Quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Đông Nai (tt) - Pdf 47

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

…………/…………

……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

LÊ THỊ NGỌC LOAN

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BÌNH ĐẲNG
GIỚI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI
CHUYÊN NGÀNH
QUẢN LÝ CÔNG
MÃ SỐ: 60 34 4 03

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

TP. Hồ Chí Minh - 2017


Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đinh Thị Minh Tuyết
Phản biện 1: TS. Nguyễn Thị Hường
Phản biện 2: TS. Trương Thij Minh Sâm

Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn

kiến giới vẫn còn là rào cản ngăn cản phụ nữ và nam giới tham gia vào các lĩnh vực trong đời sống xã hội.
Thực trạng đó xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân cơ bản là vai trò quản lý của nhà
nước chưa được đề cao đúng mức, chưa phát huy được hiệu quả.
Trong những năm qua, Đảng bộ và chính quyền tỉnh Đồng Nai đã thực hiện đạt và vượt một số chỉ
tiêu về bình đẳng giới. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều tồn tại hạn chế như: vẫn còn nhiều chỉ tiêu chưa đạt, tỷ lệ
cán bộ nữ tham gia lãnh đạo chưa đạt chỉ tiêu nghị quyết, chất lượng hoạt động Ban VSTBPN chưa đồng
đều, thiếu cán bộ chuyên trách, cán bộ thiếu kinh nghiệm, chế độ đãi ngỗ thấp, kinh phí và tài liệu tuyên
truyền chưa đáp ứng được yêu cầu của nhiệm vụ, nhận thức về công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ phụ
nữ ở một số cấp ủy, chính quyền địa phương, đơn vị chưa đúng mức, tư tưởng trọng nam giới, xem nhẹ vai
trò, vị trí, năng lực của phụ nữ vẫn còn tồn tại trong một bộ phận nhân dân. Những nguyên nhân đó đã ảnh
hưởng không nhỏ đến hiệu quả thực hiện mục tiêu bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh.
Bình đẳng giới vừa là mục tiêu, vừa là cơ sở thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, xây dựng xã hội ổn định,
phát triển bền vững theo xu thế hội nhập quốc tế, đồng thời từ thực tiễn quản lý nhà nước về bình đẳng giới
còn nhiều bất cập, học viên chọn đề tài Quản lý nhà nƣớc về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
làm đề tài luận văn tốt nghiệp chương trình Thạc sĩ Quản lý công.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Bình đẳng giới là vấn đề được quan tâm từ rất sớm, nó được quan tâm nhiều ở khía cạnh như quyền
phụ nữ, nhiệm vụ, vai trò, trách nhiệm của phụ nữ, giải phóng phụ nữ hơn là quyền bình đẳng giữa nam và
nữ.
Đến nay, đã có nhiều tài liệu nghiên cứu về bình đẳng giới và quản lý nhà nước về bình đẳng giới. Các
công trình nghiên cứu và các bài viết trên đã đề cập đến nhiều khía cạnh của vấn đề bình đẳng giới, bao gồm
khía cạnh quản lý nhà nước về bình đẳng giới. Tuy nhiên, các công trình này chủ yếu tập trung vào vấn đề
bình đẳng giới ở một số lĩnh vực như, lao động, việc làm, lĩnh vực gia đình, lĩnh vực chính trị, lĩnh vực y tế.
1


Đối tượng nghiên cứu của phần lớn các công trình này là các mục tiêu của bình đẳng giới và vai trò của phụ
nữ trong quản lý nhà nước, trong đó vai trò quản lý nhà nước chỉ được xem là một trong số các giải pháp
được khuyến nghị.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn đã hệ thống hóa được lý luận cơ bản về bình đẳng giới và quản lý nhà nước về bình đẳng
giới. Đây là cơ sở cho những nghiên cứu thực tiễn quản lý nhà nước về bình đẳng giới ở các địa phương.
6.2. Về mặt thực tiễn
Luận văn đã phân tích và đánh giá được thực trạng quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn
tỉnh Đồng Nai, xác định những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế. Đồng thời luận
văn đề ra những giải pháp thiết thực góp phần hoàn thiện quản lý nhà nước về bình đẳng giới tại tỉnh Đồng
Nai.

2


Các giải pháp của luận văn sẽ góp phần tích cực vào việc nâng cao vai trò và hiệu quả quản lý nhà
nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Đồng Nai; góp phần giúp cho chính quyền địa phương và cho tổ
chức Hội LHPN tỉnh thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình.
7/ Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính, luận văn có cấu
trúc 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về bình đẳng giới cấp tỉnh
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.
Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh
Đồng Nai.
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRÊN ĐỊA BÀN CẤP TỈNH
1.1. Khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài luận văn
1.1.1. Bình đẳng giới


Khái niệm bình đẳng giới




1.1.2. Quản lý nhà nước về bình đẳng giới
 Khái niệm quản lý nhà nước về bình đẳng giới
Quản lý là sự điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình, căn cứ vào những quy luật hay
nguyên tắc tương ứng cho hệ thống hay quá trình ấy vận động theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt được
mục đích đặt ra từ trước; là sự tác động có mục đích đã được đề ra theo đúng ý chí của chủ thể quản lý đối
với các đối tượng chịu sự quản lý, theo đúng mong muốn của người quản lý.
Quản lý nhà nước là quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước để
điều chỉnh các quan hệ xã hội chủ yếu và quan trọng của con người. Quản lý nhà nước được thực hiện bởi
toàn bộ hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước nhằm thực hiện chức năng đối nội đối ngoại của
nhà nước.
Quản lý nhà nước về bình đẳng giới là sự tác động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong
lĩnh vực bình đẳng giới nhằm đạt mục tiêu bình đẳng giới. Các cơ quan có thẩm quyền quản lý nhà nước về
bình đẳng giới được quy định trong Luật bình đẳng giới, nghị định thi hành Luật bình đẳng giới và một số
văn bản quy phạm pháp luật khác.
Quản lý nhà nước về bình đẳng giới được thực hiện ở 4 cấp: Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp
xã. Mỗi cấp có chức năng, nhiệm vụ nhất định đối với việc thực hiện bình đẳng giới, qua đó hình thành hệ
thống bộ máy quản lý nhà nước về bình đẳng giới trong cả nước.
 Chủ thể quản lý nhà nước về bình đẳng giới
Chủ thể quản lý nhà nuớc là các tổ chức hay các cá nhân mang quyền lực nhà nước trong quá trình
tác động đến đối tượng quản lý. Chủ thể quản lý nhà nước bao gồm: các cơ quan nhà nước, các tổ chức nhà
nước và cá nhân được nhà nước ủy quyền thực hiện quyền quản lý nhà nước.
Quản lý nhà nước về bình đẳng giới cấp Trung ương là Bộ Lao động thương binh xã hội, ở cấp địa
phương là ủy ban nhân dân các cấp (tỉnh, huyện, xã).
1.2. Nội dung quản lý nhà nƣớc về bình đẳng giới
1.2.1. Nội dung quản lý nhà nước về bình đẳng giới cấp trung ương
Một là, xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược bình đẳng giới
Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới là một bộ phận cấu thành quan trọng của chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước, là cơ sở nền tảng của chiến lược phát triển con người của Đảng và Nhà nước.

nuôi con nhỏ; tạo điều kiện để nam, nữ chia sẻ công việc gia đình; áp dụng những biện pháp thích hợp để xoá
bỏ phong tục, tập quán lạc hậu cản trở thực hiện mục tiêu bình đẳng giới; khuyến khích cơ quan, tổ chức, gia
đình, cá nhân tham gia các hoạt động thúc đẩy bình đẳng giới; hỗ trợ hoạt động bình đẳng giới tại vùng sâu,
vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; hỗ trợ
những điều kiện cần thiết để nâng chỉ số phát triển giới đối với các ngành, lĩnh vực và địa phương mà chỉ số
phát triển giới thấp hơn mức trung bình của cả nước.
Việc xây dựng chính sách và ban hành các văn bản quản lý nhà nước về bình đẳng giới có ý nghĩa
quan trọng trong việc tạo hành lang pháp lý đề thực hiện công tác quản lý nhà nước về bình đẳng giới.
Ba là, kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về bình đẳng giới
Hoạt động quản lý nhà nước về bình đẳng giới là một hoạt động với phạm vi rộng lớn, liên quan đến
nhiều ngành, nhiều lĩnh vực. Vì vậy để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động bình đẳng giới
cần hoàn thiện, thường xuyên kiện toàn bộ máy quản ký nhà nước về bình đẳng giới, nâng cao năng lực điều
tra và nắm số liệu về giới, tăng cường công tác tổ chức nhân sự, cơ sở vật chất kỹ thuật và đẩy mạnh công
tác phối hợp giữa cơ quan chủ trì và các cơ quan, đơn vị liên quan nhằm thực hiện hiệu quả các mục tiêu
bình đẳng giới, đáp ứng yêu cầu phát triển và xu hướng hội nhập của đất nước.
Bốn là, phát triển đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về bình đẳng giới
Bố trí đủ cán bộ quản lý và thực hiện nhiệm vụ làm công tác bình đẳng giới ở các cấp; hình thành
đội ngũ cộng tác viên, tình nguyện viên tham gia công tác bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ ở cấp xã,
phường, thị trấn, đặc biệt ở khu phố, xóm, ấp cụm dân cư. Xây dựng mạng lưới chuyên gia về giới trên các
lĩnh vực của đời sống xã hội.
Năm là, hỗ trợ và huy động nguồn lực tài chính thực hiện mục tiêu bình đẳng giới
Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính cho công tác bình đẳng giới; chi ngân sách
nhà nước cho công tác bình đẳng giới theo phân cấp ngân sách nhà nước hiện hành; ưu tiên nguồn lực cho
những ngành, vùng, khu vực có bất bình đẳng giới hoặc có nguy cơ cao về bất bình đẳng giới, vùng nông
thôn, vùng nghèo, vùng miền núi còn nhiều tập tục lạc hậu, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Sáu là, thanh tra, kiểm tra, tổng kết, đánh giá việc thực hiện mục tiêu bình đẳng giới
Công tác thanh tra, giám sát thực hiện bình đẳng giới được quy định tại Luật bình đẳng giới cũng
như trong chiến lược quốc gia về bình đẳng giới. Theo đó, thường xuyên, tăng cường kiểm tra, đánh giá tình
5


Nai giai đoạn 2011-2015, Kế hoạch thực hiện công tác bình đẳng giới hàng năm. Các văn bản này trước khi
ban hành đã được lấy ý kiến của Sở LĐTBXH, Hội LHPN tỉnh, các sở ban ngành, đoàn thể chính trị - xã hội
để đảm bảo yếu tố lồng ghép giới trong các lĩnh vực lao động, y tế, văn hóa, gia đình nhằm hướng đến mục
tiêu bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực.
Thứ ba, kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước về bình đẳng giới cấp tỉnh
Công tác kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước về Bình đẳng giới cấp tỉnh được thực hiện theo đúng
quy định, hướng dẫn của Trung ương; cấp tỉnh có Ban VSTBPN, đồng thời thường xuyên, kịp thời kiện toàn
thành viên Ban VSTBPN tỉnh khi nhân sự thay đổi; đảm bảo nhân sự làm việc ở phòng bình đẳng giới trực
thuộc Sở LĐTBXH tỉnh.
Thứ tư, phát triển đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về bình đẳng giới cấp tỉnh
Đội ngũ cán bộ, công chức trong mỗi cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đóng một vai trò
quan trọng trong việc thực hiện hiệu quả công việc.
6


Ở cấp tỉnh, huyện Phó Chủ tịch UBND tỉnh phụ trách khối văn hóa - xã hội chịu trách nhiệm quản
lý về bình đẳng giới, ngành LĐTBXH chịu trách nhiệm triển khai công tác bình đẳng giới. Ở cấp xã, Phó
Chủ tịch UBND xã phụ trách khối văn hóa – xã hội chịu trách nhiệm quản lý về bình đẳng giới trên địa bàn
xã, một nhân sự kiêm nhiệm trực tiếp thực hiện công tác bình đẳng giới, nhân viên này có thể là công chức
văn hóa – xã hội hoặc là nhân viên phụ trách công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em hoặc cán bộ Hội LHPN xã.
Đội ngũ cộng tác viên công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em và bình đẳng giới tại các khu, ấp trên địa
bàn tỉnh được thành lập theo quyết định của UBND tỉnh.
Ngoài ra, các cơ quan, sở, ban, ngành, đoàn thể có trách nhiệm phối hợp thực hiện bình đẳng giới
đều phân công nhân sự kiêm nhiệm theo dõi công tác này ở cơ quan, đơn vị. Họ đồng thời là thành viên của
Ban VSTBPN ở cấp tương đương.
Thứ năm, hỗ trợ và huy động nguồn lực tài chính thực hiện mục tiêu bình đẳng giới cấp tỉnh
Nguồn kinh phí thực hiện mục tiêu bình đẳng giới cấp tỉnh được bố trí từ các nguồn: ngân sách
trung ương cấp, ngân sách tỉnh bố trí và các khoản viện trợ, tài trợ của các chương trình quốc tế; huy động từ
xã hội, cộng đồng và các nguồn kinh phí khác.
Thứ sáu, thanh tra, kiểm tra, tổng kết, đánh giá việc thực hiện bình đẳng giới cấp tỉnh

nước; đồng thời phải chăm lo cho phụ nữ tiến bộ về mọi mặt, quan tâm đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp,
chính đánh để phụ nữ có điều kiện thực hiện tốt vai trò người công dân, người lao động, người mẹ, người
thầy đầu tiên của con người” [1, tr.3].
1.3.3. Hỗ trợ và tạo điều kiện cho hoạt động bình đẳng giới cấp tỉnh
Trong hoạt động, cơ quan nhà nước sẽ có trách nhiệm xác định thực trạng bình đẳng giới, xây dựng và
bảo đảm thực hiện mục tiêu bình đẳng giới trong cơ quan, tổ chức mình và có báo cáo hằng năm; Bảo đảm
sự tham gia của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động nam, nữ trong xây dựng, thực thi pháp luật,
chương trình, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; Giáo dục về giới và pháp luật về bình đẳng
giới cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động do mình quản lý; Có biện pháp khuyến khích cán bộ,
công chức, viên chức, người lao động thực hiện bình đẳng giới trong cơ quan, tổ chức và gia đình; Tạo điều
kiện phát triển các cơ sở phúc lợi xã hội, các dịch vụ hỗ trợ nhằm giảm nhẹ gánh nặng lao động gia đình.
1.3.4. Đảm bảo bình đẳng giới được thực hiện trong các lĩnh vực của đời sống xã hội
Các lĩnh vực của đời sống xã hội như trong lao động, việc làm và thu nhập; trong nông nghiệp và phát
triển nông thôn; trong xây dựng đô thị văn minh; trong y tế; trong đào tạo, bồi dưỡng, học tập; trong cơ hội,
điều kiện thăng tiến trong công việc; trong lĩnh vực văn hóa thông tin, thể dục thể thao, du lịch và trong gia
đình. Từ năm 1986 đến nay Nhà nước ta đã ban hành trên 40 luật, bộ luật có liên quan đến vấn đề phụ nữ và
bình đẳng giới.
Bên cạnh đó, từ năm 2011 đến năm 2015 đã có 63 văn bản quy phạm pháp luật có lồng ghép vấn đề
bình đẳng giới. Ngoài ra, các văn bản quy phạm pháp luật của các địa phương, bộ, ban ngành trung ương khi
xây dựng và ban hành phải có lồng ghép giới.
1.4. Yếu tố tác động đến quản lý nhà nƣớc về bình đẳng giới cấp tỉnh
1.4.1. Yếu tố chính trị và pháp lý
Đây là yếu tố quan trọng, tiên quyết cho mục tiêu bình đẳng giới được thực hiện có hiệu quả. Đảng và
Nhà nước luôn quan tâm đến vấn đề bình đẳng nam nữ và đảm bảo để phụ nữ được tham gia các mặt của đời
sống xã hội.
Bình đẳng về chính trị là nội dung đầu tiên của bình đẳng giới, vì vậy quốc gia có một nền chính trị ổn
định, thể chế pháp lý đầy đủ sẽ quyết định hiệu quả, kết quả thực hiện bình đẳng giới của quốc gia.
Nếu chế độ chính trị bất ổn, cơ chế pháp lý không ổn định, thường xuyên thay đổi thì công tác bình
đẳng giới khó mà triển khai đồng bộ, hiệu quả, thậm chí không thể triển khai thực hiện.
Trong thời kỳ đổi mới, chủ trương về công tác phụ nữ và bình đẳng giới được thể hiện xuyên suốt

1.4.5. Xu hướng phát triển của xã hội và thời đại
Bình đẳng giới là một mục tiêu quan trọng cần hướng đến không chỉ của Việt Nam, mà của các nước
trên thế giới, là một trong những tiêu chí đánh giá sự phát triển của một xã hội. Nhiều năm qua, chính phủ
nhiều nước trên thế giới đã nỗ lực để mang lại bình đẳng giới cho con người, để con người thật sự được sống
trong một xã hội văn minh, phát triển bền vững, nhân văn.
Bình đẳng giới là một trong các yếu tố để xác định một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Chƣơng 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI
2.1. Khái quát về điều kiện phát triển của tỉnh Đồng Nai
2.1.1. Điều kiện tự nhiên và dân số tỉnh Đồng Nai
Đồng Nai là tỉnh thuộc miền Đông Nam bộ, là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có
diện tích 5.903,940 km2, chiếm 1,76% diện tích tự nhiên của cả nước và chiếm 25,5% diện tích tự nhiên của
vùng Đông Nam bộ. Dân số đến cuối năm 2016 ước là 3.110.000 người, trong đó nữ là 1.492.830 người
chiếm 51,3%; số người trong độ tuổi lao động là 2.019.540 người, trong đó lao động nữ chiếm 47,8%. Có 37
thành phần dân tộc thiểu số sinh sống với 189.098 người.
Tỉnh Đồng Nai có mười một đơn vị hành chính trực. Toàn tỉnh có 171 xã, phường, thị trấn. Đến cuối
năm 2016, toàn tỉnh có 5 huyện, 93 xã đạt chuẩn nông thôn mới.
2.1.2. Điều kiện kinh tế tỉnh Đồng Nai
Nền kinh tế tỉnh Đồng Nai duy trì tốc độ tăng trưởng cao; chuyển dịch cơ cấu đúng định hướng đó là
giảm nhẹ ngành công nghiệp – xây dựng và phát triển mạnh các ngành dịch vụ; từng bước hoàn thiện kết cấu
hạ tầng kinh tế xã hội thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo cơ sở vững chắc cho sự phát
triển của tỉnh; quan tâm đầu tư phát triển sản xuất, đầu tư hệ thống hạ tầng kinh tế kỹ thuật, đặc biệt là đầu tư
các công trình trọng điểm, quan trọng, đầu tư cho nông thôn, hạ tầng đô thị; hoạt động tài chính, tín dụng ổn
định.

9


Hiện Đồng Nai có 36 khu công nghiệp được Thủ tướng phê duyệt, trong đó có 32 khu công nghiệp đã

đại hóa của lãnh đạo tỉnh như Hướng dẫn số 01-HD/TU ngày 22/01/2013 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy (khóa
IX) về quy hoạch cán bộ, lãnh đạo, quản lý nhiệm kỳ 2015 - 2020 và những năm tiếp theo, xác định „„đảm
bảo tỷ lệ cán bộ nữ không dưới 20% trong quy hoạch cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy và ban lãnh đạo các sở,
ban, ngành, Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể các cấp‟‟; Ban Thường vụ Tỉnh ủy (khóa IX) ban hành Chỉ thị
số 13-CT/TU ngày 04/4/2013 về triển khai thực hiện Kết luận số 55-KL/TW của Ban Bí thư Trung ương
Đảng về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa X về "công tác phụ nữ
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước", trong đó xác định „„phấn đấu đến năm 2020, tỷ lệ
nữ tham gia các cấp ủy đảng các cấp đạt từ 25% trở lên, nữ đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp từ 30% 35% trở lên. Các cơ quan đơn vị có tỷ lệ nữ từ 30% trở lên, nhất thiết phải có cán bộ lãnh đạo chủ chốt là
nữ‟‟.

10


Tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy Đảng cấp tỉnh, huyện nhiệm kỳ 2015-2020 tăng so với nhiệm kỳ 20102015, trong đó tỉnh tăng 4,6%, huyện tăng 1,78%, tuy nhiên cấp xã giảm 1,15%. Ngoài ra, có nữ Phó Bí thư
Tỉnh ủy nhiệm kỳ 2015-2020; cấp huyện có 02 nữ Bí thư, 05 nữ Phó Bí thư huyện ủy.
Tỷ lệ các cơ quan nhà nước có cán bộ nữ tham gia vào ban lãnh đạo từ tỉnh đến cơ sở ngày càng
tăng. Sau 5 năm, nhờ làm tốt công tác quy hoạch, đào tạo mà cán bộ nữ tham gia ban lãnh đạo tăng từ 40%
lên 50% (cấp tỉnh) và từ 34,9% lên 50,3% (cấp xã), tuy nhiên cấp huyện lại giảm từ 38,5% xuống còn 23%.
Trong các giai đoạn UBND tỉnh đều có phó chủ tịch là nữ, trong nhiệm kỳ có nữ Phó Bí thư Tỉnh
ủy và lần đầu tiên có nữ trưởng đoàn đại biểu Quốc hội; đa số các sở, ban ngành của tỉnh, huyện đều có lãnh
đạo chủ chốt là nữ, có 05 đơn vị nữ lãnh đạo cấp trưởng. Tuy nhiên, vẫn còn một số sở, ngành nhiều năm
liền không có lãnh đạo chủ chốt là nữ.
Tỷ lệ nữ trúng cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 đều tăng so với nhiệm
kỳ 2011-2016, cụ thể cấp tỉnh tăng 4,48%, cấp huyện tăng 3,52% và cấp xã tăng 3,93%; Bên cạnh đó, công
tác bồi dưỡng nghiệp vụ, kỹ năng cho nữ đại biểu hội đồng nhân dân các cấp luôn được quan tâm thực hiện.
Công tác phát triển đảng viên nữ, nhất là nữ ở địa bàn dân cư, vùng đồng bào dân tộc, phụ nữ tôn
giáo luôn được các cấp uỷ Đảng quan tâm. Công tác bố trí, bổ nhiệm, đề bạt, luân chuyển cán bộ nữ được
quan tâm và thực hiện đảm bảo theo đúng quy trình, quy định của tỉnh. Đội ngũ cán bộ nữ được bổ nhiệm, đề
bạt về cơ bản đủ tiêu chuẩn trình độ, năng lực, phẩm chất chính trị.
2.2.2. Bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế, lao động, việc làm

mặt.
Tỷ lệ nữ CBCC tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng luôn đảm bảo tỷ lệ dao động từ 25 – 40%, đặc
biệt có những lớp nâng cao năng lực dành riêng cho lực lượng nữ cán bộ lãnh đạo, quản lý. Chất lượng đội
ngũ CBCCVC cấp tỉnh, huyện đã có sự phát triển vượt bậc so với giai đoạn trước.
Bên cạnh đó, Sở Nội vụ chủ động phối hợp với các cơ quan đơn vị, địa phương xét chọn nữ cán bộ
công chức, viên chức trong đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, đảm bảo tốt chính sách của nhà nước đối
với phụ nữ có con dưới 5 tuổi khi được học tập nâng cao trình độ. Căn cứ Nghị Quyết của HĐND tỉnh,
UBND tỉnh Đồng Nai ban hành Quyết định số 57/2010/QĐ-UBND về ban hành quy định tạm thời mức trợ
cấp đào tạo, bồi dưỡng đối với cán bộ, công chức là nữ được ưu tiên hưởng mức trợ cấp cao hơn nam giới là
100.000đồng/người/tháng khi được cử tham gia các lớp đào tạo bồi dưỡng có thời gian tập trung từ 01 tháng
trở lên; hỗ trợ gấp 02 lần cho cán bộ nữ có con dưới 60 tháng tuổi khi được cử đi đào tạo.
2.2.4. Bình đẳng giới trong lĩnh vực khoa học công nghệ
Lĩnh vực khoa học công nghệ được UBND tỉnh quan tâm triển khai, hoạt động nghiên cứu khoa
học và phát triển công nghệ đã chú trọng hiệu quả ứng dụng của các đề tài nghiên cứu vào thực tiễn. Trong 5
năm đã triển khai quản lý 6 đề tài cấp bộ thuộc chương trình phát triển nông thôn, miền núi; triển khai 83 đề
tài, đề án nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ theo 6 chương trình mục tiêu tổng hợp và 95 đề tài,
dự án nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ cấp huyện và cấp ngành; chuyển giao 53 đề tài, dự án cấp
Bộ, huyện và cấp ngành về ứng dụng trong các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, công nghệ, thông tin, y
tế, chăm sóc sức khỏe, bảo vệ tài nguyên môi trường, phát triển kinh tế xã hội. Trong các đề tài, dự án luôn
quan tâm ưu tiên cho phụ nữ tham gia.
2.2.5. Bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hóa thông tin, thể dục thể thao
UBND tỉnh đã chỉ đạo các sở, ban, ngành cấp tỉnh, UBND các huyện, thị xã, thành phố đẩy mạnh
công tác thông tin tuyên truyền bình đẳng giới, vì sự tiến bộ phụ nữ với nhiều hình thức phong phú và đa
dạng. Hàng năm đều tiến hành thanh, kiểm tra các cơ sở in ấn, phát hành nhằm loại trừ các sản phẩm văn hóa
thông tin mang yếu tố định kiến giới, phân biệt giới được phát hành hoặc xuất bản trên địa bàn tỉnh.
Định hướng các cơ quan báo chí tuyên truyền, phổ biến Luật Bình đẳng giới, Nghị quyết số 07NQ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy (khóa VIII) thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/4/2007 của Bộ
chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Kế hoạch 3910/KHUBND ngày 10/6/2011 của UBND tỉnh.
Qua đó, đảm bảo 80% sản phẩm văn hóa, thông tin được kiểm soát loại trừ yếu tố định kiến giới;
Các cơ quan báo, đài cấp tỉnh có chuyên mục, chuyên trang bình đẳng giới hàng tháng; 100% Đài Truyền
thanh các huyện, thị xã Long Khánh, thành phố Biên Hòa và khoảng trên 77% đài truyền thanh các xã,

nữ. Số nạn nhân là nữ giới trong các vụ bạo lực gia đình gấp nhiều lần so với nam giới. Trong thực tế, các vụ
bạo lực gia đình vẫn xẩy ra bất bình đẳng giới, thế nhưng, các cơ quan chức năng chỉ ghi nhận các đơn thư
về bạo lực gia đình chứ không có xử phạt vi phạm hành chính về bình đẳng giới theo quy định. Nguyên nhân
chủ yếu là sự đấu tranh của người phụ nữ trước bạo lực gia đình và vấn đề bình đẳng giới còn hạn chế, thiếu
kiên quyết, cam chịu, sợ ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của gia đình trước họ hàng, làng xóm và khi đó
trong trường hợp có bạo lực xảy ra thì hình thức xử lý của pháp luật mới dừng lại ở cảnh cáo, khuyên răn,
giáo dục, chỉ khi nạn nhân chứng minh thương tích 11% trở lên mới truy cứu trách nhiệm hình sự.
2.3. Phân tích thực trạng quản lý nhà nƣớc về bình đẳng giới tỉnh Đồng Nai
2.3.1. Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược bình đẳng giới tỉnh Đồng Nai
Thực hiện Nghị quyết 11- NQ/TW ngày 27/4/2007 của Bộ chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Quyết định số 2351/QĐ-TTg ngày 24/12/2010 của Thủ tướng
Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020, Căn cứ Quyết định số
1241/QĐ-TTg ngày 22/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình quốc gia về bình
đẳng giới giai đoạn 2011-2015 và sự chỉ đạo của UBND tỉnh tại Kế hoạch hành động số 3910/KH-UBND
ngày 10/6/2011 thực hiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2015, Sở LĐTBXH và các
sở, ban, ngành, đoàn thể liên quan xây dựng dự thảo, trình UBND tỉnh ban hành văn bản số 3020/UBND ngày
15/11/2011 về thực hiện Chương trình quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2015 trên địa bàn tỉnh Đồng
Nai. Kế hoạchđã được triển khai, phổ biến đến các sở, ban, ngành, đoàn thể của tỉnh và UBND các huyện,
thành phố Biên Hòa, thị xã Long Khánh; các xã, phường, thị trấn trong toàn tỉnh.
Về công tác phối hợp, bình đẳng giới là một lĩnh vực rộng nên phải được thực hiện toàn diện trên
tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình, do đó chỉ một ngành LĐTBXH không thể quản lý hết

13


được. Để thực hiện tốt bình đẳng giới cần có sự phối hợp giữa các cơ quan, trên cơ sở có sự chủ trì của cơ
quan chịu trách nhiệm chính thuộc ngành LĐTBXH.
Luật bình đẳng giới, Nghị định 70/NĐ–CP của Chính phủ quy định trách nhiệm phối hợp của một
số cơ quan, tổ chức có liên quan trong thực hiện bình đẳng giới, tỉnh Đồng Nai đã ban hành Chỉ thị số
07/CT–UBND ngày 26/10/2010 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bình Đẳng giới trên địa bàn

Việc xây dựng và tổ chức thực hiện thể chế và chính sách về bình đẳng giới có ý nghĩa quan trọng
trong việc tạo hành lang pháp lý đề thực hiện công tác quản lý nhà nước về bình đẳng giới. Trên tinh thần
Hiến pháp, Luật bình đẳng giới và các văn bản quy phạm pháp luật về bình đẳng giới của Trung ương, tỉnh
đã xây dựng và ban hành nhiều văn bản nhằm thực hiện bình đẳng giới như: Nghị quyết số 07-NQ/TU ngày
28/11/2007; Kế hoạch số 9521/KH-UBND ngày 19/11/2010 về thực hiện Nghị quyết số 57/NQ-CP; Kế
hoạch số 3910/KH-UBND ngày 10/6/2011 về việc thực hiện Chiến lược Quốc gia về bình đẳng giới tỉnh
Đồng Nai giai đoạn 2011-2015. Ngoài ra, UBND tỉnh cũng đã ban hành Đề án can thiệp giảm thiểu mất cân
14


bằng giới tính khi sinh giai đoạn 2011-2015; Đề án 343 về tuyên truyền, giáo dục phẩm chất, đạo đức phụ nữ
Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước giai đoạn 2011-2015; Đề án 704 về giáo
dục 5 triệu bà mẹ nuôi dạy con tốt giai đoạn 2010-2015; Đề án 295 về dạy nghề cho lao động nông thôn;
Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030; Kế hoạch phòng chống
bạo lực gia đình tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2011-2015, Kế hoạch thực hiện công tác bình đẳng giới hàng năm.
Bên cạnh đó, UBND tỉnh Đồng Nai ban hành quyết định số 3020/QĐ–UBND ngày 15/11/2011 về
phê duyệt chương trình hành động về Bình đẳng giới tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2011-2015 triển khai thực hiện
4 dự án về bình đẳng giới, các dự án này nằm trong chương trình chiến lược quốc gia về Bình đẳng giới,
nhằm triển khai có hiệu quả các mục tiêu về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2015; Kế hoạch số 1133/KHUBND ngày 28/2/2016 thực hiện chương trình hành động quốc gia về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Đồng
Nai giai đoạn 2016-2020 với 5 nội dung trọng tâm và dự toán kinh phí thực hiện trong giai đoạn là 12,2 tỷ
đồng, trong đó ngân sách Trung ương là 2,26 tỷ đồng và ngân sách địa phương là 9,94 tỷ đồng.
Công tác lồng ghép giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật bước đầu được thực hiện
trong các lĩnh vực việc làm, giáo dục và đào tạo, chăm sóc sức khỏe, chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội. Theo
báo cáo của Sở Tư pháp 100% các văn bản quy phạm pháp luật do HĐND và UBND ban hành phù hợp với
nguyên tắc quy định về bình đẳng giới, được thi hành có hiệu quả, được đối tượng chấp hành nghiêm chỉnh,
nhân dân ủng hộ góp phần bảo đảm nguyên tắc công bằng trong áp dụng pháp luật. Việc thực hiện lồng ghép
giới vào xây dựng và tổ chức thực hiện quyền bình đẳng giới của phụ nữ trong các lĩnh vực lao động và việc
làm, giáo dục và đào tạo, chăm sóc sức khỏe, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, lồng ghép trong quy hoạch,
đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt đối với đội ngũ cán bộ, công chức được triển khai thường xuyên ở tất cả các cấp,
các ngành, đoàn thể từ đó ý thức bình đẳng giới dần dần được thừa nhận và đi vào cuộc sống của cán bộ,

phòng LĐTBXH kiêm nhiệm công tác khác và bình đẳng giới trực tiếp thực hiện công tác này.
Ở cấp xã, Phó Chủ tịch UBND xã phụ trách khối văn hóa, xã hội chịu trách nhiệm quản lý về bình
đẳng giới trên địa bàn xã, một nhân sự kiêm nhiệm trực tiếp thực hiện công tác bình đẳng giới, nhân viên này
có thể là công chức văn hóa, xã hội hoặc là nhân viên phụ trách công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em hoặc cán
bộ Hội LHPN xã.
Đội ngũ cộng tác viên cộng tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em và bình đẳng giới tại các khu, ấp trên địa
bàn tỉnh được thành lập theo quyết định của UBNDxã. Đội ngũ này có trách nhiệm tuyên truyền trong nhân
dân thực hiện các chính sách, pháp luật quy định về bình đẳng giới, hỗ trợ chính quyền địa phương trong
việc quản lý về bình đẳng giới.
2.3.4. Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý và thực hiện nhiệm vụ về bình đẳng giới tỉnh Đồng Nai
Hiện nay chỉ có cấp tỉnh có 5 biên chế chuyên trách quản lý về bình đẳng giới. Ở cấp huyện và cấp
xã có 266 cán bộ kiêm nhiệm làm công tác bình đẳng giới và phải thực hiện nhiều việc như công tác chăm
sóc, bảo vệ trẻ em, bảo trợ xã hội, công tác phụ nữ và bình đẳng giới. Ngoài ra, các cơ quan, sở, ban ngành
có trách nhiệm phối hợp thực hiện bình đẳng giới đều phân công nhân sự kiêm nhiệm theo dõi công tác này
ở cơ quan, đơn vị. Họ đồng thời là thành viên của Ban VSTBPN ở cấp tương đương.
Về năng lực thực hiện công việc, cán bộ quản lý và thực hiện nhiệm vụ về bình đẳng giới các cấp
đã có sự nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ được giao. Đối với cán bộ công chức làm công tác bình đẳng giới thuộc
sở LĐTBXH là đội ngũ hoạt động chuyên trách nên có điều kiện tìm hiểu, nghiên cứu, tham gia các lớp tập
huấn, bồi dưỡng để nâng cao nhận thức và kỹ năng hoạt động. Đội ngũ cán bộ công chức cấp huyện, xã hoạt
động kiêm nhiệm nhưng đã tích cực tổ chức, tham gia các hoạt động nhằm thúc đẩy bình đẳng giới ở địa
phương. Đội ngũ nhân sự ngoài ngành LĐTBXH cũng đã cố gắng trong công tác phối hợp theo yêu cầu,
nhiệm vụ được phân công.
Đối với những lĩnh vực liên quan đến tư tưởng, nhận thức như bình đẳng giới thì những người làm
công tác quản lý trước hết phải có nhận thức đúng về vấn đề giới. Tuy nhiên đội ngũ cán bộ công chức hoạt
động về bình đẳng giới trong tỉnh được tuyển chọn từ những người đang công tác trong ngành, hoặc tuyển
dụng mới tương tự như lĩnh vực khác, chưa có sự đánh giá về khả năng nhận thức, thái độ của họ đối với
vấn đề bình đẳng giới. Nhiều người làm công tác về bình đẳng giới nhưng vẫn còn mang nặng định kiến giới.
2.3.5. Hỗ trợ và huy động nguồn lực tài chính thực hiện mục tiêu bình đẳng giới tỉnh Đồng Nai
Kinh phí thực hiện cho công tác bình đẳng giới của tỉnh Đồng Nai tăng dần theo các năm, từ 830
triệu của năm 2012 và đến năm 2016 là 1,4 tỷ, nhất là ngân sách tỉnh hàng năm đều dành nguồn ngân sách

xây dựng trường mầm non, nhà giữ trẻ trong khu công nghiệp, các địa bàn đông lao động nữ; hướng dẫn xây
dựng cơ sở dữ liệu và bộ chỉ số giám sát, đánh giá thực hiện bình đẳng giới theo từng lĩnh vực.
Tuy nhiên, công tác kiểm tra mới dừng lại ở cấp tỉnh. Trong thời gian tới, tỉnh cần có kế hoạch
phân công các huyện tự kiểm tra các xã trên địa bàn hoặc kiểm tra chéo để giảm tải công việc cho các cơ
quan quản lý cấp tỉnh cũng như nâng cao tinh thần trách nhiệm của địa phương, tạo điều kiện để mọi đơn vị
cấp cơ sở đều được kiểm tra đồng loạt.
Mặc dù Chính phủ ban hành Nghị định số 55/NQ–CP ngày 10/6/2009 của Chính phủ về xử phạt vi
phạm hành chính về bình đẳng giới. Nhưng từ khi Nghị định có hiệu lực đến năm 2016, trên địa bàn tỉnh
Đồng Nai chưa ghi nhận trường hợp xử phạt vi phạm hành chính về bình đẳng giới. Nguyên nhân là do thiếu
thông tư hướng dẫn cụ thể; không có đơn thư khiếu nại, tố cáo, hoặc trực tiếp phát hiện vụ việc vi phạm hành
chính về bình đẳng giới. Thực tế tại Đồng Nai cho thấy từ khi Nghị định 55 được ban hành, thanh tra ngành
LĐTBXH, thanh tra chuyên ngành khác đã được tập huấn để thực hiện nghị định này. Nhưng thực tế, quá
trình thực hiện gặp rất nhiều khó khăn, bởi theo quy định thì những hành vi bị xử phạt là những hành vi vi
phạm bình đẳng giới và bị dư luận phản ánh. Trong khi đó, tư tưởng cả nể, không “vạch áo cho người xem
lưng” vẫn còn hằn sâu trong tư tưởng người Việt khiến dễ dàng bỏ qua cho những hành vi vi phạm. Trong
gia đình có thể xảy ra vi phạm về bình đẳng giới, nhưng nếu ở mức độ không nghiêm trọng thì người dân
không lên tiếng tố cáo. Hơn nữa việc phạt tiền gây ảnh hưởng trực tiếp đến kinh tế gia đình nên người bị vi
phạm không muốn pháp luật can thiệp.
Công tác tổng kết, đánh giá việc thực hiện bình đẳng giới luôn được quan tâm thực hiện, định kỳ 6
tháng, 1 năm Ban VSTBPN tỉnh họp để đánh giá công tác triển khai thực hiện kế hoạch, chương trình hoạt
17


động bình đẳng giới, qua đó đánh giá những mặt làm được, chưa làm được, tìm ra nguyên nhân của những
việc chưa làm được để từ đó xây dựng phương hướng, nhiệm vụ thực hiện thời gian tới đạt hiệu quả hơn
Từ năm 2011 đến nay Ban VSTBPN tỉnh đã tổ chức 12 hội nghị để sơ tổng kết hoạt động công tác
bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh, 5 hội thảo, tọa đàm chia sẻ kinh nghiệm nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động,
công tác bình đẳng giới
2.4. Đánh giá thực trạng quản lý nhà nƣớc về bình đẳng giới tỉnh Đồng Nai
2.4.1. Kết quả đạt được

chế tài đảm bảo thực hiện bình đẳng giới một cách hữu hiệu. Công tác triển khai thực hiện các nghị định thực
hiện Luật Bình đẳng giới còn hạn chế, thiếu đồng bộ, cụ thể là Nghị định số 55/2009/NĐ-CP ngày 10/6/2009
của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính về bình đẳng giới chưa có hướng dẫn cụ thể từ cấp
trên nên thực tế trên địa bàn tỉnh cho đến nay vẫn chưa xử phạt một hành vi vi phạm nào theo Luật quy định.

18


Tỉnh cũng chưa ban hành quy định về việc xử phạt trên cơ sở Nghị định 55/2009/NĐ-CP do chưa có sự
hướng dẫn cụ thể của Bộ LĐTBXH.
Hai là, nhận thức về giới tuy có chuyển biến nhưng chưa cao, cụ thể vẫn còn khoảng trên 10% lãnh
đạo các cấp, các ngành chưa quan tâm đến công tác bình đẳng giới, coi công tác phụ nữ là công tác phong
trào, không phải là công tác trọng tâm của chính quyền, của người đứng đầu, của lãnh đạo các cấp, các
ngành mà chỉ riêng của nữ giới. Cho đến nay nhiều người vẫn quan niệm bình đẳng giới là đấu tranh cho phụ
nữ là việc của Hội LHPN. Bên cạnh đó, định kiến giới, tư tưởng trọng nam, khinh nữ vẫn còn tồn tại ở một
bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức và người dân tại các địa bàn dân cư.
Ba là, các hoạt động triển khai, phổ biến Luật Bình đẳng giới, kiến thức bình đẳng giới còn mang
tính hình thức, chưa sâu do đó nhận thức về bình đẳng giới trong cộng đồng chưa rõ ràng; công tác lồng ghép
giới vào quá trình hoạch định và thực thi chính sách chưa được thực hiện một cách đầy đủ, đồng bộ, chủ
động ở tất cả các cấp, các ngành. Truyền thông bình đẳng giới để thay đổi nhận thức và hành động của cộng
đồng còn yếu, đặc biệt là ở cấp phường, xã, thị trấn, các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện
kinh tế khó khăn; công tác tuyên truyền cho công nhân lao động trong các công ty, xí nghiệp chỉ có thể thông
qua tờ gấp, thông báo nội bộ, bảng tin, dẫn đến nhận thức bình đẳng giới của một bộ phận cán bộ, công chức
và nhân dân chưa đầy đủ, tư tưởng trọng nam hơn nữ còn tồn tại trong xã hội. Tài liệu tập huấn, tuyên truyền
bình đẳng giới còn ít.
Bốn là, công tác đào tạo, bồi dưỡng và thực hiện quy hoạch cán bộ nữ ở các cấp ủy Đảng một số
nơi vẫn chưa được quan tâm đúng mức; tỷ lệ cán bộ nữ được đào tạo theo yêu cầu chuẩn hóa cán bộ chiếm tỷ
lệ thấp so với nam giới. Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng thiếu tính chiến lược, chưa gắn kế hoạch
đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng, đề bạt cán bộ nữ.
Năm là, tỷ lệ phụ nữ tham gia lãnh đạo và quản lý có tăng nhưng chậm; tỷ lệ nữ giữ lãnh đạo chủ

đẳng giới chưa được thực hiện một cách rõ ràng, dẫn đến thiếu sự quan tâm, đầu tư đúng mức.
Bốn là, việc hướng dẫn thực hiện các văn bản dưới Luật còn chậm, việc xử lý vi phạm hành chính về
bình đẳng giới theo Nghị định số 55/2009/NĐ-CP ngày 10/6/2009 của Chính phủ chưa thực sự đi vào cuộc
sống.
Năm là, sự phối hợp giữa các cơ quan, ban ngành còn thiếu đồng bộ, nhất quán từ khâu triển khai thực
hiện đến cơ chế báo cáo. Cán bộ làm công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ phụ nữ các cấp chủ yếu là kiêm
nhiệm và thường xuyên chuyển đổi công tác nên có phần hạn chế trong công tác tham mưu và triển khai thực
hiện.
Sáu là, nhiều đơn vị, địa phương chỉ bố trí được nguồn kinh phí rất ít cho công tác bình đẳng giới, vì
sự tiến bộ phụ nữ (khoảng 10 triệu/năm) nên rất khó để có thể triển khai được các nội dung đến cán bộ, công
chức và nhân dân.
Bảy là, chưa xây dựng được bộ chỉ tiêu phát triển giới nên hàng năm, tỉnh chỉ thống kê các số liệu theo
yêu cầu báo cáo thực hiện các mục tiêu của quốc gia về bình đẳng giới.
Chƣơng 3
ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ BÌNH ĐẲNG
GIỚI TỈNH ĐỒNG NAI
3.1. Dự báo xu hƣớng bình đẳng giới trên thế giới và Việt Nam
3.1.1. Dự báo xu hướng bình đẳng giới trên thế giới.
Bình đẳng giới là vấn đề ngày càng được quan tâm ở các quốc gia, nhất là trong thời kỳ hội nhập kinh
tế quỗc tế sâu rộng giữa các quốc gia như hiện nay. Lãnh đạo đa phần các quốc gia trên thế giới luôn quan
tâm, xây dựng các chương trình, giải pháp thực hiện bình đẳng giới.
Bình đẳng giới, nâng cao quyền năng cho phụ nữ sẽ là xu hướng phát triển và mục tiêu hướng đến của
nhiều quốc gia, nhất là trong quá trình hội nhập sâu rộng của các quốc gia, khu vực.
Do đó, hướng tới mục tiêu bình đẳng giới luôn được các quốc gia trên thế giới quan tâm thực hiện,
cũng như dự báo các nước ASEAN sẽ đạt mục tiêu bình đẳng giới vào năm 2030.
3.1.2. Dự báo xu hướng bình đẳng giới ở Việt Nam
Bình đẳng giới được xem là tiêu chí quan trọng đánh giá sự phát triển của một xã hội, một đất nước.
Nó vừa là mục tiêu của sự phát triển vừa là yếu tố nâng cao khả năng tham gia đóng góp của phụ nữ và nam
giới vào sự phát triển ổn định và bền vững của mỗi quốc gia. Bình đẳng giới là một chủ trương lớn của Đảng
và nhà nước, là nhiệm vụ quan trọng của chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội. Bình đẳng giới vừa

Đồng Nai giai đoạn 2016-2020; về thực hiện biện pháp đảm bảo bình đẳng giới đối với nữ cán bộ, công
chức, viên chức giai đoạn 2016-2020; về thực hiện đề án phòng ngừa và ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới
giai đoạn 2016-2020 và tầm nhìn đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh.
3.3. Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nƣớc về bình đẳng giới tỉnh Đồng Nai
3.3.1. Cụ thể hóa và tổ chức thực hiện hiệu quả thể chế và chính sách về bình đẳng giới
Hệ thống chính sách, pháp luật chính là hành lang pháp lý, là căn cứ, cơ sở để quản lý một lĩnh vực,
đưa nó vào khuôn khổ, trật tự nhất định mà nhà nước đã định hướng nhằm phục vụ tốt nhất cho sự phát của
xã hội. Hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật đối với một lĩnh vực luôn là một vấn đề quan trọng để phát
triển lĩnh vực đó đúng định hướng.
Đồng Nai là một tỉnh công nghiệp, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía nam, có tốc độ phát triển
nhanh và toàn diện, trong khi đó tỉnh có tỷ lệ tăng dân số cơ học cao, thu hút lao động từ các nơi khác đến
làm việc. Vì vậy trong thời gian tới, công tác quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh phải đối
mặt với nhiều thách thức và khó khăn đó là cùng với sự tăng trưởng kinh tế nhanh, tất yếu sẽ nảy sinh nhiều
vấn đề xã hội ảnh hưởng đến cuộc sống dân cư, trong đó có tác động đến nhóm yếu thế trong xã hội, trong
đó có vấn đề về giới nữ và vấn đề về bình đẳng giới.
Chính sách quy định về bình đẳng giới bao gồm quy định bảo đảm tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội, HĐND
các cấp, chính sách cân bằng giới tính khi sinh, chính sách hỗ trợ phụ nữ vay vốn và giải quyết việc làm,
chính sách đảm bảo 100% hộ nghèo do phụ nữ làm chủ được vay vốn, chính sách đào tạo nghề và giải quyết
việc làm cho lao động nữ, chính sách hỗ trợ tư vấn cho người bị bạo lực gia đình, chính sách bảo vệ bà mẹ
sinh con và nuôi con nhỏ.
21


Tỉnh cần xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp luật phù hợp với mục tiêu bình đẳng giới tại địa
phương. Xây dựng và thực hiện các chính sách nhằm thúc đẩy việc thực hiện các mục tiêu bình đẳng giới.
Ngoài ra, tỉnh cũng cần ban hành văn bản hướng dẫn công tác quản lý như các chính sách hỗ trợ, tư vấn cho
nạn nhân bị bạo lực gia đình để giúp đỡ những người này thoát khỏi bệnh bạo hành, sẵn sàng tố cáo các hành
vi bạo lực gia đình; tỉnh cần sớm ban hành các hướng dẫn đối với việc xử phạt các hành vi vi phạm hành
chính về bình đẳng giới; đối với việc nâng cao vị thế và sự tham gia của phụ nữ vào các hoạt động chính trị
và cơ quan quản lý nhà nước cần bổ sung chính sách ưu đãi, hỗ trợ đối với cán bộ nữ trong việc đi học, đào

lý. Trong khi đó để có cái nhìn toàn diện về tình hình phát triển giới của tỉnh, có căn cứ số liệu phong phú
cho việc chứng minh sự phát triển giới cũng như đánh giá tình hình phát triển giới qua các giai đoạn và để
góp phần thực hiện có hiệu quả công tác quản lý nhà nước về bình đẳng giới, trong thời gian tiếp theo tỉnh
cần sớm xây dựng và ban hành bộ tiêu chí phát triển giới làm cơ sở dữ liệu phục vụ lâu dài cho công tác bình
đẳng giới và các công tác khác có liên quan, đồng thời xây dựng và hoàn chỉnh bộ chỉ tiêu thống kê phát
22


triển giới theo Quyết định số 56/QĐ-TTg ngày 14/10/2011 của Thủ tướng Chính phủ để đảm bảo tính thống
nhất thống kê và lưu trữ số liệu phù hợp với đặc điểm tình hình của địa phương.
Các cơ quan cần đề cao tính chủ động trong việc thực hiện thống kê giới; chấp hành nghiêm túc
chế độ báo cáo, biểu mẫu thống kê đầy đủ và kịp thời. Gắn trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan với số
liệu thống kê về giới do cơ quan mình thu thập, tổng hợp. Hệ thống chỉ tiêu phát triển giới phải được lồng
ghép trong hệ thống chỉ tiêu kế hoạch ngành và lĩnh vực và thực hiện đồng thời với thời gian xây dựng kế
hoạch ngành hàng năm.
3.3.3. Bồi dưỡng năng lực quản lý và chuyên môn cho đội ngũ cán bộ quản lý về bình đẳng giới
tỉnh Đồng Nai
Trong thời gian qua tỉnh Đồng Nai đã xây dựng được đội ngũ nhân sự làm công tác bình đẳng giới từ
cấp tỉnh đến cấp xã. Tuy nhiên, đội ngũ cán bộ công chức làm công tác quản lý về bình đẳng giới chỉ có 05
cán bộ thuộc phòng bình đẳng giới, Sở LĐTBXH tỉnh là chuyên trách còn lại cấp huyện, cấp xã và các
ngành khác là kiêm nhiệm, bán chuyên trách, trong khi đó ngoài việc tham gia quản lý thì họ còn tham gia
vào công tác tham mưu xây dựng chính sách và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật. Chính vì kiêm
nhiệm, công việc nhiều, trình độ của nhiều cán bộ cấp cơ sở còn hạn chế, gây ảnh hưởng phần nào đến việc
tham mưu và tổ chức thực hiện.
Để khắc phục những tồn tại hạn chế của đội ngũ cán bộ làm công tác tham mưu, thực hiện lồng ghép
giới trong hoạch định chính sách cần củng cố đội ngũ cán bộ công chức làm công tác bình đẳng giới theo
hướng chuyên trách ở các cấp, đặc biệt là ở cấp cơ sở. Bên cạnh đó thường xuyên tổ chức tập huấn, hội thảo,
hội nghị, lồng ghép giới nhằm nâng cao năng lực tham mưu và ra quyết định cho đội ngũ cán bộ công chức
làm công tác bình đẳng giới.
3.3.4. Tăng hỗ trợ, huy động và sử dụng hiệu quả nguồn tài chính từ ngân sách tỉnh, từ xã hội


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status