Ủ rác thải gia đình bằng nấm trichoderma spp và vi sinh vật có ích để trồng rau an tòan ở huyện phụng hiệp, tỉnh hậu giang (tt) - Pdf 47

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
ĐỀ TÀI CẤP TỈNH

Ủ RÁC THẢI GIA ĐÌNH BẰNG NẤM
TRICHODERMA spp. VÀ VI SINH VẬT
CÓ ÍCH ĐỂ TRỒNG RAU AN TOÀN
Ở HUYỆN PHỤNG HIỆP, HẬU GIANG

Cơ quan chủ trì: ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Chủ nhiệm đề tài: TS. PHÙNG THỊ NGUYỆT HỒNG

HẬU GIANG – 2010


I. THÔNG TIN CHUNG VỀ ĐỀ TÀI
1. Tên đề tài: Ủ rác thải gia đình bằng Nấm
Trichoderma spp. và vi sinh vật có ích để
trồng rau an tòan ở Huyện Phụng Hiệp,
tỉnh Hậu Giang.
Lĩnh vực: Nông nghiệp
2. Chủ nhiệm đề tài: Phùng Thị Nguyệt Hồng
3. Tổ chức chủ trì: Đại học Cần Thơ
Địa chỉ: đường 3/2, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ
Số điện thoại: 0710 3732 117
4. Danh sách cán bộ tham gia chính:
TT Họ và tên
Đơn vị công tác
1

CTU-MSU và Sở Khoa học Công nghệ Hậu Giang. Đề
tài đã được thực hiện tại 3 xã Tân Bình, Kinh Cùng và
Hòa An trong hai vụ liên tiếp từ tháng 4-10/2006 giúp
nông dân tập hợp các rác thải thực vật sau vụ lúa, vụ
nấm hoặc cây cỏ mọc trên sân vườn, sông rạch; hướng
dẫn cách ủ các chất thải nầy với các chế phẩm sinh học
Tricô-ĐHCT, vi khuẩn cố định đạm (Gluconacetobacter
diazotrophicus) và vi khuẩn hòa tan lân (Pseudomonas
stutzerii) của trường ĐHCT nghiên cứu thành công để
vừa rút ngắn thời gian ủ vừa làm tăng chất lượng phân ủ
và đồng thời làm sạch môi trường. Hiệu quả của đề tài là
nông dân biết làm ra nguồn phân hữu cơ vi sinh và sử
dụng nguồn phân ủ trồng rau muống và dưa leo, hai loại
rau phổ biến trong bửa ăn của mọi gia đình.
Kết quả chất lượng phân ủ: pH các mẻ phân ủ trung tính
(6,4-7,9). Đạm tổng số cao ở mẻ ủ có nhiều rơm rạ, thấp
nhất ở mẻ ủ chỉ có cỏ và chậm hoai nhất (C/N cao) do
cỏ chứa nhiều chất lignin hơn lục bình và rơm rạ. Môi
trường phân ủ rất thích hợp cho sự phát triển của các vi
sinh vật như mật số nấm Trichoderma spp. vừa làm phân
hủy vật liệu ủ vừa có tác dụng phòng trừ một số nấm
bệnh thông thường có trong đất canh tác, mật số vi
khuẩn cố định đạm và hòa tan lân (đều đạt cao hơn mật
3


số tối thiểu (106). Phân ủ không chứa kim loại nặng gây
hại trong các mẻ ủ có lục bình.
Kết quả trồng rau: thí nghiệm với 4 mức phân: (1) chỉ sử
dụng phân hóa học. (2) chỉ sử dụng phân hữu cơ vi sinh

2 vụ thí nghiệm.
- Trong vụ 2, năng suất tổng cao nhất (11,63 tấn/ha) ở mức
phân 30 tấn HCVS + (50-40-20), thấp nhất (7,83 tấn/ha) ở
mức phân (100-80-40) và hiệu quả kinh tế cao nhất là
31.878.000 đồng/ha (vụ 1) và 17.645.000 đồng/ha (vụ 2)
và cũng là công thức có chi phí đầu tư lớn nhất.
2. Các sản phẩm khoa học
Báo cáo về “Ủ rác thải gia đình bằng Nấm Trichoderma
spp. và vi sinh vật có ích để trồng rau an tòan ở Huyện
Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang” và một đĩa CD
Xây dựng được (1) Qui trình ủ phân hữu cơ có chủng
nấm và vi sinh vật cố định đạm và hoà tan lân, (2) Quy
trình trồng dưa leo theo hướng an toàn và (3) Qui trình
trồng rau muống an toàn
Đề tài đã góp phần đào tạo 04 kỹ sư, tập huấn kỷ thuật ủ
phân và trồng rau với phân ủ cho kỷ thuật viên và hàng
trăm nông dân tại xã Tân Bình, thi trấn Kinh Cùng và xã
Hòa An.
Kết quả của đề tài được đăng 2 bài trên Tạp chí Khoa học
Đất Việt Nam và Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ
Giấy chứng nhận tổ chức sản xuất rau an toàn do Sở
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Hậu Giang
cấp vào tháng 10/2007.
Truyền thông tin trong cả nước và địa phương
5


GIỚI THIỆU
Dự án ”Kết Hợp Giáo Dục với Phát Triển Cộng Đồng”
hợp tác giữa hai Trường Đại học Cần Thơ (ĐHCT) và


7


CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Vai trò phân hữu cơ trong sản xuất rau an toàn
Phân hữu cơ bao gồm tất cả các loại phân có nguồn gốc
là sản phẩm hữu cơ như các loại phân chuồng, phân
xanh, được dùng để bón cho ruộng (Nguyễn Công Vinh,
2002). Michel (1989) đề nghị phân loại mức độ khoáng
hoá chất hữu cơ hay khả năng tạo mùn của chất hữu cơ.
* Giúp giảm hàm lượng nitrate trong rau: phân hữu
cơ giúp giảm được lượng phân vô cơ phải sử dụng nên
giúp giảm lượng nitrate trong rau. Ở rau mồng tơi bón
phân hữu cơ sinh học làm giảm hàm lượng nitrate từ
245,2 mg/kg xuống còn 21,5 mg/kg tức làm giảm đến
91,3% so với đối chứng chỉ sử dụng phân hóa học, ở rau
cải xanh giảm đến 79,1% đã góp phần tạo ra sản phẩm
sạch và an toàn cho người sử dụng (Lâm Tú Minh và
ctv., 2003). Kết quả của Nguyễn Thanh Bình (2001) trên
cải ngọt cho thấy bón 100 đạm hữu cơ cho hàm lượng
nitrate không khác biệt so với đối chứng (115,3 mg/kg)
có hàm lượng thấp nhất và chỉ bằng 30% so với bón 100
đạm Urê (343,1 mg/kg).
* Giảm dư lượng thuốc BVTV: phân hữu cơ có vai trò
giảm thiệt hại do bệnh và tuyến trùng nên hạn chế sử
dụng thuốc BVTV cho rau. Kết quả thí nghiệm của Đào
Châu Thu và ctv. (2005) trên cà chua cho thấy ở các
công thức sử dụng phân hữu cơ thì mức độ nhiễm bệnh
sương mai ở mức nhẹ (+) hơn so với công thức bón đơn


9


CHƯƠNG 2. PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1. Tổ chức ủ phân
2.1.1 Địa điểm: tại 3 xã Hòa An (HA), Kinh Cùng (KC)
và Tân Bình (TB), thuộc huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu
Giang.
2.1.2 Vật liệu
- Rơm rạ, bèo lục bình, cỏ, rơm rạ, phân vịt
- Nấm Trichoderma spp., vi khuẩn cố định đạm và vi
khuẩn hòa tan lân của trường Đại học Cần Thơ.
2.1.3 Phương pháp ủ phân hữu cơ vi sinh
Phân được ủ nóng, xếp lớp, vật liệu ủ được chủng nấm
Trichoderma spp. (20 g/m3 đống ủ) bằng cách pha trong
nước để tưới đều lên lớp vật liệu ủ (5g chế phẩm/ 20 lít
nước). Sau khi phân được ủ hoai 6-8 tuần, phân được
chủng dịch vi khuẩn cố định đạm và vi khuẩn hòa tan
lân, trộn đều.
2.1.4 Đánh giá chất lượng phân ủ
Phân tích hàm lượng chất hữu cơ, hàm lượng đạm tổng
số, hàm lượng đạm dễ tiêu, xác định mật số bào tử nấm
Trichoderma spp., mật số vi sinh vật cố định đạm và hòa
tan lân, mật số vi khuẩn E. coli và coliform.
2.2. Trồng rau với phân ủ
2.2.1 Thời gian và địa điểm: trồng 2 vụ liên tiếp từ
tháng 4 - 10 năm 2006 tại 2 điểm thí nghiệm/xã (TB,
KC và HA)
10


5. Hàm lượng một số nguyên tố kim loại nặng: Cd, Ni,
As ở nghiệm thức 1 và 2 ở 1 điểm thí nghiệm (ở Hòa
An).
2.2.6. Phân tích số liệu: bằng phần mềm thống kê
MSTATC.

12


CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Chất lượng phân ủ
Mức độ hoai mục và chất lượng phân ủ tùy thuộc vào nhiều
yếu tố trong đó lọai vật liệu ủ, tỉ lệ vật liệu ủ và kỹ thuật ủ
phân ở từng hộ nông dân được phân tích như sau:
Bảng 3.2.2 Một số tính chất hoá học và dinh dưỡng của phân ủ
ở 2 vụ (% chất khô)
Thành phần
vật liệu ủ
Hộ thí điểm

Tổng
N dễ Pts
C/N
tiêu %P 0
mg/kg

Lục
bình


1,5

22

94,9

0,4

70

-

30

6,4

71,0

2,4

17

1661

0,3

40

50


0,1

30

30

40

7,2

67,3

2,0

20

189

0,4

-

-

100

6,7

38,6


7,6

79,7

2,1

22

272

0,3

30

25

50

7,0

65,1

1,7

22

220

0,6


0,2

Rơm

Vụ 1
Phạm V Út
Nhỏ
Lê Văn Đum
Ng Thị Bạch
Vân
Phạm Văn
Mum
Ng Văn Diễn
Ng Văn
Thum
Vụ 2
Phạm V Út
Nhỏ
Lê Văn Đum
Ng Thị Bạch
Vân
Phạm Văn
Mum
Ng Văn Diễn
Ng Văn
Thum

pH
1:2.5


chậm hoai hơn, hàm lượng N dễ tiêu thấp hơn (95161mg/kg).
+ chứa nhiều cỏ: hàm lượng N tổng số thấp nhất, chậm
hoai nhất, hàm lượng N dễ tiêu tuy nhiên đạt khá cao
(624-1547 mgN/kg).
Do đó về mặt thực vật học, dùng cỏ làm vật liệu ủ kéo
dài thời gian ủ và hàm lượng đạm tổng số thấp nhất vì
14


cơ quan dinh dưỡng của cỏ có nhiều chất lignin hơn lục
bình và rơm rạ.
3.1.1 Hàm lượng đạm trong phân ủ trước và sau
chủng vi sinh
Nhìn chung hàm lượng N dễ tiêu trong phân ủ sau khi
chủng vi sinh đạt cao hơn trước khi chủng. Sự gia tăng
nầy có thể chủ yếu là do sự cố định đạm của vi sinh vật
được chủng vào, một phần nhỏ có thể do sự tiếp tục
khoáng hóa dạng đạm hữu cơ, tuy nhiên do phân đã hoai
mục, sự khoáng hóa thấp, nên sự gia tăng đạm khoáng
cũng không đáng kể. Sự mất đạm có thể tiếp tục xảy ra
do phân ủ chỉ được tủ bằng tấm ni lông và không có mái
che. Điều nầy có thể là lý do của sự giảm hoặc tăng
không đáng kể lượng đạm khóang ủ ở một số hộ.
Bảng 3.2.3 Tổng N trong phân ủ trước và sau khi chủng
vi sinh vật
Hộ thí điểm



Phạm Văn Út Nhỏ


15


3.2.4. Mật số bào tử nấm Trichoderma trong phân ủ
Sau khi ủ mật số bào tử nấm Trichoderma đạt 1,1 x 107 1,0 x 108 ở vụ 1, đạt thấp hơn trong vụ 2. Độ xốp, độ
thoáng khí của mẻ phân ủ và ẩm độ có thể là nguyên
nhân chênh lệch về mật số bào tử. Nhìn chung qui trình,
vật liệu ủ, kỹ thuật ủ của nông dân ở các điểm thí
nghiệm phù hợp với sự phát triển của nấm.
Bảng 3.2.4 Mật số bào tử nấm Trichoderma trong phân ủ
ở 2 vụ

Hộ thí điểm



Phạm Văn Út Nhỏ
Lê Văn Đum
Nguyễn Thị Bạch Vân
Phạm Văn Mum
Nguyễn Văn Diễn
Nguyễn Văn Thum

TB
TB
KC
KC
HA
HA

tươi)
Hộ thí
điểm
Phạm Văn
Út Nhỏ

Văn
Đum
Nguyễn
Thị Bạch
Vân
Phạm Văn
Mum
Nguyễn
Văn Diễn
Ng
Văn
Thum

Vụ 1

TB
TB

Cố định
đạm

Hoà tan
lân



2,20 x 108

2,72 x 107

1,39 x 107

9,01 x 1011

2,4 x 106

2,06 x 107

1,92 x 107

2,00 x 107

1,66 x 108

2,36 x 107

1,79 x 107

KC
KC
HA
HA

3.2 Năng suất cây dưa leo
Vụ 1:


Hình 3.3.4 Năng suất dưa leo (tấn/ha) vụ 1: (a) Hòa An, (b) Kinh
Cùng, (c) Tân Bình, (d) trung bình 3 điểm
19


Vụ 2:
- Năng suất tổng và thương phẩm: ở KC và TB có khác
biệt thống kê giữa các mức kết hợp phân HCVS với phân vô
cơ đạt từ 19,27-23,06 tấn/ha với năng suất thương phẩm là
15,69-18,28 tấn/ha (KC), và từ 29,77-31,12 tấn/ha với năng
suất thương phẩm từ 25,25-27,44 tấn/ha (TB) so với nghiệm
thức chỉ sử dụng phân vô cơ (13,07 tấn/ha) với năng suất
thương phẩm 9,45 tấn/ha (KC), 22,19 tấn/ha với năng suất
thương phẩm 17,60 tấn/ha (TB). Trong khi đó, tại HA các
nghiệm thức sử dụng phân vô cơ khác biệt thống kê so với
nghiệm thức chỉ bón phân HCVS (Hình 3.3.5).
- Năng suất tổng và thương phẩm trung bình 3 xã: Hình
3.3.5, cho thấy có khác biệt thống kê giữa 2 nghiệm thức kết
hợp phân HCVS và vô cơ (28,37-29,62 tấn/ha ứng với năng
suất thương phẩm là 24,14-25,66 tấn/ha) so với các nghiệm
thức chỉ sử dụng phân HCVS hay phân vô cơ.
Nhìn chung, năng suất trung bình vụ 2 thấp hơn vụ 1, do vụ
2 có mưa nhiều ngập úng ở cuối vụ ảnh hưởng đến thụ phấn,
bệnh thán thư rất phát triển, số lần thu hoạch cũng giảm. Tuy
nhiên, hiệu quả của phân vô cơ được tăng lên khi sử dụng
kết hợp với phân HCVS ở vụ 2: cải thiện độ phì nhiêu đất,
giúp bộ rễ, chiều cao và lá phát triển làm gia tăng năng suất
dưa leo. Theo Nguyễn Mỹ Hoa (2004) khi môi trường đất
không thích hợp, năng suất cây trồng được gia tăng hơn khi

WHO. Đối với các loại rau ăn trái thì sự tích lũy nitrate trong
trái ít hơn nhiều so với rau ăn lá (Bùi Cách Tuyến, 1998).

(Vụ 1)

(Vụ 2)

Hình 3.3.6 Hàm lượng nitrate (mg/kg) trong thịt trái dưa leo
22


3.3 Năng suất cây rau muống
3.3.1 Năng suất đợt 1 vụ 1
Tại HA, năng suất tổng thấp nhất là 9,47 tấn/ha ở 30 tấn
HCVS, khác biệt thống kê ở mức ý nghĩa 5% với các
nghiệm thức khác; cao nhất là 14,53 tấn/ha ở 15 tấn
HCVS + (50-40-20), nhưng không khác biệt với (10080-40) và 30 tấn HCVS + ( 50-40-20).
Tại KC và TB, năng suất tổng, năng suất thương phẩm
không khác biệt thống kê.
Một cách tổng quát, nếu xem mỗi điểm thí nghiệm (HA,
KC, TB) là một lập lại thì năng suất tổng, năng suất
thương phẩm và tỉ lệ NSTP/NST trung bình ba điểm
giữa các nghiệm thức vẫn không khác biệt thống kê. Kết
quả này cho thấy phân HCVS vẫn chưa làm tăng năng
suất và tỉ lệ năng suất thương phẩm ngay trong vụ 1 do
phân HCVS có tác dụng chậm
3.3.2 Năng suất đợt 2 vụ 1
Năng suất tổng, năng suất thương phẩm và tỉ lệ
NSTP/NST của trung bình ba điểm đợt 2 không khác
biệt thống giữa các mức phân bón. Tuy nhiên, năng suất



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status