ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐỖ THÚY HUỆ
PH¸P LUËT VÒ XãA Bá C¸C H×NH THøC
LAO §éNG TRÎ EM TéI TÖ NHÊT ë VIÖT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐỖ THÚY HUỆ
PH¸P LUËT VÒ XãA Bá C¸C H×NH THøC
LAO §éNG TRÎ EM TéI TÖ NHÊT ë VIÖT NAM
Chuyên ngành: Pháp luật về quyền con ngƣời
Mã số: Chuyên ngành đào tạo thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN DUY SƠN
HÀ NỘI - 2017
LỜI CAM ĐOAN
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ XÓA BỎ CÁC
HÌNH THỨC LAO ĐỘNG TRẺ EM TỒI TỆ NHẤT Ở VIỆT NAM ............55
2.1.Thực trạng lao động trẻ em và các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất tại
Việt Nam ......................................................................................................... 55
2.2. Các đặc điểm ảnh hƣởng tới việc thực hiện pháp luật về xóa bỏ các hình
thức lao động trẻ em tồi tệ nhất....................................................................... 58
2.3. Một số kết quả trong xây dựng và thực hiện pháp luật xóa bỏ các hình
thức lao động trẻ em tồi tệ nhất....................................................................... 65
2.4. Một số hạn chế trong xây dựng và thực hiện pháp luật về xóa bỏ các hình
thức lao động trẻ em tồi tệ nhất ở Việt Nam ................................................... 81
2.5. Nguyên nhân hạn chế và những vấn đề đặt ra đối với pháp luật về xóa bỏ
các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất ở Việt Nam .................................... 86
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 .............................................................................. 91
Chƣơng 3: PHƢƠNG HƢỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT VỀ XÓA BỎ CÁC HÌNH THỨC LAO ĐỘNG TRẺ EM TỒI TỆ
NHẤT Ở VIỆT NAM .................................................................................... 92
3.1. Dự báo xu hƣớng các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất tại Việt Nam .... 92
3.2. Phƣơng hƣớng cơ bản hoàn thiện pháp luật về xóa bỏ các các hình thức
lao động trẻ em tồi tệ nhất ở Việt Nam ........................................................... 94
3.3. Một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện pháp luật về xóa bỏ các hình
thức lao động trẻ em tồi tệ nhất ở Việt Nam ................................................... 98
3.4. Một số giải pháp hỗ trợ khác.................................................................. 106
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3.............................................................................. 115
KẾT LUẬN CHUNG .................................................................................. 116
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 118
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Công ƣớc Quốc tế về các quyền Dân sự và
Chính trị, 1966
ICESPR
Công ƣớc quốc tế các quyền Kinh tế, xã hội
và văn hóa, 1966
ILO
Tổ chức lao động quốc tế
IPEC
Chƣơng trình quốc tế xóa bỏ lao động trẻ em
Khuyến nghị 190
Khuyến nghị về việc Cấm và những hành
động tức thời để loại bỏ những hình thức lao
động trẻ em tồi tệ nhất, 1999
LĐTE
Lao động trẻ em
LHQ
Liên Hợp Quốc
Năm 2002, tổ chức lao động quốc tế ILO và Liên hiệp quốc đã chọn
ngày 12/06 hàng năm là ngày thế giới phòng chống lao động trẻ em nhằm
nâng cao nhận thức và hành động để ngăn chặn lao động trẻ em trên phạm vi
toàn cầu. Hiện trên thế giới có 168 triệu lao động trẻ em, trong đó 115 triệu
lao động trẻ em đang phải làm việc trong các điều kiện độc hại, nguy hiểm.
Với những ảnh hƣởng tiêu cực tới quyền và sự phát triển của trẻ cũng nhƣ sự
ổn định của xã hội, các tổ chức quốc tế cũng nhƣ các quốc gia đang nỗ lực để
giảm thiểu tiến tới xóa bỏ lao động trẻ em, đặc biệt là những hình thức lao
động trẻ em tồi tệ nhất. Lộ trình xóa bỏ hoàn toàn lao động trẻ em tồi tệ nhất
vào năm 2016 đƣợc ILO đƣa ra nhƣ một “ƣu tiên cấp bách”, tuy nhiên đến
thời điểm này có thể thấy các nƣớc thành viên đã không đạt đƣợc mục tiêu đề
ra. Chính vì vậy, xóa bỏ những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất không
chỉ là mối quan tâm của các quốc gia mà còn là mục tiêu chung của cả cộng
đồng quốc tế.
Việt Nam có gần 1,75 triệu lao động trẻ em, đáng chú ý trong đó có 1,3
triệu trẻ em có nguy cơ phải làm việc trong các ngành nghề bị cấm sử dụng
lao động chƣa thành niên hoặc ngành nghề nguy hiểm, nặng nhọc, độc hại.
Việc trẻ em làm việc để kiếm sống đặc biệt là một số trẻ em phải làm việc
trong các môi trƣờng, các ngành nghề nặng nhọc, độc hại gây ảnh hƣởng
không tốt tới sự phát triển cả về thể chất lẫn tâm sinh lý của trẻ. Trẻ em trong
nhóm này phải tham gia hoạt động kinh tế để phụ giúp gia đình hoặc tự kiếm
sống nên thƣờng không đƣợc đi học,không có hoặc ít nhận đƣợc sự chăm sóc
từ gia đình. Hậu quả là trẻ thiếu thốn cả về vật chất và tinh thần, bị suy dinh
dƣỡng thấp còi và có nguy cơ gặp rủi ro trong cuộc sống cao hơn. Trƣớc thực
1
trạng nêu trên, lao động trẻ em đã trở thành vấn đề đƣợc cả xã hội quan tâm
và Chính phủ Việt Nam cũng đã có những giải pháp, các quy định pháp luật
để can thiệp nhằm giảm thiểu, xóa bỏ và hỗ trợ đối với nhóm trẻ em này.
pháp luật Việt Nam về xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất và đƣa
ra một số giải pháp hoàn thiện quy định pháp lý liên quan đến vấn đề này cũng
nhƣ đề xuất một số các biện pháp để thực thi hiệu quả trong thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu
Lao động trẻ em là vấn đề nhận đƣợc sự quan tâm của xã hội, có nhiều
bài viết, tham luận và luận văn ở nhiều cấp độ khác nhau đƣợc thực hiện
nghiên cứu về vấn đề này. Ở cấp độ luận văn thạc sĩ đã có các công trình
nghiên cứu nhƣ:
Luận văn thạc sĩ Luật học “Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về
ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em”, Nguyễn Thị Vân Anh, năm 2014
nghiên cứu về pháp luật quốc tế và làm rõ lý luận, thực tiễn pháp luật về ngăn
ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em ở Việt Nam.
Luận văn thạc sĩ Luật học “Các công ước quốc tế về Lao động trẻ em
và các vấn đề đặt ra với Việt Nam”, Nguyễn Hoàng Phƣơng, năm 2009
nghiên cứu về các vấn đề lý luận, thực tiễn trong bảo vệ trẻ em nói chung và
chính sách đối với lao động trẻ em nói riêng.
Ngoài ra còn có một số sách chuyên khảo, bài viết và tham luận về vấn
đề lao động trẻ em: sách “Vấn đề lao động trẻ em” của tác giả Vũ Ngọc Bình,
Nhà xuất bản chính trị quốc gia năm 2000; Bài viết “Giúp trẻ thoát khỏi các
hình thức lao động tồi tệ nhất: cần sự chung tay của toàn xã hội” tác giá Anh
Nguyễn, Báo giáo dục và thời đại số 22 ngày 30/5/2010; Phòng chống lạm
dụng lao động trẻ em góp phần thúc đẩy việc thực hiện quyền trẻ em ở Việt
Nam tác giả Phan Thị Lan Phƣơng, tạp chí khoa học ĐHQGHN: Luật học, tập
30, số 4 (2014) 58-64..
3
Tuy đã có những công trình nghiên cứu trƣớc đó nhƣng các công trình
này đều chỉ nghiên cứu thực trạng và pháp luật về xóa bỏ lao động trẻ em nói
chung mà chƣa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về xóa bỏ các hình
Lao động trẻ em là vấn đề liên quan đến nhiều khía cạnh trong xã hội
nhƣ về kinh tế, văn hóa, tâm lý xã hội. Tuy nhiên trong khuôn khổ luận văn
này học viên sẽ chỉ tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật quốc vế
và Việt Nam xóa bỏ lao động trẻ em tồi tệ nhất, đánh giá tính tƣơng thích của
pháp luật Việt Nam với pháp luật quốc tế, xem xét thực tiễn thực thi các quy
định của pháp luật từ đó đƣa ra một số giải pháp hoàn thiện khung pháp lý về
vấn đề này tại Việt Nam.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu dựa trên sự tham khảo những quan điểm của các
nghiên cứu trƣớc đó cũng nhƣ tiếp cận một cách hệ thống các vấn đề lý luận
và thực tiễn về lao động trẻ em và xóa bỏ lao động trẻ em tồi tệ nhất.
Luận văn áp dụng phƣơng phƣơng pháp luận duy vật biện chứng, duy
vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về đƣờng lối,
chủ trƣơng của Đảng cộng sản Việt Nam và chính sách của nhà nƣớc liên
quan đến hoàn thiện pháp luật về lao động trẻ em và xóa bỏ lao động trẻ em
tồi tệ nhất.
Học viên sử dụng nhiều phƣơng pháp trong nghiên cứu để thực hiện đề
tài nhƣ: phƣơng pháp thu thập số liệu, tổng hợp, phân tích tài liệu, so sánh;
Phƣơng pháp trao đổi với trẻ em và ngƣời dân; Phƣơng pháp nhận định, đánh
giá kết hợp với các vấn đề liên quan đến lao động trẻ em... để tổng hợp các
kiến thức và luận chứng các vấn đề nghiên cứu trong luận văn.
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn góp phần làm rõ thêm một số các vấn đề liên quan đến lý
luận về lao động trẻ em và xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất.
5
Phân tích, đánh giá tính tƣơng thích của pháp luật Việt Nam với pháp luật thế
giới, đánh giá đúng thực trạng lao động trẻ em tại Việt Nam hiện nay và vấn
đề thực thi pháp luật để xóa bỏ lao động trẻ em tồi tệ nhất. Đề xuất những
đƣợc chăm sóc và bảo vệ. Một ngƣời sẽ đạt đƣợc sự trƣởng thành về thể chất
và tâm lý ở độ tuổi nhất định. Việc ngành khoa học pháp lý tiếp cận khái niệm
trẻ em theo độ tuổi là phù hợp với sự phát triển của con ngƣời cả về mặt sinh
học và xã hội.
Theo Công ƣớc của LHQ về Quyền trẻ em (CRC): “Trẻ em có nghĩa là
mọi người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy
7
định tuổi thành niên sớm hơn” [22, Điều 1]. Có thể thấy, CRC đã xác định trẻ
em là ngƣời dƣới 18 tuổi song đồng thời công ƣớc cũng có quy định mở về độ
tuổi của trẻ em. Quy định 18 tuổi là mức tuổi trần nhƣng công ƣớc không bắt
buộc mà cho phép các quốc gia lấy tuổi thành niên có thể thấp hơn 18. CRC
không quy định rõ khi nào một ngƣời đƣợc coi là trẻ em nhƣng có quy định
“trẻ em cần phải được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp
về mặt pháp lý từ trước cũng như sau khi ra đời” [22, tr. 2]. Theo công ƣớc
thì việc bảo vệ và chăm sóc trẻ em cần đƣợc thực hiện ngay từ giai đoạn bào
thai chứ không đợi đến lúc trẻ chào đời. Do đó, Trẻ em theo công ƣớc CRC
có thể hiểu là ngƣời đƣợc tính từ lúc là thai nhi cho tới dƣới 18 tuổi. Tuy
nhiên, với quy định mở của công ƣớc các quốc gia thành viên có thể quy định
các quyền trẻ em đƣợc bắt đầu ngay khi mang thai hay sau khi ra đời; và về
độ tuổi đƣợc coi là trẻ em thấp hơn 18 tuổi so với công ƣớc.
Công ƣớc số 182 của ILO xác định: thuật ngữ trẻ em sẽ áp dụng cho
những người dưới 18 tuổi [32, Điều 1]. Khác với Công ƣớc về Quyền trẻ em,
Công ƣớc 182 không để mở khả năng cho phép quốc gia thành viên quy định
độ tuổi trẻ em thấp hơn 18. Xuất phát từ mục đích của công ƣớc là xóa bỏ các
hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất do đó việc xác định tuổi của trẻ em dƣới
18 tuổi đảm bảo cho những cá thể dƣới 18 tuổi đƣợc bảo vệ khỏi các hình
thức lao động tồi tệ khi chƣa đủ trƣởng thành về thể chất và tinh thần.
Là thành viên của cả hai công ƣớc CRC và Công ƣớc 182, Việt Nam
hành động về bảo vệ trẻ em từ góc độ quyền. Tuyên bố thể hiện quan tâm đặc
biệt đến sự phát triển của trẻ em cũng nhƣ bảo vệ trẻ em trƣớc những bạo lực
và sự xâm hại, trẻ em cần có các quyền để sống và phát triển lành mạnh và an
toàn. Quyền trẻ em đảm bảo cho trẻ không còn chỉ là ngƣời tiếp thu thụ động
lòng nhân từ của ngƣời lớn mà là chủ thể tham gia của quá trình phát triển. Cha
mẹ, các chủ thể khác trong xã hội có nghĩa vụ pháp lý trong bảo vệ trẻ em.
9
Cùng với sự phát triển của luật nhân quyền quốc tế, quyền của trẻ em
đƣợc xem là quyền con ngƣời và trẻ em trở thành chủ thể đƣợc hƣởng đầy đủ
các quyền con ngƣời bình đẳng nhƣ những ngƣời trƣởng thành. Tuy nhiên, trẻ
em là đối tƣợng có sự phát triển về thể chất và tinh thần chƣa hoàn thiện, còn
non nớt và cần đƣợc ngƣời lớn chăm sóc, nuôi dƣỡng. Do đó trẻ em cần đƣợc
quy định riêng với các quyền đặc thù để đảm bảo sự chăm sóc, giáo dƣỡng và
bảo vệ đặc biệt. Dựa trên cách tiếp cận đó, năm 1959 LHQ đã thông qua
Tuyên bố LHQ về Quyền trẻ em và là tiền đề để xây dựng Công ƣớc về quyền
trẻ em năm 1989. Cho đến nay CRC vẫn là công ƣớc cơ bản và toàn diện nhất
về quyền trẻ em. Là công ƣớc có nhiều thành viên nhất của hệ thống luật nhân
quyền quốc tế, CRC đã cho thấy quyền trẻ em đã trở thành khái niệm đƣợc
thừa nhận rộng rãi trên toàn thế giới.
CRC đã đƣa ra bốn nhóm quyền cơ bản mà trẻ em trên toàn thế giới
đƣợc hƣởng, bao gồm:
- Nhóm quyền đƣợc sống còn (các Điều 5, 6, 24, 26, 27): đảm bảo trẻ
đƣợc sống và đáp ứng các nhu cầu tồn tại tối thiểu.
- Nhóm quyền đƣợc bảo vệ (các Điều 2, 7, 8, 9, 10, 11, 16, 19, 20, 21,
22, 23, 25, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40): bảo vệ trẻ em khỏi bị phân biệt
đối xử, thoát khỏi sự bóc lột về kinh tế, sự lạm dụng, xâm hại về thể xác và
tinh thần, bị lơ là và bỏ rơi, bị đối xử tàn tệ
- Nhóm quyền đƣợc phát triển (các Điều 17, 18, 28, 29, 31, 32): Bao
- Về góc độ tính chất công việc: lao động trẻ em gồm những công việc
có ảnh hƣởng tiêu cực tới sự phát triển toàn diện của trẻ. Là những công việc
không thể chấp nhận đƣợc với trẻ em. Cộng đồng quốc tế đã nhất trí: “lao
động trẻ em” là một thực trạng hay vấn đề xã hội có tính tiêu cực, cần đƣợc
ngăn ngừa và xóa bỏ. Lao động trẻ em bị cấm trong cả pháp luật quốc tế và
pháp luật các quốc gia.
Theo ILO, thuật ngữ lao động trẻ em thƣờng đƣợc định nghĩa là công việc
11
mà tƣớc đoạt tuổi thơ, tiềm năng, phẩm giá và là công việc có hại cho sự phát
triển về thể chất và tinh thần của trẻ [46, tr. 16]. Cụ thể là những công việc:
- Gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh
thần, đạo đức và xã hội của trẻ.
- Gây cản trở tới việc học hành của trẻ bằng cách: khiến trẻ
không đƣợc đến trƣờng, buộc trẻ phải nghỉ học sớm, buộc trẻ phải
cố gắng để vừa học vừa làm các công việc nặng nhọc mà mất nhiều
thời gian [46, tr. 16].
Theo Unicef, việc bị coi là lao động trẻ em nếu nhƣ:
- Làm việc ở độ tuổi quá sớm
- Phải làm việc quá nhiều giờ, ảnh hƣởng đến việc học tập của trẻ
- Lao động trong điều kiện xấu
- Công việc hạ thấp danh dự nhân phẩm, lòng tự trọng của
trẻ, có hại đến sự phát triển toàn diện của trẻ
- Gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại cho trẻ em trên
các phƣơng diện thể chất, tinh thần, tâm lý và xã hội [42, tr. 7].
Thực tế là nhận thức về những công việc và điều kiện làm việc có thể
và không thể chấp nhận đƣợc đối với trẻ em đôi khi phụ thuộc rất lớn vào
phong tục tập quán, tâm lý xã hội, dân tộc, hoàn cảnh kinh tế và trình độ phát
triển của mỗi quốc gia khác nhau. Do đó khó có thể đƣa ra một định nghĩa
đƣợc coi là việc tích cực. Các hoạt động đó gồm những việc nhƣ giúp đỡ cha
mẹ việc nhà, hỗ trợ gia đình kinh doanh hoặc kiếm tiền ngoài giờ học. Những
hoạt động này giúp trẻ có kỹ năng và kinh nghiệm, giúp ích cho trẻ trong quá
trình trƣởng thành [46, tr. 16].
Ngoài ra, cần phân biệt một vài thuật ngữ có liên quan và thƣờng gây
nhầm lẫn với khái niệm “lao động trẻ em” nhƣ trẻ em làm việc (child work)
và trẻ em tham gia hoạt động kinh tế (economically active children)
13
- Trẻ em làm việc: theo định nghĩa của Unicef thì trẻ em hoặc thanh
thiếu niên tham gia vào công việc - các hoạt động kinh tế mà không ảnh hƣởng
xấu đến sức khỏe, sự phát triển hoặc không cản trở việc học hành của trẻ thì là
các hoạt động tích cực [60]. Thuật ngữ này đề cập đến việc trẻ em tham gia
nhiều công việc khác nhau, thông thƣờng là nhẹ nhàng và có thể chấp nhận
đƣợc. Tuy nhiên nếu trẻ làm việc khi quá nhỏ hoặc làm thời gian dài gây ảnh
hƣởng tới học tập, giải trí của trẻ thì sẽ bị coi là lao động trẻ em [42, tr. 8].
Khái niệm này hẹp hơn khái niệm lao động trẻ em do chỉ đề cập đến các công
việc không sinh lời.
- Trẻ em tham gia hoạt động kinh tế: Là khái niệm chỉ công việc sinh lời
do trẻ em thực hiện bất kể công việc đó có hay không trả lƣơng, thƣờng xuyên
hay không, thời gian ngắn hay dài. Để đƣợc xem là có tham gia vào hoạt động
kinh tế, trẻ em phải làm công việc sinh lời ít nhất trong một giờ vào ngày bất
kỳ trong tuần. Khái niệm trẻ em tham gia hoạt động kinh tế có phạm vi hẹp
hơn khái niệm lao động trẻ em do chỉ đề cập đến các công việc sinh lời.
1.1.3. Các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất
Trong khi lao động trẻ em có nhiều hình thức khác nhau thì những hình
thức lao động trẻ em tồi tệ nhất quy định trong Công ƣớc 182 đƣợc xem là các
hình thức lao động trẻ em cần đƣợc ƣu tiên loại bỏ ngay lập tức. Công ƣớc
Nghiêm cấm và hành động khẩn cấp xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi
trẻ em thì buôn bán trẻ em nhằm mục đích buộc trẻ em làm việc hoặc bóc lột.
Trẻ em bị buôn bán bởi nhiều lý do khác nhau trong đó bao gồm cả bị lao
động cƣỡng bức, mại dâm, tuyển mộ lính và trẻ ăn xin.
- Gán nợ là việc sử dụng trẻ em để trao đổi trả cho các khoản nợ và trẻ
phải lao động để xóa các khoản nợ đó. Một gia đình có thể giao con của mình
cho một ai đó để trả khoản nợ của họ và đứa trẻ sẽ phải làm việc trong nhiều
năm đến khi các khoản nợ đƣợc xóa.
15
- Lao động nô lệ là khi một ngƣời phải sống và làm việc phụ thuộc vào
một ngƣời khác, thƣờng có rất ít hoặc không đƣợc trả lƣơng.
- Lao động trẻ em cưỡng bức là hình thức buộc trẻ em phải lao động
trái với ý kiến của trẻ. Trẻ bị sử dụng trong xung đột vũ trang bị buộc phải
chiến đấu hoặc làm việc phục vụ cuộc chiến. Trẻ thƣờng bị buộc phải giết
ngƣời hoặc gây thƣơng tích cho ngƣời khác.
Nhóm thứ hai trong các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất quy định
về khai thác tình dục trẻ em. Cả trẻ em gái hoặc trẻ em trai đều có thể bị sử
dụng phục vụ ngƣời lớn trong hoạt động mại dâm, sản xuất hình ảnh khiêu
dâm hoặc biểu diễn khiêu dâm. Trẻ có thể bị mua bán cho mục đích hôn nhân,
mại dâm hoặc làm nô lệ tình dục. Rất nhiều trƣờng hợp trẻ bị bắt cóc, buôn
bán qua biên giới và bị bán làm gái mại dâm ở nƣớc ngoài. Đây là hình thức
lao động trẻ em để lại hậu quả rất nghiêm trọng cả về thể chất và tinh thần.
Trẻ có nguy cơ cao bị lạm dụng thể chất, suy dinh dƣỡng và lây nhiễm các
bệnh qua đƣờng tình dục. Đồng thời trẻ sẽ bị tổn thƣơng nặng nề về mặt tinh
thần và rất khó khăn để giúp trẻ thoát khỏi các tổn thƣơng này.
Nhóm thứ ba trong các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất đề cập tới
sử dụng trẻ em tham gia vào các hoạt động bất hợp pháp. Thuật ngữ bất hợp
pháp có thể hiểu là các hành vi không đúng pháp luật hoặc tội ác. Sử dụng trẻ
em trong sản xuất và buôn bán ma túy đƣợc cho là đƣa trẻ em vào hoạt động
có các nguy cơ từ các thiết bị nông nghiệp hoặc hóa chất thuốc trừ sâu ảnh
hƣởng tới trẻ em. Nhiều các loại công việc có hại cho thể chất của trẻ đặc biệt
là các công việc trẻ phải thực hiện trong thời gian dài, mang vác quá nặng…
gây tổn thƣơng và biến dạng cột sống của trẻ. Lao động trẻ em khi tham gia
công việc nguy hiểm mà không có đồ bảo hộ hoặc dùng đồ bảo hộ của ngƣời
lớn không đạt hiệu quả cao, trẻ lao động ở các điều kiện kém vệ sinh, không
đủ ánh sáng, thông gió kém.
17
Liên quan đến các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất quy định tại
Điều 3 Công ƣớc 182 chia các hình thức lao động trẻ em này thành 2 dạng là
các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất vô điều kiện và các hình thức lao
động trẻ em tồi tệ nhất có điều kiện.
- Các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất vô điều kiện là các hình
thức đƣợc quy định tại mục (a) (b) (c) Điều 3 Công ƣớc 182, hay còn gọi là
các hình thức tồi tệ nhất “theo định nghĩa”. Các hình thức này thƣờng là bất
hợp pháp và cũng không thể chấp nhận đƣợc ngay cả với ngƣời lớn. Đây là
các hình thức mà tình trạng tồi tệ nhất sẽ không thay đổi bất kể các điều kiện
làm việc có thể đƣợc cải thiện. Các hình thức lao động này đƣợc Công ƣớc
182 xác định và cấm tuyệt đối cho tất cả các trẻ em dƣới 18 tuổi do đó gọi là
các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất “theo định nghĩa” hay vô điều kiện.
- Các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất có điều kiện là những hình
thức đƣợc nêu trong mục (d) Điều 3 Công ƣớc 182, các điều kiện cần đƣợc xác
định trong pháp luật ở cấp quốc gia. Các hình thức lao động tồi tệ ở mục (d) có
thể đƣợc thay đổi bằng cách cải thiện điều kiện làm việc. Khi các điều kiện làm
việc đƣợc cải thiện thì không còn thuộc phạm trù các hình thức tồi tệ nhất theo
quy định của Công ƣớc 182 nữa. Do đó các hình thức thuộc mục (d) đƣợc cho
là các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất có điều kiện [46, tr. 46-48].
1.2. Ý nghĩa, tầm quan trọng của xóa bỏ các hình thức lao động trẻ