên cứu khoa học, ý thức tự học.Tuy nhiên, đa số du học sinh Việt
Nam gặp rất nhiều khó khăn trong học tập và sinh hoat ở nước ngoài do vốn
ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh còn rất hạn chế.Thế nhưng làm thế nào để
chuẩn bị tốt kiến thức ngoại ngữ thì có lẽ đa số học sinh phải chuẩn bị tiếng Anh
ngay từ khi ở bậc Tiểu học. Việt Nam của chúng ta hiện nay, tiếng Anh đã được
đưa vào giảng dạy ở tất cả các trường Tiểu học. Mà nhìn chung ở lứa tuổi Tiểu
học các con rất hiếu động. Các con thích hiểu biết cái mới thông qua những
hành động do chính mình làm, từ đó rút ra những suy nghĩ về cái mới đó. Chính
vì thế giờ học ngoại ngữ phải là giờ học đưa học sinh vào hoạt động giao tiếp
thực, tức là học sinh được giao tiếp một cách có ấn tượng. Là giáo viên dạy bộ
môn Tiếng Anh, tôi luôn mong muốn học sinh của mình có thể hiểu bài một
cách nhanh nhất, chủ động nhất, đặc biệt các em có thể vận dụng những kiến
thức đã học vào giao tiếp thực tế. Muốn vậy, chúng ta cần phải đổi mới phương
pháp giảng dạy sao cho mỗi tiết lên lớp học sinh đều hứng thú học tập, tích cực
rèn luyện và nhớ được bài ngay tại lớp. Chúng ta đều biết, bất cứ một thứ tiếng
nào trên thế giới, muốn giao tiếp được với nó đòi hỏi chúng ta phải có một vốn
từ, bởi vì từ vựng là một thành phần không thể thiếu được trong ngôn ngữ.
Trong tiếng Anh chúng ta không thể rèn luyện và phát triển 4 kỹ năng nghe, nói,
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.
- Dự giờ các bạn đồng nghiệp trong tổ bộ môn để học hỏi kinh nghiệm
1.5. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
a. Tìm hiểu thực trạng việc dạy tiếng Anh trước khi vận dụng đề tài.
b. Công tác chuẩn bị trước khi dạy từ.
c. Thủ thuật vận dụng các trò chơi vào tiết học.
d. Thủ thuật giúp học sinh học từ và ôn từ khi ở nhà.
e. Các bước cơ bản dạy từ vựng.
2
II. NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận
Như chúng ta đã biết, trước đây theo phương pháp dạy học cũ, thầy giáo
đóng vai trò trung tâm là người truyền đạt kiến thức còn học sinh là đối tượng
tiếp nhận kiến thức và ghi chép từ, mẫu câu một cách thụ động rồi sau đó về nhà
học thuộc lòng sẽ không tạo khả năng tư duy sáng tạo phong phú của các con.
Phương pháp này ít mang lại hiệu quả giáo dục, nó không phù hợp với tình hình
phát triển của nước ta hiện nay. Bây giờ việc đổi mới phương pháp dạy học
nhằm phát huy tính tích cực của học sinh, yêu cầu học sinh phải biết tự giác, chủ
động sáng tạo, chiếm lĩnh làm chủ kiến thức. Thực hiện được yêu cầu này, giáo
viên phải là người có vai trò hướng dẫn, điều khiển, tổ chức các hoạt động cho
học sinh. Do vậy việc tìm tòi và vận dụng các phương pháp mới luôn luôn đòi
hỏi mỗi giáo viên phải có.
Hơn thế nữa, ngoại ngữ là một môn học đòi hỏi học sinh phải có tính
chăm chỉ, học thường xuyên ở mọi lúc, mọi nơi thì mới phát triển được vốn từ
vựng. Có vốn từ vựng khá thì học sinh mới vận dụng được các kiến thức của
mình vào các bài học. Bên cạnh đó, việc phỏng đoán nội dung chính trong một
tiết học cũng không thể thiếu được. Trước đây, theo phương pháp cũ giáo viên
Đây là một lý do chủ yếu dẫn đến việc hạn chế thời gian tổ chức các trò chơi.
Bên cạnh đó các hình thức trò chơi vẫn chưa được tổ chức phong phú. Đặc biệt
là học sinh Tiểu học rất thích học tiếng Anh có lồng ghép các trò chơi. Điều này
là rất tốt vì phần nào giáo viên đã làm được việc: Học mà chơi, chơi mà học.
* Động cơ và ý thức học tập chưa cao.
- Đa số các em chưa có phương pháp học từ vựng hiệu quả. Về phía phụ
huynh cũng rất khó khăn trong việc kiểm tra hoặc hướng dẫn các em tự học ở
nhà bởi đây là môn ngoại ngữ không phải phụ huynh nào cũng biết và môn
Tiếng Anh ở bậc Tiểu học vẫn là môn học tự chọn nên một số phụ huynh và học
sinh chưa ý thức được tầm quan trọng của môn học này.
- Một số học sinh ít có thời gian học bài ở nhà vì ngoài giờ học các em còn
phải giúp cha mẹ làm việc nhà, đồng áng…Các em ít có điều kiện để giao tiếp
bằng Tiếng Anh và các em cũng ngại giao tiếp, trao đổi với nhau bằng Tiếng
Anh ngoài giờ học. Một số khác là đối tượng học sinh khá, giỏi các em ngại giao
tiếp không phải vì khả năng tiếp thu chậm mà các em bị hạn chế về mặt tâm lí,
ngại thực hành trước đám đông.
- Một số các học sinh trong lớp có hoàn cảnh khó khăn, nên các em ít có
sách tham khảo để nâng cao vốn từ ngoài những từ vựng mà sách giáo khoa
cung cấp. Thêm vào đó các em rất ít chú trọng vào việc học và lười học bài là từ
vựng tiếng Anh.
Trong quá trình giảng dạy tôi nhận thấy vốn từ vựng của các em còn rất ít.
Việc học và ghi nhớ từ của các em gặp nhiều khó khăn. Kết quả khảo sát đầu
năm việc học từ vựng của các em tại lớp 4B và 5A như sau:
4
Lớp 4B:
Số HS
Nhớ từ vựng và áp
Lớp 5A:
Số HS
34
15
c. Nguyên nhân:
* Nguyên nhân chủ quan:
- Do các em không chú ý khi giáo viên cho luyện đọc từ mới hay luyện
đọc âm khó.
- Do đang quen với việc giao tiếp bằng tiếng Việt nên khi chuyển sang nói
bằng tiếng Anh các em thường bị mắc lỗi.
- Do cách phát âm của tiếng Anh khác tiếng Việt.
- Do điều kiện kinh tế gia đình mà một số em có cơ thể chậm phát triển
nên trí tuệ cũng chậm theo dẫn tới việc nắm kiến thức nói chung và phân môn
tiếng Anh nói riêng còn kém hơn so với các bạn. Các em khó tiếp thu kiến thức
mới, dễ quên kiến thức cũ.
- Một số gia đình còn chưa quan tâm chuẩn bị đồ dùng, sách vở cho con
em mình nên một số em không có vở ghi bài hay sách học khi đến lớp.
* Nguyên nhân khách quan
- Do học sinh thiếu tập trung, không chú ý lắng nghe giáo viên giảng bài
hay hướng dẫn phát âm các từ khó.
- Khả năng bao quát học sinh trong giờ học còn hạn chế nên giáo viên
không đủ thời gian để chữa lỗi cho từng học sinh.
- Một số giáo viên chưa thực sự quan tâm đến việc rèn phát âm chuẩn cho
học sinh. Cá biệt còn có một số giáo viên còn phát âm chưa chuẩn.
Chính vì vậy tôi đã tìm hiểu nguyên nhân và rút ra được bài học kinh
nghiệm trong việc giúp học sinh nhớ từ vựng được lâu hơn, trong phạm vi đề tài
này tôi xin trình bày những kinh nghiệm của bản thân khi dạy từ vựng tiếng Anh
5
đầu tư thời gian để giới thiệu và hướng dẫn học sinh luyện tập nhiều hơn.
Với từ bị động giáo viên chỉ cần dùng ở mức nhận biết, không cần đầu tư
thời gian vào các hoạt động ứng dụng. Giáo viên cần biết lựa chọn và quyết định
xem sẽ dạy từ nào như một từ chủ động và từ nào như một từ bị động.
- Khi dạy từ mới cần làm rõ ba yếu tố cơ bản của ngôn ngữ là:
+ Form.
6
+ Meaning.
+ Use.
Đối với từ chủ động ta chỉ cho học sinh biết chữ viết và định nghĩa như từ
điển thì chưa đủ, để cho học sinh biết cách dùng chúng trong giao tiếp, giáo viên
cần cho học sinh biết cách phát âm, không chỉ từ riêng lẻ mà còn biết cách phát
âm đúng những từ đó trong chuỗi lời nói, đặc biệt là biết nghĩa của từ.
- Số lượng từ cần dạy trong bài tùy thuộc vào nội dung bài và trình độ của
học sinh. Không bao giờ dạy tất cả các từ mới vì sẽ không có đủ thời gian để
thực hiện các hoạt động khác. Tuy nhiên, trong một tiết học chỉ nên dạy tối đa là
6 từ.
- Trong khi lựa chọn từ để dạy, bạn nên xem xét đến hai điều kiện sau:
+ Từ đó có cần thiết cho việc hiểu văn bản không?
+ Từ đó có khó so với trình độ của học sinh không?
- Nếu từ đó cần thiết cho việc hiểu văn bản và phù hợp với trình độ của
học sinh thì nó không thuộc nhóm từ tích cực, do đó bạn nên giải thích rồi cho
học sinh hiểu nghĩa từ đó ngay.
- Nếu từ đó không cần thiết cho việc hiểu văn bản và cũng không khó lắm
thì bạn nên yêu cầu học sinh đoán.
Ví dụ: Đối với học sinh lớp 3 khi học giới thiệu về các thành viên trong
gia đình
“This is my father and that is my mother”
- Giáo viên đọc to bất kỳ một từ nào trong phiếu.
- Hai học sinh đứng đầu hai hàng chạy đua lên bảng chạm tay vào phiếu
có từ vừa gọi.
- Học sinh nào chạm tay vào trước và nói đúng từ đó thì ghi được một
điểm cho đội của mình.
- Cứ như thế cho đến học sinh cuối cùng của hàng.
Ví dụ:
* Jumbled words
- Mục đích của trò chơi này nhằm giúp học sinh thực hành từ mới và
chính tả của từ.
8
- Viết một số lên bảng hoặc vào tờ giấy A4 với các chữ cái xếp không
theo thứ tự.
- Yêu cầu học sinh sắp xếp lại các chữ cái để tạo thành từ có nghĩa.
- Học sinh có thể thực hiện thi đua giữa các nhóm, cặp hoặc cá nhân.
- Cho các em đọc lại các từ vừa sắp xếp.
Ví dụ 1: Sắp xếp lại các chữ cái sau thành từ
otoboke
notebook
onacry
crayon
karrme
một từ mới tiếp theo, cứ tiếp tục như vậy cho đến khi trở lại với học sinh thứ
nhất trong nhóm.
Ví dụ:
Giáo viên: In my house, there is my bed.
Học sinh 1: In my house, there is my bed and a sofa.
Học sinh 2: In my house, there is my bed, a sofa and a lamp.
Học sịnh 3: In my house, there is my bed, a sofa, a lamp and a sink.
Học sinh 4: In my house, there is my bed, a sofa, a lamp, a sink and a TV.
Học sinh 5: In my house, there is my bed, a sofa, a lamp, a sink, a TV
and a telephone….
* What and Where
- Mục đích của trò chơi này giúp học sinh hớ nghĩa và cách đọc của từ.
Thủ thuật này được áp dụng cho tất cả các từ có trong bài, thường là những từ
dài và khó đọc.
- Viết một số từ lên bảng không theo một trật tự nào và khoanh tròn chúng
lại.
- Sau mỗi lần đọc giáo viên lại xóa đi một từ nhưng không xóa vòng tròn.
- Cho học sinh lặp lại các từ kể cả từ bị xóa.
- Khi xóa hết từ, giáo viên cho học sinh viết lại các từ vào đúng chỗ cũ
Ví dụ:
Teacher
Farmer
Astronas
10
Engineer
v
pencil
V
v
v
pen
v
school bag
* Simon Says
- Mục đích của trò chơi này nhằm giúp học sinh nhớ từ và thường được áp
dụng cho câu mệnh lệnh ngắn.
- Giáo viên hô to các câu mệnh lệnh.
- Học sinh chỉ làm theo các câu mệnh lệnh của giáo viên nếu giáo viên
đọc câu mệnh lệnh bắt đầu bằng câu “Simon Says”.
- Giáo viên đọc câu mệnh lệnh,không có câu “Simon Says” học sinh
không được thực hiện theo mệnh lệnh đó. Nếu học sinh nào thực hiện sẽ bị loại
ra khỏi cuộc chơi.
- Trò chơi này được áp dụng cho cả lớp, không nên chia theo nhóm hoặc
cặp.
Ví dụ:
11
Nếu giáo viên nói: “Simon says: stand up!” học sinh sẽ đứng dậy.
round
flower
catch
square
jump
short
puddle
cloud
rabit
read
little
throw
12
Adjective
Verbs
…………….
* Circle the words
- Mục đích của trỏ chơi này giúp các em nhớ nghĩa của từ và từ loại của
từ.
- Mỗi hàng ngang có thể 3 hoặc 4 từ (trong đó có 1 từ khác với từ còn lại).
- Giáo viên yêu cầu học sinh khoanh tròn từ đó.
- Có thể tổ chức trò chơi này theo nhóm, sử dụng bảng phụ để thực hiện
trò chơi
- Yêu cầu cả lớp đọc lại tất cả các từ
Ví dụ: Chọn từ khác loại với các từ còn lại:
1/
fist
pizza
milk
bread
2/
rabbit
car
kite
she
6/
play
catch
fly
under
7/
is
can
are
am
8/
trees
puddle
flower
young
fat
#
thin
Give the symnonym of the words.
beautifull : nice, pretty
small
: little
near
: next to, by
* Rub out and remember
- Mục đích của trò chơi này cũng giúp cho học sinh nhớ từ vựng lâu hơn,
cũng gần giống như “What and Where” tuy nhiên cần áp dụng thay thế cho
nhau để tránh sự nhàm chán cho học sinh.
- Sau khi viết một số từ đã học trong bài và nghĩa của chúng lên bảng,
giáo viên cho học sinh lặp lại và xóa dần các từ tiếng Việt hay tiếng Anh.
- Cho học sinh viết lại từ tiếng Anh bên cạnh nghĩa tiếng Việt hoặc nghĩa
tiếng Việt bên cạnh nghĩa tiếng Anh.
- Giáo viên nên khuyến khích bằng điểm đối với các em viết đúng từ.
Ví dụ:
house (n)
He can / can’t …………….
She can / can’t …………..
- Nhóm nào đặt câu đúng sẽ được một (o) hoặc hoặc một (x).
- Nhóm nào có 3(o) hoặc 3(x) trên một hàng ngang, hàng dọc hoặc hàng
chéo sẽ thắng cuộc.
Ví dụ:
climb a tree
o
throw a ball
speak English
ride a bike
sing a song
write a letter
use chopsticks
x
fly a kite
read a funny story
Group A: She can climb a tree.
Group B: I can’t write a bike.
* Networks
- Mục đích của trò chơi này nhằm giúp học sinh ôn lại hệ thống từ vựng.
- Qua những hình vẽ ngộ nghĩnh của các em, giáo viên nhận xét, ôn bài sẽ
tạo cho các em sự hứng thú trong giờ học.
- Thủ thuật này rất thích hợp trong việc ôn lại các từ chỉ đồ vật trong nhà
và các giới từ.
Ví dụ: Giáo viên đọc, học sinh nghe và vẽ tranh.
“In my bedroom, there is a bed. There is a table. There is a lamp on the
table. There is a book on the table. There is a chair between the bed and the
table. There is a mirror on the wall….”
* Dùng tranh để minh họa
Ví dụ: Để dạy các từ : pen, book, ruler, eraser, bag……giáo viên dùng
những giáo cụ trực quan mà thực tế có ở ngay trong lớp học như: bút mực,
quyển sách, thước kẻ, viên tẩy, cặp sách……Mục đích của đồ dùng dạy học là
giúp học sinh liên tưởng,hiểu được ý nghĩa ngôn ngữ một cách trực tiếp,từ đó
giúp các em nhớ được từ mới lâu hơn. Ngoài ra những đồ dùng dạy học còn
được sử dụng như một phương tiên gợi ý, giúp học sinh sử dụng lại từ hay mẫu
câu đã được học thích hợp với tình huống giao tiếp cụ thể tương tự.
* Dùng hành động, cử chỉ:
16
Ví dụ: Để dạy các từ: close, open , go out, come in, sit down,stand up…
giáo viên làm những hành động như: gấp sách, mở cửa, đi ra, đi vào, ngồi
xuống, đứng lên… để học sinh đoán nghĩa của từ.
Ngoài ra còn rất nhiều các thủ thuật khác mà tôi không nêu ra ở đây
nhưng khi dạy tôi phải luôn luôn thay đổi cách dạy sao cho phù hợp với từng bài
chứ không gò ép vào khuôn khổ.
Biện pháp 3: Thường xuyên kiểm tra và củng cố từ mới trong các giờ
học
Chúng ta biết rằng chỉ giới thiệu từ mới thôi chưa đủ mà chúng ta còn
chừng mực mà bạn cho là đạt yêu cầu.
- Bước 4: “viết”, sau khi học sinh đã đọc từ đó một cách chính xác rồi bạn
mới yêu cầu học sinh viết từ đó vào vở.
* Trong khi dạy từ mới phải ghi nhớ các điểm sau:
- Nên giới thiệu từ trong từng mẫu câu cụ thể, ở những tình huống giao
tiếp khác nhau, giáo viên có thể kết hợp việc làm đó bằng cách thiết lập được sự
quan hệ giữa từ cũ và từ mới, từ vựng phải được củng cố liên tục.
- Giáo viên thường xuyên kiểm tra từ vựng vào đầu giờ, trong giờ hay
cuối giờ bằng nhiều hình thức khác nhau vì học ngoại ngữ là cả một quá trình
tích lũy dần. Ví dụ đầu giờ tôi thường kiểm tra học sinh bằng cách cho các em
viết từ vào bảng con và giơ lên,với cách này giáo viên có thể quan sát được toàn
bộ học sinh ở lớp, bắt buộc các em phải học bài và nên nhớ cho học sinh vận
dụng từ vào trong mẫu câu, với những tình huống thực tế giúp các em nhớ từ
mới lâu hơn,giao tiếp tốt và mang lại hiệu quả cao.
- Biết khen biết chê đúng lúc cũng dẫn đến thành công. Khi dạy từ vựng
mà học sinh đọc tốt, phát âm chuẩn thì giáo viên nên khuyến khích, động viên,
khen thưởng kịp thời bằng nhiều hình thức như cho những lời khen. Ngược lại
nếu học sinh làm chưa tốt, chưa đúng thì giáo viên nên sửa lỗi cho học sinh
không nên chê cười vì dễ làm các em thấy ngại, xấu hổ, mất bình tĩnh, mất hứng
thú và lần sau sẽ ngại.
Để học sinh tiếp thu bài tốt đòi hỏi khi dạy từ mới giáo viên cần phải lựa
chọn các phương pháp cho phù hợp. Chúng ta cần chọn cách nào ngắn nhất,
nhanh nhất, mang lại hiệu quả cao nhất và sau khi học xong từ vựng thì các em
có thể đọc được, viết được đặc biệt là biết cách đưa vào các tình huống thực tế.
* Hướng dẫn học sinh học từ vựng ở nhà:
Thời gian học ở trường rất ít cho nên đa phần thời gian còn lại ở nhà các
em phải tự tổ chức hoạt động học tập của mình. Vì thế, ngay từ đầu năm học
giáo viên cần hướng dẫn học sinh xây dựng hoạt động học tập ở nhà thật hiệu
quả.
Ví dụ: Các con có thể chưa thuộc từ mới ngay tại lớp thì về nhà các con
Lớp 4B
Số HS
35
Lớp 5A
Số HS
Nhớ từ vựng và áp
Nhớ từ vựng và chưa
dụng từ vào thực
áp dụng từ vào thực
hành tốt
22
hành
8
Nhớ từ vựng và áp
Không nhớ từ vựng
5
Nhớ từ vựng và chưa Không nhớ từ vựng
dụng từ vào thực
bước đầu của tôi không tránh khỏi những bất cập, tôi rất mong sự góp ý của
đồng nghiệp để những sáng kiến ban đầu của tôi được hoàn thiện và được áp
dụng có hiệu quả trong công tác giảng dạy tiếng Anh ở trường Tiểu học. Qua áp
dụng sáng kiến kinh nghiêm vào giảng dạy môn Tiếng Anh ở trường Tiểu học
tôi nhận thấy rằng trong quá trình dạy học, giáo viên là người luôn phải là người
nắm chắc phương pháp giảng dạy và cần cố gắng áp dụng các phương pháp một
cách linh hoạt sao cho phù hợp với nội dung bài và phù hợp với từng đối tượng
học sinh. Bên cạch đó, trước khi lên lớp giáo viên cần chuẩn bị chu đáo các thiết
bị như: tranh, ảnh, loa đài … mặt khác giáo viên cũng cần khéo léo sử dụng các
thủ thuật sư phạm nhằm kích thích hứng thú học tập của học sinh và giúp cho
các em học tập có kết quả tốt hơn.
Để phát huy tốt tính tích cực chủ động, sáng tạo của học sinh trong học
tập thì chúng ta cần tổ chức quá trình dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt
động của người học. Trong quá trình dạy và học, giáo viên chỉ là người truyền
tải kiến thức đến với học sinh, học sinh muốn lĩnh hội tốt những kiến thức đó thì
các em phải tự học bằng chính các hoạt động của mình.
Về phía học sinh, bên cạch một số em học hành nghiêm túc, có không ít
học sinh chỉ học qua loa, không khắc sâu được từ vựng vào trong trí nhớ, không
tập đọc, tập viết thường xuyên, không thuộc nghĩa hai chiều nên giáo viên cần
khuyến khích và hướng các em tích cực tham gia vào quá trình học tập. Cần
20
ng viờn, khi dy hng thỳ hc tp ca hc sinh lm cho cỏc em say mờ vi
mụn hc, yờu thớch mụn hc v gúp phn lm cho gi hc sụi ni cú hiu qu.
Tụi thc hin ti ny ch l mt phn trong tit hc, tuy nhiờn nú úng
vai trũ rt quan trng cho vic thc hnh mu cõu, vic i thoi cú trụi chy,
lu loỏt hay khụng u phi ph thuc vo vic hc thuc lũng t vng v phỏt
õm cú chun hay khụng.
Nhng thc hin ging dy tt t vng khụng ch cn cú s u t vo
có thêm kinh nghiệm trong giảng dạy, góp phần đào tạo học sinh phát triển toàn
diện, đáp ứng nhu cầu thời kỳ công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước.
Tôi xin chân thành cảm ơn BGH nhà trường, các đồng nghiệp và các em
học sinh đã giúp đỡ tôi trong các giờ dạy thực nghiệm, các buổi thực tập rút kinh
nghiệm và các tiết hội giảng trong nhà trường.
Với sáng kiến kinh nghiệm “Một số phương pháp giúp học sinh Tiểu học học
tốt từ vựng tiếng Anh ”, tôi hy vọng rằng sẽ góp một phần nhỏ vào việc giúp
học sinh học tiếng Anh tốt hơn, hiệu quả hơn. Tuy nhiên đề tài này không sao
tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được sự góp ý chân thành từ quý
đồng nghiệp để đề tài khả thi hơn. Xin chân thành cảm ơn!
Kim Bảng, ngày 5 tháng 3 năm 2016
Người viết SKKN
Dương Thị Ngà
22
ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
Chủ tịch Hội đồng chấm SKKN
23