BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………
BỘ NỘI VỤ
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN TRUNG TIẾN
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ PHÒNG, CHỐNG
BUÔN LẬU VÀ GIAN LẬN THƢƠNG MẠI
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 60 34 04 03
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ CÔNG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2017
Luận văn được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Đào Đăng Kiên
Phản biện 1: TS. Nguyễn Ngọc Thao
Phản biện 2: TS. Trần Minh Tâm
qui mô với mức độ ngày càng tinh vi, phức tạp.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 khóa VIII của Đảng đã chỉ rõ: “Tăng
cường sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng, phát huy vai trò của nhân
dân để tiến hành có hiệu quả những biện pháp chống buôn lậu trên các
tuyến biên giới, vùng biển và trên thị trường nội địa. Ngăn chặn và xử lý
nghiêm mọi hành vi buôn lậu và gian lận thương mại hoặc tiếp tay, bao
che cho buôn lậu".
Thứ hai, trước tình hình khó khăn chung của nền kinh tế thế giới và
nước ta trong những năm gần đây đã khiến cho hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp và người dân gặp nhiều khó khăn như chi phí
nguyên vật liệu cao, sản phẩm sản xuất ra không tiêu thụ được, v.v….
Chính vì những yếu tố trên tạo cho nhiều doanh nghiệp vào hoạt động làm
ăn phi pháp, tiến hành những hành vi gian lận thương mại để duy trì hoạt
động và nâng cao lợi nhuận.
1
Thứ ba, Kiên Giang là tỉnh cực Nam của Tổ quốc giáp biên giới
thủy, bộ với Campuchia và vịnh Thái Lan, với vị trí và địa bàn nêu trên,
tình hình buôn lậu tuyến biên giới diễn ra nhỏ lẻ, phân tán và tập trung
chủ yếu tại các huyện Giang Thành, Phú Quốc và thị xã Hà Tiên. Tuyến
đường biển, buôn lậu diễn biến phức tạp với qui mô khá lớn ngụy trang
trên các tàu đánh bắt thủy hải sản để vận chuyển hàng lậu ngày càng tinh
vi, xảo quyệt và phức tạp.
Thứ tư, thời gian qua, hoạt động phòng, chống buôn lậu và gian lận
thương mại trên địa bàn tỉnh Kiên Giang đã được các ngành, các cấp rất
quan tâm, nhiều đoàn thanh, kiểm tra được thành lập, nhiều vụ việc vi
phạm trong thương mại đã được phát hiện và xử lý. Tuy nhiên, tình trạng
buôn lậu và gian lận thương mại vẫn là vấn đề bức xúc, nóng bỏng và
chưa có dấu hiệu suy giảm, trong đó có sự yếu kém, sơ hở, thiếu trách
trong thời gian từ năm 2011 - 2016.
- Đề xuất, phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng
và hiệu quả phòng, chống buôn lậu và gian lận thương mại trong quản
lý nhà nước trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Quản lý nhà nước về phòng, chống buôn lậu và gian lận thương mại.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: về buôn lậu và gian lận thương mại.
- Về không gian: Trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.
- Về thời gian nghiên cứu: từ năm 2011 - 2016 là số liệu nghiên
cứu và tầm nhìn đến năm 2025.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Phương pháp luận
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh; các quan điểm của Đảng và
Nhà nước về thể chế quản lý hành chính nhà nước, được thể hiện trong
Nghị quyết của Đảng và các văn bản pháp luật của Nhà nước.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Ngoài ra, trong luận văn còn sử dụng một số phương pháp khác như:
- Phương pháp tiếp cận và thu nhập thông tin tài liệu sơ cấp, thứ
cấp, phân tích, diễn giải và bình luận, đánh giá theo phương pháp lịch sử
qua các giai đoạn phát triển.
- Phương pháp phân tích kinh tế, phương pháp mô hình hóa.
- Phương pháp thống kê - so sánh, hệ thống hóa - khái quát hóa.
3
- Phương pháp phân tích - tổng hợp. Ngoài ra, còn sử dụng các
phương pháp khác như: dự báo, báo cáo kết quả nghiên cứu.
4
Chƣơng 1:
CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ PHÒNG, CHỐNG
BUÔN LẬU VÀ GIAN LẬN THƢƠNG MẠI
1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm về buôn lậu
Theo từ điển Tiếng Việt: “buôn lậu” có ý nghĩa là buôn bán những
hàng hóa trốn thuế và hàng cấm. Đây là một khái niệm kế thừa những hiểu
biết xưa, nay của cụm từ này và khá phù hợp với quan niệm phổ thông hiện
nay [54].
1.1.2. Khái niệm gian lận thương mại
- Thương mại:
Thuật ngữ “thương mại” được sử dụng khá rộng rãi trong đời sống xã
hội và trong nhiều các văn bản quy phạm pháp luật, vào năm 1997, thương
mại được định nghĩa “chính thống” trong Luật Thương mại tại Khoản 1,
Điều 3 quy định: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh
lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương
mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”.
- Gian lận thương mại:
Gian lận thương mại là một thuật ngữ được sử dụng một cách rộng
rãi ở các Bộ, ngành, các tổ chức khác nhau với mục đích phục vụ cho yêu
cầu quản lý. Dù vậy, ở nước ta hiện nay chưa có một văn bản pháp luật nào
đề cập một cách đầy đủ khái niệm về gian lận thương mại. Gian lận thương
mại là hành vi dối trá, mánh khóe, lừa lọc trong lĩnh vực thương mại thông
qua hoạt động mua, bán, kinh doanh, xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ
nhằm mục đích thu lợi bất chính. Mục đích của hành vi gian lận thương mại
là nhằm thu lợi bất chính do thực hiện trót lọt hành vi lừa đảo, dối trá. Chủ
thể tham gia hành vi gian lận thương mại bao gồm: người mua, người bán,
kiểm soát, xử lý và khắc phục tình trạng buôn lậu và gian lận thương mại
được tiến hành một cách thường xuyên, liên tục, kịp thời, có trọng tâm,
trọng điểm, hợp pháp và phù hợp với khả năng, điều kiện thực tế của quốc
gia, địa phương; ngăn ngừa, hạn chế mức độ gia tăng các hành vi buôn lậu
và gian lận thương mại và phải lấy phòng ngừa làm chủ đạo.
Tóm lại: quản lý nhà nước về phòng, chống buôn lậu và gian lận
thương mại là sự tác động có tổ chức và bằng quyền lực nhà nước của các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với các yếu tố, các đối tượng, các
hoạt động liên quan đến buôn lậu và gian lận thương mại nhằm đảm bảo
nhu cầu và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh tế, tạo nên sự ổn định và
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
6
1.1.4. Phân biệt giữa buôn lậu và gian lận thương mại
Sự khác nhau cơ bản giữa buôn lậu và gian lận thương mại là ở chỗ
buôn lậu trước hết là hành vi gian lận thương mại nhưng ở mức cao hơn, tính
chất phức tạp nghiêm trọng hơn. Nó bao hàm các hành vi giấu giếm để trốn
tránh hoàn toàn hoặc một phần việc kiểm tra của cơ quan chức năng bằng
mọi thủ đoạn, mọi phương tiện. Còn gian lận thương mại được định nghĩa là
việc cố ý làm trái các quy định của pháp luật, chính sách hoặc lợi dụng sự sơ
hở, không rõ ràng, không chính xác, không đầy đủ, chưa hoàn thiện của pháp
luật và hành vi gian dối, lừa gạt qua cửa khẩu một cách công khai ngay nơi
kiểm tra, kiểm soát của cơ quan chức năng nhằm thu lợi bất chính.
Buôn lậu hoạt động không công khai, còn các loại hình gian lận
thương mại khác bằng những thủ đoạn tinh vi đã “qua mặt” các cơ quan
quản lý nhà nước một cách công khai.
Các cách phân loại buôn lậu và gian lận thương mại
Cách phân loại trên thế giới
Tại hội nghị quốc tế lần thứ V về chống gian lận thương mại trong
trái phép.
16. Thanh lý phá sản có chủ đích để trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế
(ví dụ: Công ty đăng ký kinh doanh một thời gian ngắn, nợ thuế rồi tuyên
bố phá sản).
Cách phân loại của Việt Nam
Cách phân loại các hình thức về buôn lậu, gian lận thương mại của
thế giới cũng bao hàm các đặc điểm, hình thức của hoạt động buôn lậu,
gian lận thương mại tại Việt Nam. Tuy nhiên, với những đặc điểm riêng
về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, Việt Nam đã tách riêng tội danh
buôn lậu và tội danh gian lận thương mại. Đồng thời, trong tội danh gian
lận thương mại Việt Nam cũng quy định trong từng lĩnh vực cụ thể cho
các hình thức gian lận thương mại.
Tội danh buôn lậu trở thành tội phạm nguy hiểm và được quy định
xử lý hình sự tại Điều 153 của ộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung ngày 19
tháng 6 năm 2009, còn các hành vi gian lận thương mại chỉ được xử lý ở
mức độ xử lý vi phạm hành chính.
Riêng các hành vi gian lận thương mại được phân loại cụ thể trên
các lĩnh vực như: hải quan; thuế, phí và lệ phí; giá; kế toán; bảo hiểm; in,
phát hành, sử dụng, quản lý hóa đơn (quy định cụ thể tại Thông tư số
93/2010/TT-BTC ngày 28 tháng 6 năm 2010 của ộ Tài chính hướng dẫn
việc xác định các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài chính là
hành vi buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả).
8
Việc tách rõ hành vi buôn lậu ra khỏi các hành vi của gian lận
thương mại tại Việt Nam dựa trên cơ sở xác định tính nghiêm trọng của
hành vi gian lận thương mại gây ra, còn trong quá trình quản lý nhà nước,
hành vi gian lận thương mại, buôn lậu và hàng giả được liệt kê song song
Năm là, tuyên truyền, giáo dục về phòng, chống buôn lậu và gian
lận thương mại cho quần chúng nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp.
Sáu là, kiểm tra, kiểm soát, giám sát, trinh sát, xử lý vi phạm.
1.3. Kinh nghiệm quản lý nhà nƣớc về phòng, chống buôn lậu
và gian lận thƣơng mại ở m t số nƣớc, tổ chức trên thế giới và bài học
có thể vận dụng đối với Việt Nam và tỉnh Kiên Giang
1.3.1. Tổ chức Hải quan thế giới (WCO)
1.3.2. Một số nước trên thế giới
1.3.2.1. Kinh nghiệm của Trung Quốc
1.3.2.2. Kinh nghiệm của Australia
1.3.2.3. Kinh nghiệm của tỉnh Đồng Nai ở nước ta
1.3.3. Bài học rút ra cho Việt Nam và tỉnh Kiên Giang
Từ những kinh nghiệm nêu trên, có thể rút bài học kinh nghiệm cho
Việt Nam và tỉnh Kiên Giang, như sau:
Thứ nhất, hình thành cơ chế phối kết hợp trong hệ thống chính trị
để phòng, chống buôn lậu và gian lận thương mại là tất yếu khách quan có
thể vận dụng cho Việt Nam và tỉnh Kiên Giang.
Thứ hai, hệ thống pháp luật với chế tài đủ sức răn đe là yếu tố quan
trọng ngăn chặn và phòng ngừa buôn lậu và gian lận thương mại.
Thứ ba, đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện chức năng phòng,
chống buôn lậu và gian lận thương mại có phẩm chất năng lực và trách
nhiệm cao trong thực thi công vụ, cần được nhà nước quan tâm cả về chế
độ dưỡng liêm, chính sách đãi ngộ hợp lý và được trang bị công cụ kiểm
tra, thiết bị soi chiếu với công nghệ hiện đại để kiểm tra, phát hiện các
hành vi buôn lậu và gian lận thương mại (phương tiện kiểm định, camera,
cân điện tử, các dụng cụ lấy mẫu và các trang thiết bị phương tiện và dụng
cụ hỗ trợ khác).
Thứ tư, hình thành hệ thống phòng, chống buôn lậu và gian lận
Điều kiện tự nhiên:
Tỉnh Kiên Giang có diện tích tự nhiên 6.348 km2, dân số 1,78 triệu
người. Phía Đông ắc giáp các tỉnh An Giang, thành phố Cần Thơ và tỉnh
Hậu Giang; phía Nam giáp các tỉnh Cà Mau và ạc Liêu; phía Tây Nam
giáp vịnh Thái Lan với hơn 200 km bờ biển và có hơn 100 hòn đảo lớn
nhỏ, trong đó Phú Quốc là đảo lớn nhất cả nước; phía ắc giáp
Campuchia, với đường biên giới dài 56,8 km. Đơn vị hành chính của tỉnh
bao gồm: thành phố Rạch Giá, thị xã Hà Tiên và 13 huyện: Kiên Lương,
Giang Thành, Hòn Đất, Tân Hiệp, Châu Thành, Giồng Riềng, Gò Quao,
An iên, An Minh, U Minh Thượng, Vĩnh Thuận, Kiên Hải và Phú Quốc.
Điều kiện kinh tế - xã hội:
Theo quy hoạch, Kiên Giang sẽ giải quyết việc làm cho 32.000 lao
động năm 2015 và đến năm 2020 là 38.000 lao động. Trong đó, cơ cấu lao
động trong các khu vực nông - lâm - ngư nghiệp, công nghiệp - xây dựng
và dịch vụ tương ứng là 49%, 19%, 32% vào năm 2015 và đến năm 2020
lần lượt là 38%, 22%, 40%.
2.1.2. Các nhân tố tác động đến buôn lậu và gian lận thương mại
Do điều kiện vị trí địa lý và kinh tế xã hội tỉnh Kiên Giang có
đường thủy, bộ giáp biên giới các nước Campuchia và vùng biển vịnh
Thái Lan nên quản lý nhà nước về phòng, chống buôn lậu và gian lận
thương mại có nhiều nhân tố tác động, có thể nêu lên một số nhân tố tác
động chủ yếu như sau:
Thứ nhất, do tác động sụt giảm kinh tế thế giới trong giai đoạn 2010
- 2015 có nhiều biến động phức tạp tác động tạo ra những hoạt động buôn
12
lậu và gian lận thương mại ngày càng diễn biến phức tạp trên địa bàn tỉnh
Kiên Giang.
Thứ hai, nhận thức về pháp luật và ý thức chấp hành pháp luật của
71/KH-U ND ngày 07 tháng 7 năm 2015, Kế hoạch số 133/KH-UBND
13
ngày 31 tháng 12 năm 2015 và Kế hoạch số 131/KH-UBND ngày 24 tháng
11 năm 2016 để tăng cường công tác phòng, chống buôn lậu, gian lận
thương mại và hàng giả, đảm bảo ổn định thị trường trên địa bàn tỉnh Kiên
Giang đến tết Nguyên đán hàng năm và bảo vệ quyền lợi chính đáng của
người sản xuất, cũng như người tiêu dùng an tâm với chất lượng hàng hóa.
Theo đó, các kế hoạch xác định mục đích, yêu cầu là: Tiếp tục thực hiện có
hiệu quả hiệu quả Nghị quyết số 41/NQ-CP ngày 09 tháng 6 năm 2015 của
Chính phủ về việc đẩy mạnh công tác đấu tranh chống buôn lậu, gian lận
thương mại và hàng giả trong tình hình mới; tăng cường công tác chỉ đạo, tổ
chức triển khai chặt chẽ công tác kiểm tra, kiểm soát, ngăn chặn và đẩy lùi
tình trạng buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả nhằm ổn định thị
trường, đảm bảo an ninh trật tự và an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh.
Như vậy, phòng, chống buôn lậu và gian lận thương mại trên địa bàn
tỉnh Kiên Giang luôn được xác định là một trong những trọng tâm trong công
tác xây dựng các văn bản tầm chiến lược, chương trình, kế hoạch quản lý nhà
nước về phòng, chống buôn lậu và gian lận thương mại.
2.2.2. Về ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật
Thực hiện các chỉ đạo của Chính phủ, an Chỉ đạo 389 Quốc gia,
Tỉnh ủy và yêu cầu của các ộ, ngành trung ương, U ND tỉnh Kiên
Giang đã ban hành kịp thời nhiều văn bản chỉ đạo và triển khai thực hiện
công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả trên địa tỉnh
trong những thời điểm cụ thể.
2.2.3. Về hệ thống tổ chức bộ máy các cơ quan quản lý nhà nước
về phòng, chống buôn lậu và gian lận thương mại
Các cơ quan hành chính nhà nước có chức năng thực thi pháp luật
là những cơ quan có chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực thương mại
Khu kinh tế Phú Quốc v.v...và các huyện, thị, thành phố trên địa bàn tỉnh.
Trong đó, Sở Công Thương (Chi cục Quản lý thị trường) giữ vai trò là
Thường trực Ban Chỉ đạo 127 tỉnh Kiên Giang (nay là Ban Chỉ đạo 389).
2.2.4. Về cơ chế phối/kết hợp và hợp tác giữa các ngành, doanh
nghiệp, người dân, khu vực quốc tế để phòng, chống buôn lậu và gian
lận thương mại
Về phía các cơ quan nhà nước: Trước tiên, phải kể đến sự ra đời
của Ban Chỉ đạo 127 (nay là Ban Chỉ đạo 389) từ trung ương cho đến các
địa phương.
Về phía doanh nghiệp, người dân: Xác định được vai trò “cơ sở”
của doanh nghiệp, người dân trong cuộc đấu tranh phòng, chống buôn lậu
và gian lận thương mại, các cơ quan chức năng đã không ngừng nâng cao
mối quan hệ này với những hoạt động như: thành lập, công khai nhiều
đường dây nóng của các cơ quan chức năng giúp người dân thuận tiện, dễ
dàng trong việc tố giác hoạt động buôn lậu và gian lận thương mại.
15
Về hợp tác khu vực và quốc tế, diễn biến phức tạp về buôn lậu và
gian lận thương mại đối với tỉnh biên giới và kinh tế biển của tỉnh Kiên
Giang, yêu cầu hợp tác khu vực vịnh Thái Lan và các tỉnh có đường biên
giới của tỉnh Kiên Giang với Campuchia xây dựng cơ chế phối/kết hợp
nâng cao chất lượng và hiệu quả phòng, chống buôn lậu và gian lận
thương mại là cần thiết khách quan có lợi cho cả hai nước và khu vực,
đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh, thương mại ổn định và cạnh
tranh theo qui định của tổ chức thương mại thế giới (WTO).
2.2.5. Về hoạt động tuyên truyền, giáo dục phòng, chống buôn lậu
và gian lận thương mại cho người dân và cộng đồng doanh nghiệp
Trong qui chế phối/kết hợp chống buôn lậu và gian lận thương mại
của tỉnh Kiên Giang, Sở Thông tin và Truyền thông là đầu mối chỉ đạo
Quản lý thị trường cũng thành lập các Đội Quản lý thị trường trên địa bàn
các huyện, thị, thành phố và 02 Đội quản lý thị trường chuyên trách để kiểm
tra, kiểm soát các hoạt động buôn lậu và gian lận thương mại. Công an tỉnh
cũng thành lập các đội Công an trực thuộc các phòng và công an địa
phương giúp kiểm soát hoạt động buôn lậu và gian lận thương mại.
* Về nguồn kinh phí:
Kinh phí hoạt động của an Chỉ đạo 389 tỉnh Kiên Giang do ngân
sách nhà nước cấp. Hàng năm, Cơ quan Thường trực (Chi cục Quản lý thị
trường) lập dự toán kinh phí trình Trưởng ban hoặc Phó trưởng ban đề
nghị U ND tỉnh, Sở Tài chính xem xét cấp kinh phí hoạt động cho Ban
Chỉ đạo 389 tỉnh Kiên Giang và cơ quan thường trực.
* Về trang thiết bị, phương tiện:
Công tác đầu tư trang thiết bị, phương tiện phục vụ cho công tác
phòng, chống buôn lậu và gian lận thương mại được các ngành chức năng
quan tâm thực hiện.
2.3. Đánh giá chung quản lý nhà nƣớc về phòng, chống buôn lậu
và gian lận thƣơng mại trên địa bàn tỉnh Kiên Giang thời gian qua
2.3.1. Những kết quả đạt được
Thứ nhất, công tác tuyên truyền về phòng, chống buôn lậu và gian
lận thương mại ngày càng được quan tâm, thực hiện tốt hơn và đạt hiệu
quả cao hơn.
Thứ hai, công tác kiểm tra, kiểm soát đã không ngừng được tăng
cường và đầu tư nâng cao về chất lượng, đặc biệt là việc kiểm tra, kiểm
soát các hành vi buôn lậu và gian lận thương mại tại khu vực biên giới và
ở thị trường nội địa.
Thứ ba, sự phối hợp giữa các lực lượng chức năng ngày càng kịp
thời, nhịp nhàng và hiệu quả hơn.
2.3.2. Những tồn tại, hạn chế
17
quy định về cơ chế phối hợp giữa các cấp và các ngành cũng như chưa
có quy chế phối hợp giữa các ngành chức năng.
2.3.3.2. Nguyên nhân chủ quan
18
Thứ nhất, tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về phòng, chống buôn
lậu và gian lận thương mại trên tất cả các lĩnh vực nói chung chưa đáp
ứng được yêu cầu.
Thứ hai, chưa thực hiện nghiêm quy định về phòng, chống buôn
lậu và gian lận thương mại.
Thứ ba, các nguồn lực cần có để đảm bảo cho công tác phòng, chống
buôn lậu và gian lận thương mại còn chưa xứng tầm với nhiệm vụ.
Thứ tư, công tác thanh tra, kiểm tra chưa được thực hiện thường
xuyên, quyết liệt và triệt để.
Thứ năm, ý thức phòng, chống buôn lậu và gian lận thương mại
của các doanh nghiệp và người dân d đã có nhiều chuyển biến tích
cực nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu công tác này đề ra.
Tiểu kết chƣơng 2
Luận văn đã khái quát điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã
hội, các nhân tố tác động đến quản lý nhà nước về phòng, chống buôn lậu
và gian lận thương mại trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.
Trên cơ sở phân tích thực trạng quản lý nhà nước về phòng, chống
buôn lậu và gian lận thương mại với những nội dung như: về xây dựng và
chỉ đạo các chiến lược, chương trình, chính sách và kế hoạch quản lý nhà
nước về phòng chống buôn lậu và gian lận thương mại; về ban hành và tổ
chức thực hiện các văn bản pháp luật; về hệ thống tổ chức bộ máy các cơ
quan quản lý nhà nước về phòng, chống buôn lậu và gian lận thương mại;
về cơ chế phối/kết hợp và hợp tác giữa các ngành, doanh nghiệp, người
dân, khu vực quốc tế để phòng, chống buôn lậu và gian lận thương mại;
3.2.1. Xây dựng và chỉ đạo thực hiện các chiến lược, chương trình,
chính sách, kế hoạch phòng, chống buôn lậu và gian lận thương mại
Phòng, chống buôn lậu và gian lận thương mại là chức năng và
nhiệm vụ chủ yếu, thường xuyên của quản lý nhà nước với sự tham mưu
của Ban Chỉ đạo 389 tỉnh và Sở Công Thương, thông qua đầu mối thường
trực là Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Kiên Giang.
Xây dựng và chỉ đạo thực hiện có hiệu quả chiến lược, chương trình
và kế hoạch đấu tranh phòng, chống buôn lậu và gian lận thương mại là
khâu quan trọng hàng đầu của quá trình quản lý nhà nước về phòng,
chống buôn lậu và gian lận thương mại.
3.2.2. Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản qui phạm pháp
luật về phòng, chống buôn lậu và gian lận thương mại
Nhằm tổ chức thực hiện có hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước về
phòng, chống buôn lậu và gian lận thương mại, thực hiện nghiêm chỉnh các
cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia.
20
U ND tỉnh chỉ đạo an Chỉ đạo 389 tỉnh Kiên Giang và Sở Công
Thương tiếp tục rà soát, nghiên cứu, kiến nghị các cấp có thẩm quyền sửa
đổi, bổ sung và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, các chế tài xử
lý vi phạm để răn đe đối với các hành vi tội phạm nói chung và tội phạm
buôn lậu và gian lận thương mại.
3.2.3. Hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về phòng,
chống buôn lậu và gian lận thương mại
Đẩy mạnh và tiếp tục ủy quyền, phân công, phân cấp, xác định rõ
trách nhiệm, quyền hạn của các ngành, các cấp trong thực thi nhiệm vụ
phòng, chống buôn lậu và gian lận thương mại.
3.2.4. Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan trong hoạt động
chống buôn lậu và gian lận thương mại tại địa phương trong các khoản
chi, mức chi cho việc đầu tư trang thiết bị. Trong đó, hướng tới việc giảm
tỷ lệ trích nộp ngân sách về cấp trên, nâng cao mức chi đầu tư trang thiết
bị nhằm nâng cao tính tích cực, chủ động, tự chịu trách nhiệm của các
ngành, các cấp tại địa phương.
Tiểu kết chƣơng 3
Luận văn đã hệ thống quan điểm, mục tiêu và phương hướng phòng
chống buôn lậu và gian lận thương mại trên đại bàn tỉnh Kiên Giang. Trên
cơ sở kết quả phân tích, đánh giá thực trạng và nguyên nhân buôn lậu và
gian lận thương mại ở chương 2.
Luận văn đưa ra các giải pháp chủ yếu nhằm quản lý nhà nước có
hiệu quả hơn về phòng, chống buôn lậu và gian lận thương mại trên địa
bàn tỉnh Kiên Giang bao gồm: xây dựng và chỉ đạo tổ chức thực hiện các
chiến lược, chương trình, chính sách, kế hoạch phòng, chống buôn lậu và
gian lận thương mại; ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản qui phạm
pháp luật về phòng, chống buôn lậu và gian lận thương mại; hoàn thiện về
tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về phòng, chống buôn lậu và gian lận
thương mại; tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan trong hoạt động
phòng, chống buôn lậu và gian lận thương mại; về nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực thực hiện phòng, chống buôn lậu và gian lận thương mại;
tăng cường công tác giáo dục, tuyên truyền pháp luật cho công dân
và doanh nghiệ; tăng cường trang bị cơ sở vật chất, phương tiện hỗ trợ
cho hoạt động phòng, chống buôn lậu và gian lận thương mại.
Để triển khai thực hiện các giải pháp trên cần có sự chuẩn bị một
cách chu đáo, cần đầu tư thích đáng và có sự phối hợp đồng bộ giữa các
sở, ngành của tỉnh, giữa các cấp chính quyền, các tổ chức và cá nhân cùng
sự phân định chu kỳ thực hiện một cách rõ ràng, xác định cụ thể chức
năng, nhiệm vụ của từng đối tượng.
22