MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong hệ thống chính trị bốn cấp ở nước ta hiện nay, hệ thống chính trị cấp cơ
sở (xã, phường, thị trấn) là một bộ phận có vị trí rất quan trọng. Cấp cơ sở không
chỉ thực hiện chức năng lãnh đạo, quản lý và điều hành trực tiếp mọi mặt đời sống
xã hội ở cơ sở, mà còn làm chức năng vận động quần chúng và triển khai thực hiện
thắng lợi những chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của nhà nước trong
thực tiễn. Do đó, công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí sử dụng cán bộ ở
cấp cơ sở là một nhiệm vụ thường xuyên và mang tính chiến lược của thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong đó, việc sử dụng cán bộ là
khâu giữ vai trò quyết định đến hiệu quả hoạt động của toàn bộ hệ thống chính trị
cấp cơ sở.
Tỉnh Hậu Giang sau 09 năm thành lập đã nhận được sự quan tâm, đầu tư của
Trung ương, sự hỗ trợ của các bộ, ban ngành. Đặc biệt, với sự quan tâm chỉ đạo
sâu sát của lãnh đạo các cấp, trình độ, năng lực, đạo đức của đội ngũ cán bộ, công
chức trong hệ thống chính trị đã và đang được nâng lên từng bước đáp ứng yêu
cầu của tình hình mới, đặc biệt là ở cấp cơ sở.
Theo Sở Nội vụ tỉnh Hậu Giang, 05 năm thực hiện công tác đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức cấp xã tỉnh Hậu Giang giai đoạn 2006 - 2010, tỉnh đã đạt
được nhiều kết quả cụ thể sau: Số lượng cán bộ, công chức cấp xã qua đào tạo là
788/1.377 người, chiếm 57,2% (so với năm 2004 là 23,85%; tăng 33,35%); cán
bộ, công chức có trình độ trung cấp là 599/1.377 người, chiếm 43,5%, tăng 26,4%
so với năm 2004; trình độ đại học là 168/1.377, chiếm 12,2%, tăng 10,05% so với
năm 2004... Như vậy, so với năm 2004, trình độ cán bộ, công chức cấp xã đã được
nâng lên đáng kể, hầu hết 07 chức danh công chức cấp xã đã được qua đào tạo, bồi
dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ, bước đầu cơ bản đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ
được giao.
1
Tuy nhiên, công tác sử dụng cán bộ, công chức sau đào tạo ở cơ sở hiện nay
45,8%. Do vậy, hiện nay số lượng cán bộ, công chức cấp cơ sở chưa qua đào tạo
chuyên môn và lý luận chính trị còn khá lớn, đặc biệt với các chức danh chủ chốt
như Bí thư, Phó Bí thư, Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chỉ tịch Ủy ban nhân dân ở
một số địa phương chưa đáp ứng được tiêu chuẩn đề ra; đặc biệt, cán bộ, công
chức giữ các chức vụ lãnh đạo ở các đoàn thể chính trị-xã hội, như Hội Cựu chiến
binh, Hội Nông dân, Hội Liên hiệp phụ nữ... hầu hết đều có tuổi đời khá cao, có
nhiều kinh nghiệm thực tiễn, song hạn chế về năng lực chuyên môn, nên việc đào
tạo, bồi dưỡng cho lực lượng này gặp nhiều khó khăn.
Chính những bất cập trên đã dẫn đến thực trạng đội ngũ cán bộ công chức cấp
cơ sở không được bố trí đúng chỗ, đúng việc; cán bộ phải kiêm nhiệm cùng lúc
nhiều nhiệm vụ, từ đó tạo ra những ức chế trong công tác và các hoạt động chuyên
môn, giảm hiệu quả trong việc triển khai và tổ chức thực hiện những chủ trương
chính sách của Đảng, nhà nước ở địa phương; dẫn đến sự lãng phí công sức, chi
phí đào tạo, lãng phí nguồn chất xám… Đó là những vấn đề mang tính cấp thiết
cần sớm giải quyết.
Nhận thức được những vấn đề cấp thiết đó, tác giả chọn đề tài “Hiệu quả sử
dụng cán bộ, công chức cấp cơ sở sau đào tạo trên địa bàn tỉnh Hậu Giang”,
nhằm tiếp tục thực hiện khảo sát, tổng hợp, thống kê một cách khách quan, khoa
học thực trạng việc sử dụng cán bộ, công chức sau đào tạo ở cấp cơ sở, để từ đó
đưa ra những nhận định khoa học, chính xác về thực trạng vấn đề sử dụng cán bộ,
cũng như xác định hiệu quả của vấn đề sử dụng cán bộ công chức cấp cơ sở của
tỉnh nhà trong thời gian qua với mục đích làm cơ sở khoa học và thực tiễn tham
mưu cho Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh và các ngành, các cấp trong công tác quy
hoạch, đào tạo, sắp xếp, luân chuyển, sử dụng cán bộ, công chức ở cơ sở đạt hiệu
quả cao nhất, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần
thứ XI và các chỉ tiêu, nhiệm vụ Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII đã vạch ra.
3
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Hiện nay ở nước ta đã có nhiều công trình, đề tài khoa học, bài viết khoa
học nghiên cứu về cán bộ công chức nói chung và cán bộ công chức cấp cơ sở (xã,
phường, thị trấn) nói riêng ở nhiều địa phương trên cả nước. Các công trình khoa
học này được trình bày dưới nhiều hình thức khác nhau, như: Báo cáo tổng kết; đề
tài khoa học; bài viết khoa học; sách chuyên khảo, tham khảo; luận văn… nhằm
tổng kết khái quát và đưa ra những nhận định, đánh giá cùng những giải pháp cơ
bản nhằm mục đích góp phần không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt
động của đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở.
Liên quan đến các nội dung nghiên cứu của đề tài về đối tượng cán bộ, công
chức cấp cơ sở có các công trình tiêu biểu sau:
- Bộ Nội vụ - Viện khoa học tổ chức Nhà nước (2006), “Xây dựng đội ngũ
cán bộ, công chức cơ sở người dân tộc thiểu số ở Tây nguyên”, (Đề tài khoa học
cấp Bộ do TS. Hồ Công Dũng chủ nhiệm).
Ở đề tài này, thông qua việc khảo sát, phân tích những đặc điểm, điều kiện
công tác đặc thù của đội ngũ cán bộ công chức cơ sở người dân tộc thiểu số ở các
tỉnh Tây Nguyên trên hai phương diện - nội dung: số lượng và chất lượng của đội
ngũ cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số thuộc cấp cơ sở ở các tỉnh Tây
nguyên, qua đó tác giả đưa ra các nhóm giải pháp về công tác tạo nguồn; xây dựng
quy hoạch đội ngũ cán bộ công chức; đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ; Xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp với đặc thù của đội ngũ cán bộ, công
chức cơ sở người dân tộc thiểu số và yêu cầu cần đổi mới công tác đánh giá và sử
dụng cán bộ, công chức cơ sở người dân tộc thiểu số Tây Nguyên.
- Nguyễn Thị Ngọc Diễm (2010), “Đổi mới tổ chức và hoạt động của chính
quyền cấp cơ sở ở nước ta hiện nay (qua ví dụ tỉnh Hà Nam)”, Luận văn Thạc sĩ
5
chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Nhà nước và pháp luật, Nhà xuất bản Đại học
Quốc Gia Hà Nội.
chế độ lương, phụ cấp và chính sách ưu tiên, ưu đãi đối với cán bộ, công chức cấp
xã, đặc biệt là đối với cán bộ chủ chốt, đơn vị vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt
khó khăn; quy định rõ về việc bầu và bầu lại đối với cán bộ, đặc biệt là với các
chức danh lãnh đạo chủ chốt ở cơ sở, đảm bảo cho việc yên tâm công tác, cống
hiến; xây dựng bộ tiêu chuẩn chức danh cán bộ chủ chốt của hệ thống chính trị cấp
xã phù hợp với thực tiễn và nhu cầu của tỉnh; Thực hiện luân chuyển cán bộ, công
chức về làm việc tại cấp xã; Có chính sách thu hút người có trình độ đại học trở
lên và người trẻ tuổi về làm việc tại cấp xã, đồng thời hổ trợ đối với cán cán bộ,
công chức cấp xã có năng lực, trình độ, sức khoẻ không đảm bảo thực hiện nhiệm
vụ chung của địa phương; Xây dựng chiến lược, quy hoạch cán bộ cấp xã đảm bảo
khoa học, hợp lý phù hợp với thực tiễn của tỉnh và thực hiện tốt công tác đào tạo
bồi dưỡng đối với cán bộ, công chức cấp xã.
- Từ khía cạnh hệ thống chế độ, chính sách để tạo đòn bẩy nâng cao chất
lượng và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ công chức cấp cơ sở, có
đề tài của tác giả Trương Ngọc Hùng về “Giải pháp tạo động lực cho cán bộ,
công chức xã, phường thành phố Đà Nẵng”, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Kinh
tế phát triển, Nhà xuất bản Đại học Đà Nẵng, năm 2012.
Để làm rõ mục tiêu nghiên cứu, thông qua việc khảo sát thực trạng việc sử
dụng chính sách tạo động lực cho cán bộ cấp xã, phường trên 8 nội dung: Lương
cơ bản; Các khoản phụ cấp; Các chế độ đãi ngộ và phúc lợi; Khen thưởng; Công
tác tuyển dụng và sử dụng công chức; Công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất
lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã phường; Công tác đánh giá, quy hoạch,
luân chuyển cán bộ xã phường và công tác đề bạt, bổ nhiệm. Trên cơ sở xác định
những tác động từ các yếu tố trên đến quá trình thực hiện chức trách, nhiệm vụ của
người cán bộ công chức ở cơ sở, tác giả đưa ra 5 nhóm giải pháp gồm: Nhóm giải
pháp tăng thu nhập (lương, phụ cấp, đãi ngộ, khen thưởng); Cải thiện môi trường
làm việc (tiêu chuẩn hoá chức danh, bố trí, sử dụng cán bộ, công chức phù hợp,
7
Trung Ngôn, luận văn Thạc sĩ khoa học chính trị, Nhà xuất bản Học viện Chính trị
- Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2012.
Tác giả cho rằng, để nâng cao chất lượng của hệ thống chính trị cấp cơ sở
cần phải nâng cao hiệu quả trong sử dụng cán bộ, công chức, trong đó, đặc biệt
cần phải chuẩn hoá các chức danh cán bộ chủ chốt. Trên cơ sở đó, một trong
những yếu tố đảm bảo cho đội ngũ này hoạt động có hiệu quả thì công tác “Bầu
cử, bố trí và sử dụng cán bộ chủ chốt cấp xã phải đảm bảo đúng theo tiêu chuẩn,
đúng lúc, đúng tầm, đúng việc, đúng quy trình và phải phù hợp với năng lực, sở
trường công tác của cán bộ và yêu cầu của công việc…” [32,102].
Qua việc khái quát, hệ thống các đề tài khoa học, các công trình nghiên cứu
trên cho thấy, đối tượng cán bộ công chức trong hệ thống chính trị cấp cơ sở đã
được đề cập đến ở nhiều cấp độ dưới nhiều khía cạnh khác nhau.
Tuy nhiên, do việc xác định đối tượng và khách thể nghiên cứu ở mỗi công
trình có khác nhau; quá trình sử dụng các phương pháp nghiên cứu và cách tiếp
cận khác nhau; phạm vi không gian và thời gian nghiên cứu khác nhau nên về mặt
mục tiêu và nội dung giữa các công trình nêu trên so với đề tài: “Hiệu quả sử dụng
cán bộ, công chức cấp cơ sở sau đào tạo trên địa bàn tỉnh Hậu Giang” cũng khác
so với các công trình đã đề cập.
Trên địa bàn tỉnh Hậu Giang từ khi thành lập tỉnh đến nay, đã có một số
công trình nghiên cứu cũng có đề cập đến đối tượng cán bộ, công chức cấp sơ sở,
trong nội dung một số luận cứ và luận điểm có đề cập đến các yếu tố ảnh hưởng
đến hiệu quả việc sử dụng cán bộ, công chức ở cấp cơ sở. Tuy nhiên, như đã trình
bày, do việc xác định đối tượng, khách thể và mục tiêu khác nhau nên các luận
điểm cùng các giải pháp được nêu ra trong các công trình đã công bố chỉ dừng ở
mức độ nêu ra mà chưa có những dẫn luận mang tính hệ thống. Do vậy, đề tài
“Hiệu quả sử dụng cán bộ, công chức cấp cơ sở sau đào tạo trên địa bàn tỉnh Hậu
Giang” là một vấn đề hoàn toàn mới.
9
chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác-Lênin trong phương pháp luận của
mình, cụ thể:
Thứ nhất: nhóm thực hiện dựa trên nguyên tắc xuất phát từ thực tế khách
quan, từ những cơ sở thực tiễn để xác định quy luật vận động, phát triển của sự vật
và hiện tượng và đưa ra luận điểm.
Thứ hai: xác định vấn đề từ những mâu thuẫn vấn đề dựa trên nguyên lý về
sự phát triển - biểu hiện theo quy luật mâu thuẫn, đặt ra giả thuyết luận tìm hiểu
nguyên nhân và định ra phương hướng giải quyết vấn đề.
11
2.2.2. Cơ sở, nguyên tắc thực hiện
Cơ sở, nguyên tắc thực hiện đề tài dựa trên những quy định, hướng dẫn của
Đảng và cơ quan Đảng, Nhà nước như: tài liệu Văn kiện, Nghị quyết… về công
tác cán bộ; Luật cán bộ, công chức; các văn bản quy định, hướng dẫn việc tổ chức
thực hiện công tác cán bộ ở cấp cơ sở do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban
hành, cụ thể:
* Về các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, đề tài quán triệt nguyên tắc
chỉ đạo, hướng dẫn của các văn bản sau:
1- Nghị quyết Trung ương 3 (khoá VIII) về “Chiến lược cán bộ thời kỳ công
nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước”.
2- Nghị quyết Trung ương 5 (khoá IX) về “Đổi mới và nâng cao chất lượng
hệ thống chính trị cơ sở xã, phường, thị trấn”.
3- Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 30 tháng 11 năm 2004 của Bộ Chính trị
về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước.
4- Hướng dẫn số 15-HD/BTCTW ngày 05 tháng 11 năm 2012 của Ban Tổ
chức Trung ương về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý theo tinh thần
Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 30 tháng 11 năm 2004 của Bộ Chính trị (Khoá IX)
2.3. Cách tiếp cận vấn đề
Để giải quyết những vấn đề mang tính cấp thiết về hiệu quả sử dụng cán bộ,
công chức ở cấp cơ sở sau đào tạo của tỉnh trong giai đoạn hiện nay cần sử dụng
nhiều phương pháp, cách thức tiếp cận trên nhiều góc độ và phương diện. Nhóm
thực hiện đề tài tiếp cận từ 3 góc độ:
- Thứ nhất: tiếp cận từ chức năng, nhiệm vụ của công tác tổ chức và quá
trình hoạt động của đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở. Mục tiêu cần đạt được
qua cách tiếp cận này là:
+ Hệ thống, khái quát về thực trạng công tác sử dụng cán bộ công chức và
hoạt động của cán bộ, công chức cấp cơ sở trong thực tiễn.
13
+ Từ các thông số, dữ liệu đã thống kê, tổng hợp được, cho phép xác định
được những nhu cầu đặt ra trong công tác sử dụng cán bộ và làm cơ sở để đề ra
các nhiệm vụ phải giải quyết vấn đề.
- Thứ hai: tiếp cận từ công tác cán bộ: tuyển dụng, quy hoạch, đào tạo, bố
trí, sử dụng và đãi ngộ cán bộ công chức cấp cơ sở. Mục tiêu cần đạt được qua
cách tiếp cận này là:
+ Xác định những ưu điểm và hạn chế trong công tác tuyển dụng, quy hoạch
và sử dụng cán bộ, công chức cấp cơ sở.
+ Tìm ra những yếu tố phù hợp và bất cập giữa khâu đào tạo (học ngành gì)
và bố trí sử dụng cán bộ (làm việc gì) ở cấp cơ sở.
- Thứ ba: tiếp cận trực tiếp đối tượng cán bộ, công chức cấp cơ sở. Với cách
tiếp cận này, mục tiêu của nhóm thực hiện đề tài tìm hiểu về người cán bộ, công
chức cấp cơ sở trên nhiều phương diện (trình độ học vấn, trình độ chính trị,
chuyên môn nghiệp vụ, chức trách, nhiệm vụ được giao, khả năng cống hiến, tâm
tư nguyện vọng…), từ đó xây dựng các giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế;
phát huy, năng lực, sở trường, sức sáng tạo và sự cống hiến của người cán bộ cấp
2.4.3. Phương pháp điều tra xã hội học thông qua bản (phiếu) câu hỏi
Để tìm hiểu thực trạng bố trí, sử dụng cán bộ, công chức sau đào tạo trên địa
bàn tỉnh Hậu Giang, nhóm thực hiện đề tài sử dụng phương pháp điều tra xã hội
học. Cách thức điều tra là chọn mẫu, loại mẫu phi xác suất, cụ thể là mẫu phân
suất theo phán đoán dưới dạng các câu hỏi đóng.
Mẫu phiếu được chọn dựa trên các tiêu chí:
+ Trình độ học vấn;
+ Trình độ chuyên môn nghiệp vụ;
+ Trình độ chính trị;
+ Vị trí công tác.
Tổng số lượng câu hỏi là 35 câu, trong đó 31 câu hỏi đóng (từ câu 1 đến câu
31) và 4 câu dành cho phỏng vấn (từ câu 32 đến câu 35).
15
Do điều kiện không tìm hiểu hết toàn bộ đội ngũ cán bộ công chức cấp cơ
sở của tỉnh Hậu Giang, nhóm thực hiện đề tài chỉ khảo sát ngẫu nhiên 60/74 xã,
phường, thị trấn và 07 đơn vị (huyện, thị, thành) của toàn tỉnh với 1400 phiếu câu
hỏi để khảo sát ngẫu nhiên 1400 cán bộ công chức, cụ thể:
- Có 84 cán bộ, công chức là các chức danh lãnh đạo thuộc các Phòng, Ban
ở 7 đơn vị cấp huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh, gồm các huyện: Châu Thành,
Châu Thành A, Long Mỹ, Phụng Hiệp, Vị Thuỷ, Thị xã Ngã Bảy và Thành phố Vị
Thanh (với 12 phiếu / 1 đơn vị).
- Có 1316 cán bộ, công chức ở 60 đơn vị (đv) cấp cơ sở (xã, phường, thị
trấn), trong đó mỗi đơn vị cấp cơ sở phát 22 phiếu (p), trong đó:
(1). Huyện Châu Thành:
- Số phiếu: 8 (đv) x 22 (p) = 176 phiếu.
- Đơn vị xã, thị trấn điều tra: Đông Phước, Đông Phước A, Đông Phú, Đông
Thạnh, Phú An, Phú Hữu, Thị trấn Mái Dầm, Thị trấn Ngã Sáu.
2.3.4. Phương pháp phỏng vấn
Ngoài số người trả lời qua phiếu khảo sát (bản câu hỏi) trong quá trình thực
hiện khảo sát, nhóm thực hiện tiến hành phỏng vấn trực tiếp một số cán bộ, công
chức cấp cơ sở để tìm hiểu những quan điểm, nhận định về thực trạng công tác cán
bộ tại cơ sở, thông qua đó nhằm bổ sung và củng cố thêm các nhận định từ các số
liệu đã điều tra.
Mục đích của sử dụng phương pháp phỏng vấn là thu thập dữ liệu ban đầu
cho việc thiết kế bản câu hỏi và bổ sung thêm thông tin cho các kết luận thu được
từ việc xử lý số liệu.
2.5. Phương tiện nghiên cứu
Nhóm thực hiện đề tài thiết kế bảng nhập dữ liệu và xử lý thông tin trên nền
tảng phần mềm Microsoft Office Access Application. Bảng thiết kế có cấu trúc và
các chức năng ứng dụng như sau:
2.5.1. Cấu trúc
17
Giao diện phần mềm được thiết kế gồm 02 menu chính: Nhập phiếu điều tra
và In ấn.
- Nhập phiếu điều tra: gồm hai tiểu mục: Nhập phiếu điều tra và thoát khỏi
chương trình.
- In ấn: Hiển thị các thông số về kết quả điều tra để in kết quả điều tra.
2.5.2. Chức năng
- Chức năng nhập số liệu điều tra: các số liệu, thông số thông tin của đối
tượng được điều tra được ghi trong các phiếu câu hỏi sẽ được các điều tra viên
nhập (nguyên mẫu) sang phần mềm.
- Chức năng thống kê các chỉ số, thông số thông tin kết quả điều tra: sau khi
các thông tin được điều tra viên nhập (thông tin lấy từ phiếu điều tra XHH), phần
mềm sẽ lưu lại và báo cáo trung thực số lượng đối tượng (được điều tra); các chỉ
chuyên môn trình độ trung cấp chỉ chiếm 25%, thì sau 9 năm, tỷ lệ đó đã tăng lên
đến 56,96%, với 826 trường hợp, tăng 535 trường hợp so với năm 2004.
Đồng thời, trình độ chuyên môn cao đẳng của cán bộ, công chức cũng tăng
từ 0,08%, lên 1,65% (năm 2013), với 24 cán bộ, công chức so với 1 cán bộ, công
chức ở thời điểm năm 2004; trình độ chuyên môn đại học tăng từ 2,3% lên 15,72%
(năm 2013), với 228 cán bộ, công chức so với 27 cán bộ, công chức ở thời điểm
năm 2004.
19
Bảng 3.1. Trình độ chuyên môn của CBCC cấp cơ sở từ năm 2004 đến 2013:
Năm
2004
2005
2006
2007
2008
2009
2010
2011
2012
2013
Tổng
số
CB,
CC
1.165
589
371
X
X
63,6
63,7
64,3
45,8
46,8
42,5
42,8
25,4
X
X
105
107
123
175
17
17
21
29
X
X
Tỷ lệ
(%)
9,01
43,14
43,50
44,20
51,64
56,96
Cao
đẳng
SL
1
16
6
4
X
X
X
X
19
24
Tỷ lệ
(%)
0,08
1,35
0,5
0,3
X
X
X
X
học
SL
Tỷ lệ
(%)
3
2
0,20
0,13
(Nguồn: Sở Nội vụ tỉnh Hậu Giang)
Đặc biệt, đến năm 2013, trình độ chuyên môn sau đại học của cán bộ, công
chức đã chiếm 0,13%, đây là bước phát triển mạnh mẽ trong công tác đào tạo cán
bộ, công chức cấp cơ sở, bởi từ năm 2004 đến năm 2011, cấp cơ sở không có cán
bộ, công chức đạt trình độ chuyên môn sau đại học.
Hình 3.1. Trình độ chuyên môn của CBCC cấp cơ sở từ năm 2004 đến 2013
Lực lượng cán bộ, công chức được đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn
trong thời gian qua đã tăng từ 424 cán bộ, công chức lên 1.080 cán bộ, công chức
(trong đó có 15 người là cán bộ dân tộc thiểu số; nam 13, nữ 2; cơ cấu độ tuổi trên
20
45 tuổi 04 người, từ 35 tuổi đến 45 tuổi là 04 người; dưới 35 tuổi là 07 người). Kết
quả này đã kịp thời đáp ứng được tình trạng hẫng hụt về trình độ chuyên môn của
cán bộ, công chức cấp cơ sở, từng bước góp phần to lớn vào việc thực hiện thắng
1.305
1.377
1.459
1.460
1.450
Chưa qua
đào tạo
Trình độ qua đào tạo
Sơ cấp
SL
Tỷ lệ
(%)
SL
308
313
306
295
355
341
258
299
X
X
23,38
24,40
X
X
Trung cấp
SL
483
487
548
660
601
605
748
742
704
720
Tỷ lệ
(%)
41,45
41,34
44,62
50,53
46,23
46,36
54,32
50,85
48,21
49,65
của cán bộ, công chức cấp cơ sở đã được nâng lên đáng kể. Nếu như ở năm 2004,
tỷ lệ cán bộ, công chức qua đào tạo trình độ lý luận chính trị bậc trung cấp chỉ
chiếm 41,45%, thì sau 9 năm, tỷ lệ đó đã tăng lên đến 49,65%, với 720 trường
hợp, tăng 237 trường hợp so với năm 2004.
21
Hình 3.2. Trình độ lý luận chính trị của CBCC cấp cơ sở từ 2004 đến 2013
Kết quả của công tác đào tạo, bồi dưỡng hàng năm cho thấy: trong các năm
2011, 2012 và 2013, tỷ lệ cán bộ, công chức được đào tạo trình độ lý luận chính trị
cao cấp liên tục tăng tương ứng hàng năm từ 4,24% lên 4,38% và 4,55%, so với
các năm 2008, 2009 và 2010 với tỷ lệ giảm tương ứng là 3,92% giảm xuống
3,90% và 3,55%. Điều đó cho thấy, trình độ lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ,
công chức ở cơ sở không ngừng được nâng cao qua các năm.
Tuy nhiên, qua kết quả của công tác đào tạo, bồi dưỡng trình độ lý luận
chính trị của cán bộ, công chức cấp cơ sở cho thấy: tỷ lệ tăng của số cán bộ, công
chức cấp cơ sở có trình độ từ trung cấp lý luận chính trị trở lên không cao và
không đều qua các năm và tốc độ tăng chậm. Cụ thể, năm 2004, tổng số cán bộ,
công chức cấp cơ sở có trình độ lý luận chính trị từ trung cấp trở lên là 563/1465
người, chiếm 48,31%, đến năm 2013 tổng số cán bộ, công chức cấp cơ sở có trình
độ lý luận chính trị từ trung cấp trở lên là 786/1450 người, chiếm 54,15%. Như
vậy, xét về cơ cấu giữa tỷ lệ cán bộ có trình độ lý luận chính trị từ trung cấp trở lên
với tổng số cán bộ, công chức ở cơ sở sau hơn 9 năm tăng 5,81%.
22
Trình độ chuyên
môn CBCC cấp
Trên cơ sở những kết quả đạt được trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức cấp cơ sở và qua thực tiễn tham gia công tác của đội ngũ cán bộ,
công chức cấp cơ sở thời gian qua, chúng ta rút ra một số kết luận khẳng định
những ưu điểm như sau:
Nhìn chung, đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở của tỉnh hiện nay đã khá hoàn
chỉnh theo quy định về số lượng, đã được rèn luyện, thử thách và trưởng thành
trong thực tiễn công tác. Số lượng, chất lượng, cơ cấu có sự chuyển biến theo
hướng tích cực. Hầu hết cán bộ, công chức ở cơ sở đều có bản lĩnh chính trị vững
vàng, luôn có ý thức rèn luyện, giữ vững phẩm chất chính trị, xây dựng khối đoàn
kết thống nhất ở từng địa phương. Thường xuyên trau dồi, rèn luyện phẩm chất
đạo đức cách mạng, có lối sống giản dị, lành mạnh, gần gũi với quần chúng nhân
dân. Đa số cán bộ, công chức ở các địa phương đều thể hiện vai trò tiên phong,
gương mẫu trên các mặt công tác, nêu cao trách nhiệm, năng động, sáng tạo, nỗ
lực phấn đấu để hoàn thành nhiệm vụ được phân công.
1.2. Công tác sử dụng cán bộ, công chức
Song song với công tác đào tạo, công tác sử dụng cán bộ, công chức ở cơ sở
luôn được các cấp, các ngành quan tâm và đã có những chuyển biến tích cực, bước
đầu mang lại hiệu quả và cơ bản đáp ứng được yêu cầu và nhiệm vụ mới của các
địa phương.
Đặc biệt, thực hiện triệt để quan điểm lãnh đạo của Đảng, Tỉnh ủy và lãnh
đạo các cơ quan Đảng, cơ quan chuyên môn các cấp, công tác bố trí sử dụng cán
24
bộ sau đào tạo từng bước ổn định theo hướng trẻ hoá và theo quy hoạch nguồn,
theo công việc. Thực tế cho thấy, đa số cán bộ, công chức sau khi được đào tạo
chuyên môn, nghiệp vụ và lý luận chính trị đã có kiến thức, trình độ, năng lực
vững vàng, có khả năng tự giác phát huy hiệu quả trí tuệ, đạo đức, nhân cách của
mình trong công việc, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của chính
quyền cơ sở.