1
ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Nghiên cứu tình hình trầm cảm và các yếu tố liên quan ở sinh
viên Điều Dưỡng và Kỹ thuật Y học hệ chính quy Trường Đại
học Y Dược Huế
2
ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo Tổ chức Y tế Thế giới trầm cảm là một rối loạn tâm thần phổ biến, đặc
trưng bởi nỗi buồn, mất hứng thú hoặc niềm vui, có cảm giác tội lỗi hay tự đánh giá
thấp giá trị bản thân, ngủ không yên giấc hoặc chán ăn, cảm giác mệt mỏi và kém
tập trung [33]. Trầm cảm hiện nay đang là vấn đề ngày càng thu hút sự quan tâm
của cộng đồng và xã hội. Tổ chức Y tế Thế giới(2008) [32] khuyến cáo đến năm
2030, trầm cảm sẽ trở thành một trong hai nguyên nhân hàng đầu đưa đến những
năm sống mất đi do tàn tật trên toàn thế giới. Trầm cảm làm cho người bệnh bị gián
đoạn học tập, lao động và tách rời xã hội, không những ảnh hưởng đến sức khỏe,
bệnh tật cho bản thân mà còn ảnh hưởng đến gia đình và xã hội.
Sinh viên Y Khoa nói chung được xem là đối tượng có nguy cơ caođối với
trầm cảm[12], [14], [15], [20].Theo các nghiên cứu ở sinh viên Y tiến hành tại Ai
Cập và Malaysia cho thấy tỷ lệ sinh viên bị trầm cảm lần lượt là 63,6%
và34,9%[11], [28]. Là đối tượng trực tiếp tiếp xúc với bệnh nhân nhiều nhất để thực
hiện những y lệnh của bác sĩ trong tương lai. Sinh viên Điều Dưỡng và Kỹ thuật Y
học trong quá trình đào tạo tại trường phải chịu áp lực học tập cao, chương trình đào
tạo nặng nề, thực hành lâm sàng và thường xuyên chứng kiến sự đau đớn của bệnh
nhân tại các khoa phòng.Do đó, sinh viên Điều Dưỡng và Kỹ thuật Y học là đối
tượng phải đối mặt với nguy cơ cao về trầm cảm. Một nghiên cứu ở sinh viên Điều
Dưỡng tiến hành tại Iran cho thấy tỷ lệ sinh viên bị trầm cảm là 38,7%[27]. Tỷ lệ
này ở sinh viên Điều Dưỡng của Hy Lạp là 43,9%[22]. Ở Việt Nam trong những
4
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. TRẦM CẢM
1.1.1. Một số khái niệm về trầm cảm
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thì trầm cảm là một rối loạn tâm thần phổ
biến, đặc trưng bởi nỗi buồn, mất hứng thú hoặc niềm vui, có cảm giác tội lỗi hay tự
đánh giá thấp giá trị bản thân, ngủ không yên giấc hoặc chán ăn, cảm giác mệt mỏi
và kém tập trung [33].
Các giai đoạn trầm cảm điển hình (Major depressive period)[1]: giai đoạn trầm
cảm thường hình thành từ từ trong nhiều tuần với biểu hiện của hội chứng suy nhược
và khí sắc ngày càng suy giảm sau đó xuất hiện đủ bộ 3 triệu chứng trầm cảm:
- Cảm xúc bị ức chế (Depressed affect): là triệu chứng chủ yếu nhất biểu hiện
bằng cảm xúc buồn rầu biểu hiện ở các mức độ khác nhau: chán nản, thất vọng, có
trạng thái buồn chán nặng nề, sâu sắc, buồn không lối thoát dễ dẫn đến tự sát.
- Tư duy bị ức chế (Depressed thinking): quá trình liên tưởng chậm chạp, hồi
ức khó khăn, tư duy bị chìm đắm trong những chủ đề trầm cảm, bi quan, xấu hổ, tủi
nhục, bất hạnh nhiều trường hợp kết tinh thành hoang tưởng bị buộc tội hoặc tự
buộc tội dễ dẫn đến tự sát.
- Hoạt động bị ức chế (Depressed activity): bệnh nhân ngồi im hoặc nằm im
lìm hàng giờ, khom lưng, cúi đầu, nằm ép ở giường hàng ngày, hàng tháng, hoạt
động bị ức chế hoặc những hành vi đơn điệu, đi lờ đờ, quanh quẩn trong phòng.
1.1.2. Nguyên nhân và ảnh hưởng của trầm cảm
Theo Viện Sức khỏe Tâm thần (National Institude of Mental Health)nguyên
nhân của trầm cảm là do các yếu tố di truyền, sinh học, môi trường và các sang chấn
về mặt tâm lý [25].
Trầm cảm là kết quả của sự tương tác phức tạp giữa các yếu tố xã hội, tâm lý
và sinh học. Ngoài ra còn có mối tương quan giữa trầm cảm và sức khỏe thể chất.
Trầm cảm có thể kéo dài hoặc tái phát, làm suy yếu đáng kể khả năng của một
người để thực hiện các hoạt động học tập, làm việc hoặc đối phó với khó khăn trong
cuộc sống hàng ngày. Nghiêm trọng nhất, trầm cảm có thể dẫn đến hành vi tự
tử. Khi trầm cảm ở mức độ nhẹ, mọi người có thể được điều trị mà không cần dùng
6
thuốc nhưng khi trầm cảm ở mức độ vừa hoặc nặng thì cần phải kết hợp giữa điều
trị thuốc và phương pháp tâm lý trị liệu [33].
1.1.3. Chẩn đoán trầm cảm
1.1.3.1. Tiêu chuẩn chẩn đoán trầm cảm trên lâm sàng
Dù ở mức độ nào điển hình hay không điển hình, mức độ nặng, trung bình hay
nhẹ thì chẩn đoán trầm cảm ở Việt Nam trong những năm gần đây đều áp dụng các
nguyên tắc chẩn đoán đã được mô tả trong ICD-10 [7]. Trong đó phải có các triệu
chứng đặc trưng sau:
1. Khí sắc trầm.
2. Mất quan tâm thích thú.
3. Giảm năng lượng, dễ mệt mỏi dù chỉ sau một cố gắng nhỏ.
và thường có những triệu chứng phổ biến khác là:
1. Giảm sút sự tập trung và chú ý.
2. Giảm sút tính tự trọng và lòng tự tin.
3. Có ý tưởng bị tội, không xứng đáng.
4. Nhìn vào tương lai ảm đạm, bi quan.
5. Ý tưởng và hành vi tự huỷ hoại cơ thể hoặc tự sát.
6. Rối loạn giấc ngủ.
7. Ăn ít ngon miệng.
Khi trầm cảm nặng thường có triệu chứng "sinh học" đó là: sút cân (5% trọng
Stress Scales (DASS),…
Thang đánh giá trầm cảm của Hamilton, ra đời năm 1960, là một phương pháp
đơn giản để đánh giá bằng định lượng mức độ nghiêm trọng của tình trạng trầm
cảm, để chứng minh những chuyển biến của rối loạn này trong quá trình điều trị.
Thang điểm được xây dựng dựa trên bộ câu hỏi gồm 14 câu, trong đó 7 câu để đánh
giá mức độ trầm cảm và 7 câu đánh giá mức độ lo âu.
Thang tự đánh giá trầm cảm Beck Depression Inventory (BDI), được Beck AT
(Mỹ) và cộng sự xây dựng năm 1961, gợi ý từ những quan sát lâm sàng bệnh nhân
trầm cảm, nhất là từ liệu pháp tâm thần. Thang đo gồm 21 câu hỏi có các đề mục để
đo lường mức độ của các triệu chứng cả về mặt tâm lý và về mặt cơ thể. Test này đã
được dùng rất phổ biến trên thế giời trong nhiều năm qua, được WHO công nhận
đểđánh giá trạng thái trầm cảm và hiệu quả của các phương pháp điều trị. Ở Việt
Nam thang đo này đã được chuẩn hóa và dùng phổ biến tại Viện Sức Khỏe Tâm
8
Thần Quốc Gia từ năm 1989.
Thang đánh giá trầm cảm CES-D, ra đời năm 1977. Ưu điểm của thang đánh
giá này là sử dụng được ở cộng đồng để phân biệt các trường hợp có nguy cơ trầm
cảm cần phải có can thiệp tiếp. Thang đo này đã được đánh giá về tính giá trị và độ
tin cây đối với đối tượng vị thành niên ở Việt Nam.Thang đánh giá gồm 20 câu.
Các câu hỏi trong thang đo ngắn gọn và dễ sử dụng. Được thiết kế bao gồm các
triệu chứng chính của trầm cảm được xác định với sự nhấn mạnh vào các phần tình
cảm : trầm cảm tâm trạng, cảm giác tội lỗi và vô dụng, cảm giác bất lực và tuyệt
vọng, chậm phát triển tâm thần, mất cảm giác ngon miệng và rối loạn giấc ngủ. Hai
mươi câu hỏi về cảm xúc thanh thiếu niên hoặc hành vi liên quan đến triệu chứng
trầm cảm. CES-D được sử dụng rộng rãi trong nhiều nghiên cứu ở cộng đồng [26].
Thang đo tự đánh giá về trầm cảm, lo âu, stress trên đối tượng vị thành niên và
người trưởng thành – DASS được phát triển bởi Livibond and Livibond năm 1995,
Tỷ lệ trầm cảm thấp hơn được tìm thấy trong kết quả của các nghiên cứu như:
Nghiên cứu về trầm cảm, lo âu và các nhân tố liên quan ở SV y của Tabassum Alvi
và cộng sự [9], tiến hành trên 279 SV y tại đại học Wah, Pakistan, năm 2010, sử
dụng thang đo BDI cho thấy trầm cảm tìm thấy ở 35,1% SV trong đó trầm cảm nhẹ
19,7%, vừa 11,1% và nặng 4,3%. Nghiên cứu cắt ngang của Saravanan C. và Wilks
R. [28] tiến hành năm 2014 nhằm xác định tỷ lệ trầm cảm và lo âu trong một mẫu
gồm 358 SVYK học tại một trường đại học tư nhân ở Malaysia, nghiên cứu có sử
dụng thang đo DASS-21 cũng cho biết rằng34,9% (� = 125) SVđã được báo cáo là
có trầm cảm.
Bên cạnh những nghiên cứu ở đối tượng SVYK nói chung thì một số nghiên
cứu ở đối tượng SV Điều Dưỡng (ĐD) cũng đã được tiến hành và kết quả nghiên
cứu thể hiệntỷ lệ trầm cảm ở mức còn cao hơn kết quả nghiên cứu ở Pakistan và
Malaysia tiến hành trên đối tượng SV y như: Nghiên cứu ở 142 SVĐD của Khoa
Điều Dưỡng Viện Giáo dục Công nghệ Thessaloniki, sử dụng thang đo Beck
Depression Inventory – II (BDI-II). Kết quả nghiên cứu cho thấy 43,9% đối tượng
nghiên cứu có trải qua các triệu chứng trầm cảm (mức độ nghiêm trọng: 30% nhẹ,
6% trung bình, 8% nặng) [22]. Nghiên cứu cắt ngang của Fatemeh
Rezayat và Nahid Dehghan Nayeri [27] về mức độ của trầm cảm và sự quả quyết
trong SV ĐD được tiến hành tại đại học Khoa học y tế Tehran, Iran, năm 2012, sử
dụng thang đo BDI. Kết quả nghiên cứu cho thấy 38,7% SV đã bị trầm cảm từ nhẹ
10
đến nặng.
Bên cạnh tỷ lệ trầm cảm thì các yếu tố liên quan đến trầm cảm cũng được tìm
thấy trong các nghiên cứu trên với các yếu tố điển hình được khảo sát thuộc về các
yếu tố nhân khẩu học, yếu tố liên quan đến học tập của đối tượng nghiên cứu như:
nghiên cứucủa Tabassum Alvi [9] cho biết trầm cảm phổ biến hơn ở SV năm 2 (tỷ lệ
43%), tuổi (p=0,013), giới (p=0,016), không bằng lòng với kết quả thi cử (p=0,002),
Kết quảcác nghiên cứu đưa ra cũng cho thấy một tỷ lệ ở mức tương đối cao
của trầm cảm trong SV các trường y tại nước ta nhưng nhìn chung vẫn ở mức thấp
hơn so với tỷ lệ trầm cảm tìm thấy ở đối tượng SV y trên thế giới cụ thể: kết quả
củanghiên cứu mô tả cắt ngang trên 2099 SV y các năm 1, 3 và 5 tại tám trường y
của Việt Nam do nhóm tác giả Trần Quỳnh Anh, Michael P Dunne, Hoạt Lưu Ngọc
[10] thực hiện về hạnh phúc, trầm cảm và ý định tự sát trong số SV y của Việt Nam,
sử dụng thang đo CES-D để đo lường mức độ trầm cảm. Kết quả nghiên cứu cho
thấy khoảng 25% SV có trải qua trầm cảm mức độ nhẹ trong thời gian gần đây.Một
nghiên cứu nhỏ hơn ở đối tượng SV yđa khoa trường đại học Y Hà Nộicủa tác
giảNguyễn Thị Bích Liên [3], sử dụng thang đo CES-D cho thấy tỷ lệ SV có nguy
cơ trầm cảm cao là 47,6%.
Tỷ lệ trầm cảm thấp hơn được tìm thấy trong nghiên cứu của tác giả Trần Thị
Kim Trang [8]tiến hành trên 483 SV năm thứ 2 khoa y và răng hàm mặt Đại học Y
Dược Thành phố Hồ Chí Minh (ĐHYD TPHCM)trong tháng 6/2011nhằm khảo sát
tình trạng stress, lo âu và trầm cảm ở đối tượng nghiên cứu. Sử dụng thang đánh giá
DASS -21. Kết quả cho thấy tỷ lệ SV bị trầm cảm 28,8% (mức độ nhẹ, vừa, nặng và
rất nặng lần lượt là: 11,2%, 8,1%, 0,8%, 2,3%).Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn
Hùng [16] về mối liên quan giữa chiến lược học tập tự điều chỉnh với thành tích học
tập và sức khỏe tâm thần trên 1246 SV y khoa từ năm 1 đến năm 5 trường Đại học Y
Dược Huế có sử dụng thang đo DASS-21. Kết quả nghiên cứu cho biết tỷ lệ trầm
cảm trong SV ở mức độ vừa trở lên là: 22,8%.
Ngoài các nghiên cứu tiến hành trên đối tượng y đa khoa, nghiên cứu về trầm
cảm ở các đối tượng khác cũng đang được chú trọng như: nghiên cứu về trầm cảm
và các yếu tố liên quan đến trầm cảm trong SV ĐDtại trường đại học Y Thái
Nguyên, năm 2011 của tác giả Hoàng Minh Hương [18], sử dụng thang đo CES-D.
Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng 45,6% SV ĐDcó điểm số được báo cáo là trầm
cảm (CES-D ≥ 16). Cũng báo cáo tỷ lệ trầm cảm ở SV là 45,6%(trong đó trầm cảm
mức độ vừa trở lên là 24,3%) là kết quả củanghiên cứu về trầm cảm, lo âu và stress
ở đối tượng SV y học dự phòng hệ chính quy năm 2015 của tác giả Nguyễn Tất Hòa
thì nam nhiều hơn nữ.
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Hùng [17]cho thấy phương pháp học tập
có ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần của SV, cụ thể là việc áp dụng chiến lược học
tập tự điều chỉnh giúp giảm mức độ nghiêm trọng của trầm cảm ở SV, từ đó góp
13
phần nâng cao thành tích học tập.Nghiên cứu còn tìm được các yếu tố khác liên
quan với trầm cảm, lo âu và stress là tài chính khó khăn, mất người thân và tiền sử
gia đình. Nghiên cứu không tìm được mối liên quan giữa trầm cảm với giới
tính.Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Tất Hòa [2] cũng đã tìm được các yếu tố nguy
cơ với trầm cảm: ở trọ (nhất là ở trọ với người quen hoặc với bạn), cảm thấy áp lực
học tập nặng nề, gặp khó khăn trong tìm kiếm phương pháp học tập phù hợp, thiếu
trang bị máy vi tính phục vụ học tập, tình trạng tài chính khó khăn, hiện tại đang bất
hòa với người yêu, tiền sử gia đình, chọn biện pháp ứng phó với tiêu cực là tự giải
quyết hoặc không làm gì khi gặp khó khăn. Các yếu tố bảo vệ được tìm thấy là: có
bạn thân, tập thể dục thường xuyên, hài lòng với mối quan hệ gia đình, bạn bè, chọn
biện pháp ứng phó tích cực là tâm sự với bạn bè khi gặp khó khăn..
1.3.Mô tả địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại Trường Đại học Y Dược Huế.
Trường Đại học Y Dược Huế là một trong số 8 trường đại học thuộc đại học
Huế nằm ở trung tâm thành phố Huế được thành lập vào năm 1957. Hiện nay có
hơn 10.000 SV đang học tập và nghiên cứu tại trường. Các đối tượng đang được
trường đào tạo gồm: hệ chính quy, hệ vừa học vừa làm và hệ sau đại học. Năm
2004, khoa Điều Dưỡng, trường Đại học Y Dược Huế được thành lập trên cơ sở
của bộ môn Điều Dưỡng (1998). Từ đó bắt đầu đào tạo cử nhân Điều Dưỡng chính
quy hệ 4 năm. Trường đào tạo ngành Kỹ thuật Y Học (KTYH) hệ chính quy 4
năm, gồm 3 mảng chính: xét nghiệm, vật lý trị liệu và chẩn đoán hình ảnh. Hiện
nay, nhà trường chính thức tách ngành KTYH thành hai chuyên ngành riêng biệt
α: mức ý nghĩa thống kê, chọn α = 0,05 thì Z(1-α/2) = Z0,975 = 1,96 (trị số từ phân
phối chuẩn).
d: sai số cho phép giữa tỷ lệ trầm cảm thu được từ mẫu nhiễn cứu (p) và tỷ lệ
trầm cảm thực của quần thể (P), ở đây ta lấy d= 0,05.
p: tỷ lệ ước đoán của quần thể =0,456 (theo nghiên cứu “Tỷ lệ và các yếu tố
15
liên quan đến trầm cảm, lo âu và stress ở sinh viên y học dự phòng hệ chính quy
Trường Đại học Y Dược Huế” của tác giả Nguyễn Tất Hòa năm 2015, kết quả thu
được là có 45,6% SV có trầm cảm trong tổng số 423 SV tham gia nghiên cứu) [2].
Thay vào công thức trên, ta được:
n = Z2(1 - ) x = 1,962 x = 382 SV
Thêm 10% số mẫu tối thiểu dự trù trường hợp một số mẫu có thể bị mất trong
quá trình thu thập số liệu. Khi đó, ta tính được cỡ mẫu là: 382 + 382 x 0,1 = 421 SV.
Để tăng độ chính xác của nghiên cứu ta chọn cỡ mẫu của nghiên cứu là:
n=450 SV.
2.2.3. Phương pháp chọn mẫu
Áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng theo tỷ lệ gồm 2 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Phân tầng theo tỷ lệ đối với từng năm học theo ngành.
Giai đoạn 2: Tiến hành chọn mẫu ngẫu nhiên đơn theo tỷ lệ đối với từng lớp.
2.2.3.1. Tính toán số mẫu phù hợp với tỷ lệ cho mỗi tầng
Số mẫu phù hợp theo tỷ lệ cho mỗi tầng được tính toán dựa trên công thức:
ni = n x
Trong đó:
ni: Cỡ mẫu của tầng i
n: Cỡ mẫu nghiên cứu
Ni: Số lượng quần thể tầng i
N: Số lượng của quần thể
Năm 2
104
54
Năm 3
111
57
Năm 4
54
28
Năm 1
108
56
Năm 2
87
45
Năm 4
27
14
870
450
Tổng
2.2.3.2. Chọn số sinh viên vào mẫu trong mỗi lớp
Sau khi có danh sách các lớp theo ngành học và theo năm học. Tiến hành lập
khung mẫu bằng cách sắp xếp lại thứ tự tất cả các SV theo trật tự a, b, c,... của từng
năm theo ngành học. Sau đó, ta tiến hành chọn mẫu ngẫu nhiên đơn để chọn ra đủ
số mẫu cần thiết.
2.3. CÔNG CỤ VÀ KỸ THUẬT THU THẬP SỐ LIỆU
2.3.1. Công cụ thu thập số liệu
Sử dụng bộ câu hỏi tự điền ẩn danh đã được thiết kế sẵn, bộ câu hỏi gồm 3 phần:
Phần 1: Thu thập thông tin về đặc điểm của đối tượng nghiên cứu (tuổi, giới
tính, dân tộc, ngành học, năm học,…).
Phần 2: Thu thập thông tin về các yếu tố liên quan đến trầm cảm bao gồm cả
thang đo áp lực học tập Education Stress Scale for Adolescents (ESSA).
Phần 3: Hỏi về sự tự nhận thức tình trạng trầm cảm của đối tượng qua thang
17
Bảng 2.2. Thang điểm phân chia mức độ trầm cảm theo BDI-II
Mức độ nghiêm trọng
Bình thường
Nhẹ
Trung bình
Nặng
Mức độ tin cậy của thang đo BDI-II :
BDI-II
0 – 13
14 – 19
20 – 28
29 – 63
Thang đo BDI-II có hệ số Cronbach’s alpha ở hầu hết các nghiên cứu về BDIII trung bình khoảng 0,9 (dao động trong khoảng 0,83-0,96). Điều này đảm bảo tính
nhất quán của thang đo khi hệ số Cronbach’s alpha > 0,7. Về mặt giá trị, thang đo
BDI-II được so sánh với các thang đo khác sử dụng để đánh giá trầm cảm như thang
đo CES-D, HAM-D, SDS, MADRS, GDS cũng cho thấy tính đồng thời và hiệu lực
của BDI-II ở mức khá cao, dao động 0,66-0,86. Về độ nhạy của thang đo, các
nghiên cứu về BDI-II đã báo cáo độ nhạy ≥ 0,7 và độ đặc hiệu là khoảng 75% và
cao hơn [31].
2.3.1.2. Thang đo áp lực học tập ESSA
Thang đo áp lực học tập ESSA là công cụ mới để đánh giá áp lực học tập được
sử dụng để đo lường tính chất đa chiều của căng thẳng trong học tập bao gồm: áp
lực từ việc học, lo lắng về điểm số, sự thất vọng, sự tự kỳ vọng và khối lượng công
việc. Với mục đích để xác định học sinh có nguy cơ rối loạn tâm thần thì thang đo
ESSA có thể phục vụ như là một công cụ hữu ích [24].
Thang đo này gồmcó 16 câu được chia thành 5 phần: áp lực từ việc học; lo
lắng về điểm số; sự thất vọng; sự tự kỳ vọng và khối lượng công việc. Mỗi câu sử
lớp. Trên cơ sở lịch học, chọn thời điểm phù hợp để tiến hành thu thập số liệu sao
cho ít ảnh hưởng nhất tới quỹ thời gian của những bạn được chọn tham gia vào
nghiên cứu.
Trong trường hợp SV có trong danh sách không tham gia nghiên cứu, điều tra
viên sẽ chọn ra một số bạn theo thứ tự trong danh sách mẫu dự phòng của lớp đó để
tiếp tục điều tra tránh mất mẫu ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu.
2.4. CÁC BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU VÀ CÁCH LƯỢNG GIÁ
2.4.1. Các biến số về đặc điểm chung của sinh viên
- Tuổi
- Giới tính
- Chuyên ngành học
- Năm học
20
- Dân tộc
- Tôn giáo
- Hộ khẩu thường trú
- Nơi tạm trú hiện tại
- Nếu ở trọ thì đang ở cùng với ai
- Nghề nghiệp của bố
- Nghề nghiệp của mẹ
2.4.2. Các biến số về các đặc điểm liên quan đến học tập của sinh viên
- Có máy tính phục vụ học tập không
- Có nối mạng internet không
- Lý do chọn ngành học hiện tại
- Thích thú với công việc học
- Nếu không, lý do không thích thú là gì
- Hài lòng với phương pháp học hiện tại không
- Hiện tại, bạn có đang xung đột với bạn cùng phòng hay những người xung
quanh không
2.5. PHÂN TÍCH VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU
- Số liệu được kiểm tra và làm sạch trước khi nhập liệu.
- Số liệu điều tra được mã hóa, nhập trên phần mềm Epidata 3.1.
- Xử lý thống kê sử dụng phần mềm SPSS 11.5.
- Sử dụng test Chi-Square để tìm sự khác biệt giữa các tỷ lệ ở mức ý nghĩa
α=0,05 và hệ số tương quan r được sử dụng để tìm sự khác biệt về điểm số trầm
cảm với các biến số định lượng.
- Kết quả được trình bày thành bảng và biểu đồ phù hợp với mục đích nghiên cứu.
2.6. ĐẠO ĐỨC NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu được sự đồng ý của Ban Giám Hiệu, Phòng Đào Tạo Đại học,
Phòng Công Tác Sinh Viên và các phòng, ban liên quan.
- Việc tham gia của SV là hoàn toàn tự nguyện sau khi đã được giải thích rõ về
mục đích và ý nghĩa của nghiên cứu.
- Thông tin được thu thập một cách khách quan và trung thực.
22
Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Bảng 3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Điều Dưỡng
Đặc điểm
N=215
n (%)
hình ảnh
N=136
N=92
n (%)
n (%)
Chung
N=443
n(%)
23
Điều Dưỡng
Đặc điểm
N=215
n (%)
Kỹ thuật
Kỹ thuật
xét nghiệm
Nội trợ
Cán bộ công chức
Buôn bán
Nghề khác
3.2. TỶ LỆ TRẦM CẢM THEO CÁC MỨC ĐỘ Ở SINH VIÊN ĐIỀU
DƯỠNG, KỸ THUẬT Y HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HUẾ
Bảng 3.2.Tỷ lệ trầm cảm theo các mức độ ở sinh viên Điều
Dưỡng, Kỹ thuật Y học
Mức độ
Bình thường (BDI-II
HUẾ
3.3.1. Liên quan giữa các đặc điểm nhân khẩu học và trầm cảm
Bảng 3.4. Liên quan giữa các đặc điểm nhân khẩu học với trầm cảm
ở đối tượng nghiên cứu
Đặc điểm
Trầm cảm
n
1. Giới
2. Ngành học
3. Năm học
4. Dân tộc
5. Tôn giáo
6. Hộ khẩu
Nam
Nữ
Điều dưỡng
Kỹ thuật hình ảnh
Kỹ thuật xét nghiệm
Năm nhất
Năm hai
Năm ba
Năm bốn
Kinh
Thiểu số
Có
Không
n
%
Ở với gia đình
Ở ký túc xá
7. Nơi ở
Ở nhà người quen
Ở trọ
Ở một mình
8. Ở với ai
Bạn khác ngành
(trong số những
Bạn cùng ngành
bạn ở trọ)
Anh/chị em
Nông dân
Công nhân
9. Nghề
Thợ thủ công
nghiệp của bố Cán bộ công chức
Buôn bán
Khác
Nông dân
Công nhân
10. Nghề
Nội trợ
nghiệp của mẹ Cán bộ công chức
Buôn bán