BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
……………/……………
BỘ NỘI VỤ
.....…/….....
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
VŨ THỊ THU HÀ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
ĐÀO TẠO NGHỀ CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ CÔNG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
……………/……………
BỘ NỘI VỤ
.....…/….....
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
VŨ THỊ THU HÀ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
ĐÀO TẠO NGHỀ CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố
trong bất kỳ công trình nào khác.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ
nguồn gốc.
TP. Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 7 năm 2017
Học viên thực hiện luận văn
Vũ Thị Thu Hà
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ......................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài ....................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài ......................................... 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu....................................................... 6
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ....................................................... 6
5. Phương pháp nghiên cứu ..................................................................... 7
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài ................................................ 8
7. Kết cấu của luận văn............................................................................. 8
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT
ĐỘNG ĐÀO TẠO NGHỀ CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT .................................9
1.1. Những khái niệm cơ bản ...................................................................... 9
1.1.1. Đào tạo nghề .................................................................................. 9
1.1.2. Người khuyết tật........................................................................... 11
1.1.3. Hoạt động đào tạo nghề cho người khuyết tật ................................. 14
1.2. Quản lý nhà nước đối với hoạt động đào tạo nghề cho người
khuyết tật ................................................................................................. 15
1.2.1. Khái niệm quản lý nhà nước đối với hoạt động đào tạo nghề cho
người khuyết tật. ................................................................................. 62
2.2.5. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho người
khuyết tật tại thành phố Hồ Chí Minh ................................................ 64
2.2.6. Huy động, quản lý và sử dụng các nguồn lực để phát triển hoạt
động đào tạo nghề cho người khuyết tật ............................................. 66
2.2.7. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu
nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về đào tạo nghề cho người
khuyết tật ............................................................................................. 69
2.3. Nguyên nhân của thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động
đào tạo nghề cho người khuyết tật trên địa bàn Thành phố Hồ Chí
Minh.......................................................................................................... 71
2.3.1. Nguyên nhân của ưu điểm ........................................................ 71
2.3.2. Nguyên nhân của khuyết điểm.................................................. 72
Tiểu kết chương 2 .................................................................................... 75
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO NGHỀ CHO
NGƯỜI KHUYẾT TẬT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ...76
3.1. Quan điểm chỉ đạo .............................................................................. 76
3.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt
động đào tạo nghề cho người khuyết tật trên địa bàn Thành phố Hồ Chí
Minh .......................................................................................................... 81
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ...............................................................93
1. Kết luận ................................................................................................ 93
2. Kiến nghị .............................................................................................. 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................. 98
Phụ lục 1: Phiếu tham khảo ý kiến dành cho cán bộ quản lý và giáo viên
Phụ lục 2: Phiếu tham khảo ý kiến dành cho học viên khuyết tật
Phụ lục 3: Tổng hợp kết quả phiếu tham khảo ý kiến của cán bộ quản lý, giáo
động đào tạo nghề cho NKT giúp khai thác và sử dụng hợp lý tiềm năng lao
động của lực lượng yếu thế, từ đó giúp nâng cao năng suất lao động. Về mặt xã
hội, hoạt động đào tạo nghề cho NKT có chức năng thực hiện đường lối giáo
1
dục của Đảng và Nhà nước.
Nhìn lại kết quả học nghề của NKT ở Việt Nam trong những năm qua,
chúng ta thừa nhận là đã có một bước tiến bộ hết sức tích cực. Hệ thống các
trung tâm đào tạo nghề cho NKT ngày càng được mở rộng. Chất lượng, hiệu
quả công tác đào tạo nghề của các trung tâm đào tạo nghề cho NKT không
ngừng được nâng cao. Các trung tâm đã góp phần tích cực vào việc tạo ra
nguồn nhân lực đáng kể cho xã hội từ một bộ phận người lao động yếu thế
trong xã hội; góp phần giải quyết một vấn đề xã hội khá bức xúc hiện nay.
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế - thương mại lớn nhất cả
nước và giàu tiềm năng phát triển nhiều ngành nghề; đặc biệt là lực lượng lao
động khuyết tật có trình độ tay nghề tốt cũng đã góp phần đáng kể vào sự phát
triển kinh tế của thành phố. Tuy nhiên, để NKT được học nghề, có khả năng
tự tạo việc làm nuôi sống bản thân, gia đình, giảm bớt chi phí cho xã hội đang
là một nhu cầu cấp bách. Bên cạnh kết quả tích cực đạt được thì hoạt động đào
tạo nghề cho NKT vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập, hiệu quả chưa cao. Công
tác quản lý nhà nước (QLNN) về hoạt động đào tạo nghề cho NKT còn thiếu
tính hệ thống, khoa học, chưa phù hợp với tính chất, đặc điểm của công tác
đào tạo nghề cho một đối tượng đặc thù, cũng là một trong các nguyên nhân
của những hạn chế, bất cập. Công tác đào tạo nghề cho NKT tại thành phố nói
riêng và cả nước nói chung chưa đáp ứng được nhu cầu cung ứng lao động
cho sự phát triển của thị trường lao động.
Từ những lý do trên, tôi chọn đề tài “Quản lý nhà nước đối với hoạt
động đào tạo nghề cho người khuyết tật trên địa bàn thành phố Hồ Chí
Tác giả Phạm Minh Hạc (2008) với nghiên cứu về “Đào tạo nghề góp
phần phát triển nguồn nhân lực của đất nước thế kỷ XXI (Tạp chí Khoa học
Giáo dục, số 5/2008). Từ sự phân tích nhu cầu đào tạo nghề để phục vụ phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước, tác giả đã tập trung làm rõ những hạn chế,
khuyết điểm trong đào tạo nghề ở nước ta hiện nay như: Đào tạo nghề chưa gắn
3
với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, sự phân bố các trường đào tạo nghề
không hợp lý, nội dung chương trình, phương pháp đào tạo nghề lạc hậu, bộ
máy QLNN về đào tạo nghề không ổn định, trang thiết bị cho đào tạo nghề
cần chi phí lớn. Đây là công trình nghiên cứu đề cập đến nhiều nội dung,
trong đó có vấn đề QLNN về đào tạo nghề.
Tác giả Nguyễn Minh Đường (2008) đã nghiên cứu, đề xuất “Hoàn thiện
cơ cấu giáo dục quốc dân và tổ chức quản lý giáo dục nghề” (Tạp chí Khoa
học Giáo dục, số 38/2008). Bài viết đã chỉ ra một số bất cập về quản lý hệ
thống giáo dục nghề nghiệp hiện nay, kiến nghị một số giải pháp như tổ chức
lại hệ thống đào tạo nghề, hoàn thiện hệ thống quản lý đào tạo nghề.
“Những quyền của người khuyết tật” (disability rights) do Justin Healey
chủ biên. Nội dung sách chủ yếu đưa ra các định nghĩa về người khuyết tật,
luật chống phân biệt người khuyết tật và cơ chế khiếu nại vi phạm, hệ thống
chăm sóc cộng đồng, người khuyết tật tại nơi làm việc, doanh nghiệp với vấn
đề tuyển dụng người khuyết tật, tiếp cận bình đẳng về internet cho người
khuyết tật [24].
Vũ Ngọc Bình có cuốn: “Trẻ em tàn tật và quyền của các em”, nội dung
chủ yếu nêu lên các chuẩn mực quốc tế về quyền con người và việc thực hiện
quyền trẻ em tàn tật, giáo dục trẻ em tàn tật – chuyên biệt, hội nhập, khái quát
một số quy định của pháp luật Việt Nam về quyền trẻ em [1].
“Bảo trợ xã hội cho những nhóm thiệt thòi ở Việt Nam” của nhóm tác giả:
ngành Dạy nghề, sự nghiệp đào tạo nghề đã được phục hồi và đang tiếp tục
phát triển mạnh, đạt được một số thành tựu đáng khích lệ: Mạng lưới cơ sở dạy
nghề (CSDN) từng bước được phát triển theo quy hoạch, nâng cao chất lượng
đội ngũ giáo viên; đổi mới nội dung, chương trình đào tạo, cơ sở vật chất, trang
thiết bị cho dạy và học nghề đã được đầu tư, nâng cấp; phong trào thi đua “Dạy
tốt, học tốt” trong toàn ngành dạy nghề đã được đẩy mạnh; các hoạt động như
hội thi học viên giỏi nghề, hội thi thiết bị đào tạo nghề tự làm… đã trở thành
5
hoạt động thường xuyên từ các CSDN và mang lại hiệu quả thiết thực.
Bên cạnh những công trình nêu trên còn có một số bài viết ngắn trên các
báo, tạp chí phản ánh về những khó khăn, thuận lợi của NKT trên đường hòa
nhập cộng đồng, về cuộc sống, sinh hoạt vui chơi, tinh thần vượt khó vươn lên
trong học tập của những NKT điển hình đã đạt thành tựu cao trong công việc
khiến nhiều người phải học hỏi, là tấm gương của bao NKT khác noi theo.
Mặc dù các công trình nghiên cứu, bài viết trên chưa đề cập trực tiếp đến
vấn đề QLNN về hoạt động đào tạo nghề cho NKT tại TP.HCM nhưng đó là
nguồn tài liệu để tác giả nghiên cứu, thiết thực góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý
luận của đề tài, nhất là việc làm rõ các khái niệm, phạm trù cơ bản.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và phương pháp,nhiệm vụ của QLNN đối với
hoạt động đào tạo nghề cho NKT nhằm đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả
QLNN đối với hoạt động đào tạo nghề cho NKT trên địa bàn TP.HCM.
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận về QLNN đối với hoạt động đào tạo nghề cho NKT;
- Đánh giá thực trạng QLNN đối với hoạt động đào tạo nghề cho NKT
trên địa bàn TP.HCM;
nghề nói chung và đào tạo nghề cho NKT nói riêng.
Phương pháp nghiên cứu tài liệu sơ cấp
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Điều tra các khách thể là học viên
đang học nghề, giáo viên và cán bộ quản lý đang làm việc tại Trung tâm Bảo
trợ - Dạy nghề và Tạo việc làm người tàn tật TP.HCM (thuộc Sở Lao động –
Thương binh và Xã hội TP.HCM). Số lượng mẫu được thống kê, phân tích số
liệu, kết hợp phần mềm SPSS để phân tích kết quả điều tra khảo sát.
- Phương pháp tổng kết thực tiễn: Nghiên cứu các báo cáo hàng năm của
Tổng cục Dạy nghề, Sở LĐ-TB&XH TP.HCM, các CSDN cho NKT tại
7
TP.HCM. Từ những vấn đề đã và đang diễn ra nhằm đúc kết thành những
kinh nghiệm về QLNN đối với các CSDN cho NKT.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa lý luận
Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về QLNN đối với hoạt động đào tạo
nghề cho NKT. Đây là nguồn tài liệu tham khảo cho công tác đào tạo nghề
đối với các CSDN cho NKT tại TP.HCM.
Ý nghĩa thực tiễn
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả QLNN đối với các
CSDN cho NKT tại TP.HCM, đáp ứng mục tiêu phát triển đào tạo nghề, giới
thiệu việc làm không thu phí cho nhóm đối tượng yếu thế này.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và kiến nghị, đề tài được kết cấu gồm
3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận QLNN đối với hoạt động đào tạo nghề cho người
khuyết tật;
Chương 2: Thực trạng QLNN đối với hoạt động đào tạo nghề cho người
dưỡng, rèn luyện cho một người từ chưa hiểu biết thành hiểu biết, từ chưa có
năng lực làm việc thành có năng lực, từ người năng lực chưa hoàn chỉnh
thành người phát triển đầy đủ năng lực, phẩm chất để làm việc. Khái niệm
9
“đào tạo” nghiên cứu trong luận văn này được hiểu theo phạm vi hẹp hơn, đó
là “đào tạo nghề” hay còn gọi là “dạy nghề” và được quy định tại Luật Giáo
dục và Luật Dạy nghề.
Theo Luật Giáo dục: “Đào tạo nghề là một bậc học trong hệ thống giáo
dục quốc dân, đào tạo nghề là một khái niệm mà phạm trù của nó nằm trong
khái niệm đào tạo; đào tạo nghề nhằm đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp
trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ
đào tạo” [21].
Theo Điều 5, Chương I, Luật Dạy nghề 2006: “Đào tạo nghề là hoạt động
dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết
cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi
hoàn thành khóa học” [20].
Như vậy, đào tạo nghề là hoạt động nhằm mục đích nâng cao tay nghề
hay kỹ năng, kỹ xảo của mỗi cá nhân đối với công việc hiện tại và trong tương
lai. Đào tạo nghề là quá trình giảng viên truyền bá những kiến thức về lý
thuyết và thực hành để các học viên có được một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự
khéo léo, thuần thục nhất định về nghề nghiệp; học nghề là quá trình tiếp thu
những kiến thức về lý thuyết và thực hành của người lao động để đạt được một
trình độ nghề nghiệp nhất định.
Đào tạo nghề là một quá trình tác động có mục đích, có ý thức của con
người nhằm phát triển tay nghề và đạo đức, văn hóa nghề nghiệp (thể hiện trên
hai mặt: kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và thái độ nghề nghiệp), phù hợp với yêu
cầu của thị trường lao động và phát triển nguồn lực quốc gia.
do tàn tật, khiến cho người đó không thực hiện được một phần hay toàn bộ
công việc được coi là bình thường (theo tuổi tác, giới tính, các yếu tố kinh tế,
văn hóa, xã hội…). Điều 2 của Pháp luật nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
về bảo vệ người khuyết tật năm 1990: “người khuyết tật là một trong những
người bị bất thường, mất mát của một cơ quan nhất định hoặc chức năng, tâm
11
lý hay sinh lý, hoặc trong cấu trúc giải phẫu và những người đã mất toàn bộ
hoặc một phần khả năng tham gia vào các hoạt động một cách bình thường”
[24].
Bộ luật Xã hội của Cộng hòa Liên Bang Đức (sách số chín) định nghĩa:
“người khuyết tật là người có các chức năng về thể lực, trí lực, hoặc tâm lý tiến
triển không bình thường so với người có cùng độ tuổi trong thời gian trên 6
tháng và sự không bình thường này là nguyên nhân dẫn đến việc họ bị hạn chế
tham gia vào đời sống xã hội”[7].
Theo Điều 2, Luật Người khuyết tật của Việt Nam: “người khuyết tật là
người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức
năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp
khó khăn” [22].
Phân loại khuyết tật
Phân loại NKT có ý nghĩa rất lớn trong quá trình đánh giá và hỗ trợ cho
NKT. Theo điều 3, Luật Người khuyết tật Việt Nam thì khuyết tật được phân
loại như sau:
(1). Khuyết tật vận động;
(2). Khuyết tật nghe, nói;
(3). Khuyết tật nhìn;
(4). Khuyết tật thần kinh, tâm thần;
(5). Khuyết tật trí tuệ;
và gặp nhiều khó khăn trong giao tiếp, vận động. Cũng vì những điều đó nên
NKT gặp khó khăn trong nhận thức môi trường xung quanh, đồng thời phản
ứng của môi trường xung quanh ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý của NKT. Mối
liên hệ này có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển về thể chất, tâm lý và
khả năng học nghề của NKT. Đa số NKT sống trong nghèo khổ, ít có điều
kiện và khả năng tự bảo vệ và chăm sóc sức khỏe bản thân, cho nên, NKT là
những người cần có sự quan tâm chăm sóc của các tổ chức y tế để phục hồi
13
sức khỏe, vượt qua bệnh tật.
Đối với NKT, yếu tố tâm lý còn có một ý nghĩa to lớn góp phần thúc đẩy
NKT vượt qua trở ngại của bản thân và vươn lên tự khẳng định mình trong
cuộc sống nếu được sự trợ giúp kịp thời từ người thân và xã hội vì họ luôn
mang tâm lý như: Tự ti, phó mặc, chấp nhận cuộc sống khép kín, nóng giận,
trách đời, trách mình từ đó dẫn đến hành động gây hại cho người khác hoặc
gây hại cho chính bản thân mình; luôn có nhu cầu hoạt động và tâm lý sẽ thay
đổi để phù hợp với thực trạng mà họ đang tiếp xúc; có khi chức năng của một
cơ quan bị suy giảm hay bị mất hoàn toàn thì lập tức có sự gia tăng điều chỉnh
của các giác quan khác để hỗ trợ hoặc thay thế chức năng bị thiếu hụt hay bị
mất. (Ví dụ như người khiếm thính, họ bị khó khăn trong hình thành ngôn ngữ,
nhưng bù lại họ lại để ý những chi tiết về hình ảnh nhiều hơn người bình
thường, đây là cơ sở để tư vấn nghề nghiệp cho người khiếm thính).
1.1.3. Hoạt động đào tạo nghề cho người khuyết tật
Theo Điều 68, Luật Dạy nghề: “Đào tạo nghề cho người khuyết tật nhằm
giúp họ có năng lực thực hành nghề phù hợp với khả năng lao động của mình
để tự tạo việc làm hoặc tìm được việc làm ổn định đời sống, hòa nhập cộng
đồng” [20]:
- Hoạt động đào tạo nghề cho NKT diễn ra trong mối quan hệ giữa hoạt
việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học.
1.2. Quản lý nhà nước đối với hoạt động đào tạo nghề cho người
khuyết tật
1.2.1. Khái niệm quản lý nhà nước đối với hoạt động đào tạo nghề
cho người khuyết tật
Quản lý nhà nước đối với hoạt động đào tạo nghề cho NKT là hệ thống
những tác động có mục đích, có kế hoạch và hợp quy luật của chủ thể quản lý
đến toàn bộ các nhân tố của hoạt động đào tạo nghề cho NKT ở các cơ sở có
chức năng đào tạo nghề cho NKT, nhằm thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ đào
15
tạo mà cơ sở được giao [20],[22].
Bên cạnh việc thực hiện đúng nội dung QLNN đối với hoạt động đào tạo
nghề thì QLNN đối với hoạt động đào tạo nghề cho NKT còn có những điểm lưu ý
riêng do tính chất đào tạo nghề dành cho đối tượng đặc thù:
Về chủ thể quản lý:
Chủ thể quản lý hoạt động đào tạo nghề cho NKT là những tổ chức, cá
nhân được Đảng, Nhà nước, ngành Lao động – Thương binh và Xã hội, trực
tiếp là cấp ủy, chính quyền các địa phương giao nhiệm vụ đứng ra xây dựng,
quản lý, điều hành CSDN, thì đồng thời có trách nhiệm quản lý toàn bộ mọi
khâu, mọi bước của hoạt động đào tạo nghề cho NKT, bảo đảm đúng quan
điểm, đường lối, chính sách, pháp luật và các quy định về đào tạo nghề cho
NKT và đạt hiệu quả cao.
Theo đó, chủ thể quản lý hoạt động đào tạo nghề cho NKT bao gồm:
Đảng ủy, Ban Giám đốc, các khoa, bộ môn đào tạo nghề, các phòng, ban chức
năng thuộc CSDN; trong đó, mỗi thành viên của các tổ chức đó đều được quy
định nhiệm vụ quản lý cụ thể theo chức trách, nhiệm vụ được giao và có sự
phân cấp quản lý phù hợp.
các nguồn lực của tổ chức như: nhân lực, vật lực và tài lực); chỉ đạo hoạt động
đào tạo nghề (điều hành tổ chức hay nhân lực đã có của đơn vị để vận hành
theo đúng kế hoạch đã vạch ra) và kiểm tra hoạt động đào tạo nghề (thông qua
một cá nhân, nhóm hay tổ chức để xem xét thực tế, đánh giá, giám sát thành
quả hoạt động, đồng thời uốn nắn, điều chỉnh các sai sót, lệch lạc nhằm thúc
đẩy hệ thống đào tạo nghề sớm đạt được mục tiêu đã định). Ngoài ra, trong
thời đại bùng nổ của thông tin hiện nay, chủ thể quản lý cần thực hiện tốt chức
năng nắm thông tin về hoạt động đào tạo nghề cho NKT; trên cơ sở đó có biện
pháp điều chỉnh các chức năng trên một cách kịp thời và hiệu quả.
Để thực hiện tốt các chức năng quản lý, chủ thể quản lý phải sử dụng có
hiệu quả các công cụ quản lý. Bao gồm: các chỉ thị, nghị quyết, hướng dẫn,
17
thông tư,… của cấp trên (Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền địa phương,…)
và chỉ thị, nghị quyết, văn bản hành chính của cấp mình; các chương trình, kế
hoạch, đề án về giáo dục – đào tạo và đào tạo nghề cho NKT; nhân lực, tài lực,
vật lực,… có trong biên chế của cơ sở đào tạo.
1.2.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với hoạt
động đào tạo nghề cho người khuyết tật
Giáo viên và cán bộ quản lý
Năng lực giáo viên là điều kiện quan trọng góp phần đảm bảo công tác
đào tạo cho một cơ sở đào tạo. Giáo viên có kiến thức chuyên môn sâu rộng,
tay nghề cao, khả năng sư phạm tốt và có tư duy khoa học sáng tạo sẽ hình
thành ở học viên kiến thức vững vàng, năng lực tự học và khả năng thích ứng
tốt với công việc. Bên cạnh chuyên môn nghiệp vụ phải đạt trình độ chuẩn do
Bộ Giáo dục – Đào tạo và Bộ LĐ – TB & XH quy định thì giáo viên đào tạo
nghề cho NKT cần phải có kiến thức cơ bản về tâm lý giáo dục, khả năng giao
tiếp đa dạng như ngôn ngữ giao tiếp bình thường, phi ngôn ngữ (ngôn ngữ ký