Giải pháp phát triển du lịch Hà Giang dựa trên
lý thuyết chu kỳ sống của điểm đến du lịch
Vũ Thị Thủy
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Luận văn Thạc sĩ ngành: Du lịch (Chương trình đào tạo thí điểm)
Người hướng dẫn: PGS.TS. Phạm Trương Hoàng
Năm bảo vệ: 2014
Keywords. Du lịch; Phát triển Du lịch; Hà Giang
Content
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay, du lịch đã trở thành một trong những "Ngành công nghiệp không khói" mà
nhiều quốc gia phát triển chủ yếu dựa vào để phát triển. Phát triển du lịch mang lại nhiều lợi ích.
Trước hết, đó là tạo công ăn việc làm tại chỗ ở khách sạn, nhà hàng, đại lý lữ hành, công ty vận
chuyển… đồng thời thúc đẩy các Ngành công nghiệp khác phát triển và chuyên môn hóa bởi vì
du lịch là ngành tổng hòa nhiều ngành khác. Bên cạnh đó, du lịch tạo nguồn thu chính cho nhà
nước thông qua các loại thuế. Cuối cùng, du lịch thúc đẩy xuất khẩu tại chỗ sản phẩm địa
phương. [29, tr. 727, 728]
Giống như một vòng đời của con người có sinh thành, tuổi ấu thơ, tuổi thiếu niên, trưởng
thành và lúc già, điểm đến du lịch cũng có chu kỳ của nó. Tuy nhiên, quá trình phát triển này phụ
thuộc vào nhiều yếu tố, nên nó có thể phát triển ngắn hơn hoặc dài hơn chu kỳ sống của con
người. Vì vậy, nếu không có kế hoạch và kiểm soát tốt, chất lượng của điểm đến có xu hướng
giảm theo thời gian [30, tr.45].
Lý thuyết chu kỳ sống của điểm đến du lịch của tác giả Butler là lý thuyết tiêu biểu mô tả
chu kỳ sống của điểm đến được nhiều học giả trên thế giới biết đến. Thuật ngữ chu kỳ sống của
điểm đến xuất phát từ thuật ngữ chu kỳ sống hay vòng đời của sản phẩm trong kinh tế học. Theo
Butler, chu kỳ sống của điểm đến trải qua sáu giai đoạn: khai phá (exploration), thâm nhập
(involvement), phát triển (development), củng cố (consolidation), trì trệ (stagnation), suy thoái
(decline) hoặc phục hồi (rejuvenation) [16].
Kể từ khi Butler đưa ra lý thuyết chu kỳ sống của điểm đến đến nay đã có rất nhiều tranh
cãi, nhiều người đồng ý áp dụng nó như một công cụ trong phân tích sự phát triển của điểm đến.
Tuy nhiên, nhiều người cho rằng lý thuyết của Butler còn nhiều hạn chế, Haywood (1986) [23,
- Tổng quan cơ sở lý thuyết chu kỳ sống của điểm đến du lịch
- Xác định giai đoạn của điểm đến Hà Giang trong chu kỳ sống của điểm đến bằng việc
phân tích đa dạng các nhân tố như số lượng và đặc điểm tâm lý của khách du lịch, doanh thu du
lịch, cơ sở lưu trú, công ty lữ hành, cơ cấu tổng sản phẩm.
- Đưa ra các chiến lược, giải pháp phù hợp, hiệu quả với giai đoạn hiện thời trong chu kỳ
sống của điểm đến Hà Giang và những giai đoạn tiếp theo nhằm nâng cao đời sống của địa
phương, thu hút nhiều du khách, tối đa hóa sự hài lòng của du khách, tối đa lợi nhận của doanh
nghiệp địa phương. Bên cạnh đó, đảm bảo cân bằng bền vững giữa lợi ích kinh tế và văn hóa xã
hội và môi trường.
Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích nghiên cứu đề ra, đề tài cũng định ra các
nhiệm vụ cụ thể cần phải thực hiện đó là:
- Tổng quan cơ sở lý thuyết về chu kỳ sống của điểm đến du lịch
- Bằng các nhân tố nhận biết sự dịch chuyển các giai đoạn khác nhau xác định giai đoạn
phát triển của du lịch Hà Giang trong chu kỳ sống của điểm đến du lịch.
- Nhiệm vụ đề xuất những giải pháp phù hợp và hiệu quả nhất với giai đoạn phát triển du
lịch nhằm phát triển bền vững du lịch Hà Giang trong giai đoạn này và định hướng phát triển
những giai đoạn tiếp theo.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: giải pháp phát triển du lịch Hà Giang dựa trên cơ sở lý thuyết chu
kỳ sống của điểm đến du lịch.
Phạm vi không gian nghiên cứu: phạm vi nghiên cứu đề tài là toàn bộ tỉnh Hà Giang. Bên
cạnh đó có sự phân tích cụ thể vào các điểm, tuyến, cụm du lịch, trung tâm du lịch có ý nghĩa
quan trọng của tỉnh; chú ý tới mối quan hệ của địa bàn nghiên cứu với các tỉnh lân cận.
Giới hạn thời gian: Nghiên cứu tập trung vào các số liệu từ 2007-2012, giải pháp phát
triển đến năm 2020.
Giới hạn nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu sâu mô hình chu kỳ sống của điểm đến
của tác giả Butler và áp dụng lý thuyết này để đánh giá điểm đến Hà Giang
4. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Để giải thích về sự phát triển du lịch của điểm đến, người ta đã đưa ra lý thuyết về chu kỳ
sống của điểm đến du lịch. Cho đến nay, đã có rất nhiều lý thuyết về quá trình phát triển của
đến những gì xung quanh, luôn tỏ ra thích sự tân kỳ, sẵn sàng mạo hiểm để khám phá. Nhóm du
khách có tâm lý hiếu kỳ ở mức độ khác nhau ưa những điểm mới phát hiện, hoang sơ, họ sẵn
sàng chấp nhận cả những nơi chưa có cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch tiện nghi. Họ luôn muốn tìm
thấy những khung cảnh mới, hoang sơ, khác lạ và những mối quan hệ mới và đại đa số nhóm
người này chấp nhận trả tiền cho các chuyến du lịch mới. Khi điểm đến thu hút đa số những
nhóm người có tâm lý hiếu kỳ và khá hiếu kỳ, nhiều cơ sở vật chất du lịch phục vụ cho nhóm
trung gian được xây dựng. Bởi vì, nhóm trung gian thể hiện sự pha trộn về đặc điểm tâm lý giữa
hai nhóm chính trên. Họ cũng muốn được hưởng những gì mới lạ song lại muốn có một sự đảm bảo
chắc chắn về các điều kiện thuân lợi, an toàn.
Họ muốn nhìn thấy sự đổi thay nào đó trong hình ảnh du lịch mà họ đã có được trong
những chuyến đi trước. Điểm đến ở giai đoạn có nhiều người nhóm trung gian đến du lịch, thì sẽ
cố gắng tận dụng mọi tiềm năng thu hút tối đa các nhóm khách khác nhau có thể, đó là những
nhóm khách có tâm lý tự kỷ và khá tự kỷ, những nhóm người này có thời gian lưu trú ngắn, chi
tiêu ít, đặc biệt họ sẽ chọn những điểm đến tương tự nếu có thể hay chọn những điểm du lịch
quen thuộc, đi cùng những người quen. Họ cảm thấy an tâm, vui mừng khi đến một điểm du lịch
mà họ đã từng đến trước đó, gặp lại những người phục vụ cũ đã để lại cho họ nhiều cảm tình.
Nhưng khi điểm đến bị thương mại hóa nhiều, không còn nhiều hấp dẫn, số lượng du khách cũng
giảm theo, dần dần du khách chuyển hướng đến những điểm đến mới khác. Khi phần lớn du
khách đến đây đều là những nhóm du khách tự kỷ, khá tự kỷ thì điểm đến đã ở giai đoạn suy
thoái.
Lý thuyết của Butler năm 1980 được nhiều người biết đến nhất và sử dụng nhiều nhất
trong việc phân tích quá trình phát triển của điểm đến du lịch, đó là chu kỳ sống của điểm đến
trải qua sáu giai đoạn: khai phá (exploration), thâm nhập (involvement), phát triển
(development), củng cố (consolidation), trì trệ (stagnation), suy thoái (decline) hoặc phục hồi
(rejuvenation).
Hiện nay, ở Việt Nam có rất nhiều học giả nghiên cứu về chu kỳ sống của sản phẩm,
nhưng chưa có tài liệu nào nghiên cứu tổng quan cơ sở lý thuyết về chu kỳ sống của điểm đến,
cũng như chưa có nghiên cứu nào áp dụng lý thuyết này để đánh giá điểm đến du lịch, và tác giả
7. Nguyễn Đình Hòe, Vũ Văn Hiều (2001), Du lịch bền vững, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
8. Mai Trọng Nhuận, Vũ Minh Khang (2011), Giaỉ pháp đột phá một số ngành- lĩnh vực vì Hà
Giang phát triển, Kỷ yếu hội thảo khoa học và diễn đàn đầu tư vì Hà Giang phát triển, Hà Nội
9. Luật du lịch (2006), Nxb Chính trị quốc gia
10. Sở Văn hóa Thể Thao và Du lịch Hà Giang (2009), Cẩm nang du lịch Hà Giang, Công ty in
TNHHTM HBT, Hà Giang.
11. Sở Văn hóa Thể Thao và Du lịch Hà Giang (2010), Công viên Địa chất Cao nguyên đá Đồng
Văn, Bản tin số 1.
12. Sở Văn hóa Thể Thao và Du lịch Hà Giang (2011),Bản tin du lịch, số 01
13. Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Giang(2004), Hà Giang điểm hẹn nơi cực Bắc, Nxb Thông Tấn.
14. L. Alex, 1997, Applications of Life- cycle model tourism, Analysis tourism research
15. Butler, R.W. (1985), Evolution of tourism in the Scottish highlands. Annals of tourism
research, Canadian Geographer
16. Butler, R.W. (1980). The concept of a tourism area cycle of evolution: Implication for
management of resources, Canadian Geographer
17. Choy, D. (1992), Life cycle models for pacific island destinations. Journal of travel research,
Winter 1992
18. Cooper, C.& Jackson, S.(1989), Destination life cycle: The isle of Man case study. Annals of
tourism research vol.16
19. Christaller, W.(1963), Some consideration of tourism location in Europe, Regional Science
Association Papers 12
20. Cohen, E. (1972), Towards a Sociology of International Tourism, Social Research, Vol, 39
21. Gilbert, D. (1990). Strategic marketing planning for national tourism. Tourist Review.
22. Gilbert, E.W. (1939). The growth of inland and seaside health resorts in England. Scottish
Geographical Magazine.
23. Hay wood, K.(1986), Can the tourist area life cycle be made operational, Tourism
Management
24. Knowles, T. and Curtis, S. (1999). The market viability of European mass tourist