GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO ĐỒNG BÀO CÁC DÂN TỘC ÍT NGƯỜI Ở HUYỆN SƠN HÒA, TỈNH PHÚ YÊN (LV thạc sĩ) - Pdf 47

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
………/………

BỘ NỘI VỤ
.…../……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

PHẠM ANH TÂN

GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC
ÍT NGƢỜI Ở HUYỆN SƠN HÒA, TÌNH PHÚ YÊN

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp – Luật Hành chính
Mã số: 60 38 01 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học :
PGS.TS NGUYỄN QUỐC SỬU

THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tác giả. Các thông
tin, số liệu được trình bày trong Luận văn là trung thực và có nguồn gốc, xuất
xứ được công bố, báo cáo rõ ràng.
Các kết quả nghiên cứu của Luận văn chưa được công bố trong bất kì
công trình nghiên cứu nào.

Phú Yên, ngày tháng năm 2017
Học viên
Phäm Anh Tån


MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT VÀ
GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC ÍT NGƢỜI ........ 10
1.1. Những vấn đề lý luận cơ bản về giáo dục pháp luật ............................ 10
1.1.1. Khái niệm giáo dục pháp luật........................................................ 10
1.1.2. Mục đích của giáo dục pháp luật .................................................. 13
1.1.3. Chủ thể và đối tượng của giáo dục pháp luật ............................... 15
1.1.4. Nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục pháp luật ................. 16
1.1.5. Mối quan hệ giữa giáo dục pháp luật với các lĩnh vực giáo dục
khác .......................................................................................................... 17
1.2. Khái niệm, vai trò và đặc trưng công tác giáo dục pháp luật đối với
đồng bào dân tộc ít người........................................................................... 19
1.2.1. Khái niệm giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc ít người ...... 19
1.2.2. Vai trò của giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc ít người...... 21
1.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục pháp luật cho đồng bào dân
tộc ít người ............................................................................................... 23
1.2.4. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về giáo dục pháp luật cho đồng
bào các dân tộc ít người .......................................................................... 31
Tiểu kết chương 1 ....................................................................................... 36


3.1.2. Giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc ít người phải thu hút sự
tham gia chủ động, tích cực của tất cả các cơ quan, ban, ngành, tổ chức,
đoàn thể hữu quan ở các cấp trên địa bàn huyện Sơn Hòa .................... 65
3.1.3. Phải đổi mới đồng bộ cả về nội dung, phương pháp và hình thức
giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc ít người .................................. 67
3.1.4. Kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục pháp luật với giáo dục về chính trị,
tư tưởng, đạo đức, lối sống cho đồng bào dân tộc ít người .................... 68
3.1.5. Gắn kết chặt chẽ giữa giáo dục pháp luật với phát triển kinh tế,
văn hóa, xã hội ở vùng đồng bào dân tộc ít người, đáp ứng yêu cầu bảo
vệ trật tự, kỷ cương, an toàn xã hội ......................................................... 69
3.2. Các giải pháp cơ bản nhằm tăng cường giáo dục pháp luật đối với đồng
bào dân tộc ít người ở Sơn Hòa, Phú Yên hiện nay ................................... 71
3.2.1. Nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm, năng lực của chủ thể, đối
tượng trong giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc ít người trên địa
bàn huyện Sơn Hòa .................................................................................. 71
3.2.2. Bảo đảm các điều kiện về kinh tế, chính trị, văn hóa và pháp luật
cho giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc ít người ........................... 87
3.2.3. Rà soát, điều chỉnh, ban hành mới các văn bản pháp quy về giáo
dục pháp luật cho đồng bào dân tộc ít người ........................................ 100
3.2.4. Xã hội hóa giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc ít người ở
huyện Sơn Hòa ....................................................................................... 100
Tiểu kết chương 3 ..................................................................................... 103
KẾT LUẬN .................................................................................................. 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 107


DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU - CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt


XHCN

Xã hội chủ nghĩa


1
PAGEMỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài luận văn
Trong công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và
lãnh đạo, đất nước ta đang tiến hành đổi mới toàn diện và sâu sắc các mặt, các
lĩnh vực của đời sống xã hội. Chúng ta đã và đang không ngừng nỗ lực xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) của nhân dân, do nhân
dân, vì nhân dân. Để xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền XHCN thì
bên cạnh việc xây dựng, ban hành hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ, điều
quan trọng hơn là phải đưa pháp luật vào thực tế xã hội để mọi thành viên trong
xã hội, trong đó có đồng bào các dân tộc ít người (DTIN), hiểu được những
nguyên tắc, quy định pháp luật; từ đó, sử dụng pháp luật như một công cụ để
bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tập thể, cộng đồng và của mỗi người dân. Nhà
nước pháp quyền XHCN Việt Nam quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội
bằng pháp luật, phát huy dân chủ và không ngừng tăng cường pháp chế
XHCN, luôn luôn đặt pháp luật ở vị trí thượng tôn, yêu cầu mọi công dân phải
sống, làm việc theo pháp luật; đòi hỏi phải đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo
dục pháp luật (PBGDPL) cho các tầng lớp nhân dân nhằm trang bị cho họ
những kiến thức, hiểu biết nhất định về pháp luật.
Đồng bào DTIN ở tỉnh Phú Yên là một bộ phận không thể tách rời của
đại gia đình các dân tộc Việt Nam, cư trú tập trung chủ yếu ở các huyện Sông
Hinh, Đồng Xuân và Sơn Hòa, có vị trí chiến lược quan trọng về mặt địa
chính trị và an ninh quốc phòng của tỉnh. Trong những năm qua, đồng bào
DTIN đã và đang có những đóng góp quan trọng cho sự nghiệp xây dựng kinh
tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh trên địa bàn tỉnh nói chung và ở

Luật phổ biến, giáo dục pháp luật số 14/2012/QH13 đã quy định Phổ
biến, giáo dục pháp luật cho người dân ở vùng dân tộc thiểu số (DTTS), miền
núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, ven biển, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế


3
- xã hội đặc biệt khó khăn và ngư dân [Đ.17] điều đó khẳng định sự quan tâm
thiết thực của Đảng, Nhà nước ta đối với đồng bào DTIN. Một vấn đề đặt ra
là làm thế nào, cần có giải pháp gì để đưa chủ trương, đường lối của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với đồng bào DTIN, trong đó có
đồng bào DTIN huyện Sơn Hòa đi vào thực tiễn, từng bước nâng cao hiểu
biết pháp luật cho nhân dân. Giữa hoạt động GDPL và ý thức tuân thủ, chấp
hành pháp luật, khả năng sử dụng kiến thức pháp luật để bảo vệ quyền con
người, quyền công dân, nâng cao chất lượng cuộc sống của đồng bào DTIN,
tăng cường xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc; góp phần hạn
chế tình trạng vi phạm pháp luật, giảm thiểu về tội phạm trong cộng đồng,
đảm bảo an ninh quốc phòng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội trên địa bàn.
Như vậy hoạt động GDPL cho đồng bào DTIN huyện Sơn Hòa đang là
một yêu cầu khách quan, có tầm quan trọng trong điều kiện góp phần thúc đẩy
sự nghiệp phát triển công nghiệp hóa – hiện đại hóa, xây dựng Nhà nước pháp
quyền XHCN hiện nay của địa phương. Đó cũng là lý do tác giả chọn nghiên
cứu vấn đề: “Giáo dục pháp luật cho đồng bào các dân tộc ít người ở huyện
Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên” làm đề tài luận văn chuyên ngành Luật Hiến pháp,
Luật hành chính.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
GDPL với tư cách là một phạm trù pháp lý là một dạng hoạt động của
Nhà nước trong tổ chức thực hiện pháp luật, biện pháp tăng cường pháp chế,
vấn đề này đã thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều cơ quan và các nhà
khoa học từ trước đến nay, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới đất nước, đổi mới
xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân. Các

GDPL cho đội ngũ cán bộ, công chức hành chính ở Đăk Lăk. Trong một phần
nội dung, tác giả đã chỉ ra những nét đặc trưng của công tác GDPL với sự tác
động, ảnh hưởng của những luật tục, tập quán, lối sống, bản sắc văn hóa của


5
các DTTS; đánh giá thực trạng công tác GDPL thông qua điều tra xã hội học;
từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác này.
- Một số công trình nghiên cứu của các tác giả: "Một số vấn đề về giáo
dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay", của Vụ Phổ biến giáo dục pháp luật,
Bộ Tư pháp, Nxb Thanh niên, 1997; "Tìm kiếm mô hình phổ biến giáo dục
pháp luật có hiệu quả trong một số dân tộc ít người", đề tài khoa học cấp Bộ
của Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý.
- Một số công trình nghiên cứu về đồng bào DTIN nói chung và đồng
bào DTIN ở tỉnh Phú Yên tiêu biểu như:
+ Ngô Đức Thịnh “Luật tục trong đời sống các tộc người Việt Nam”;
Tác giả đã chỉ rõ nguồn gốc, bản chất, các đặc trưng cơ bản và hình thức,
trình độ phát triển của luật tục. Trên cơ sở nghiên cứu luật tục của các DTTS,
tác giả đã đánh giá những tương đồng – khác biệt giữa luật tục với luật pháp
nhà nước, sự kết hợp giữa luật tục và luật pháp và vai trò của luật tục trong
phát triển nông thôn hiện nay.
+ “Lễ nghi cuộc đời của người Chăm” Sử Văn Ngọc, Hội Văn nghệ
dân gian Việt Nam (sưu tầm, biên dịch, giới thiệu) Nxb Văn hóa Dân tộc
2011; Lê Thế Vịnh “Văn hóa người Chăm H’roi tỉnh Phú Yên” Nxb Dân trí
2010.
- Một số bài viết của một số tác giả có liên quan đến nội dung GDPL
cho đồng bào DTIN thời gian gần đây:
+ “Công tác phổ biến giáo dục pháp luật ở vùng đồng bào dân tộc
thiểu số” - TS. Bế Trường Thành, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Dân tộc - Uỷ viên
Hội đồng PBGDPL của Chính phủ đã xác định: Phổ biến GDPL là một bộ

mức, cấp thiết của việc GDPL và coi đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng để


7
góp phần vào việc ổn định tình hình và phát triển kinh tế - xã hội ở một huyện
miền núi như Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu về hoạt động GDPL cho
đồng bào DTIN. Đây là đề tài có đối tượng nghiên cứu tương đối rộng, song
trong khuôn khổ nghiên cứu, luận văn chỉ đề cập về công tác GDPL cho đối
tượng là đồng bào DTIN trên địa bàn Huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên nói
chung và đại diện tiêu biểu là đồng bào DTIN chiếm số đông trong cộng đồng
các DTIN ở huyện Sơn Hòa gồm: đồng bào Chăm Hroi và đồng bào Ê đê.
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn được giới hạn theo không gian, thời
gian và tính chất nghiên cứu. Theo không gian, phạm vi khảo sát thực tiễn vấn
đề nghiên cứu của luận văn chỉ giới hạn ở huyện Sơn Hòa, tập trung khu vực các
xã vùng III và nơi có đông đồng bào DTIN sinh sống. Theo thời gian, khảo sát
hoạt động GDPL cho đồng bào DTIN trong thời gian từ năm 2010 đến nay. Về
tính chất nghiên cứu, luận văn tập trung nghiên cứu sâu về hoạt động GDPL cho
đồng bào DTIN ở huyện Sơn Hòa.
4. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích của luận văn: trên cơ sở nghiên cứu phân tích lý luận, đánh giá
thực tiễn công tác GDPL cho đồng bào DTIN ở huyện Sơn Hòa; luận văn đề
xuất quan điểm, giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả bảo đảm công tác
GDPL cho đồng bào DTIN trên địa bàn huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên hiện nay.
- Nhiệm vụ của luận văn: Để hoàn thành mục đích đặt ra, luận văn thực
hiện các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất: phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý của hoạt động GDPL
nói chung và cho đồng bào DTIN bao gồm: khái niệm, đặc trưng, mục tiêu,
chủ thể, đối tượng, nội dung, phương pháp, hình thức...; những yếu tố tác

trên địa bàn nghiên cứu.


9
- Từ việc tham khảo, nghiên cứu kinh nghiệm về công tác GDPL cho nhân
dân tại một số địa phương, một số vùng ở Việt Nam, luận văn rút ra những bài học
kinh nghiệm có thể vận dụng trên địa bàn huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên.
- Trong khuôn khổ nghiên cứu của luận văn, căn cứ kết quả tìm hiểu,
nắm bắt thông tin và từ các nguồn tài liệu có sẵn; tập trung phân tích, đánh
giá, chỉ ra những kết quả, hạn chế, nguyên nhân trong công tác GDPL cho
đồng bào DTIN ở huyện Sơn Hòa.
- Luận văn đưa ra những đề xuất, kiến nghị và giải pháp toàn diện, đảm
bảo nâng cao chất lượng, hiệu quả trong GDPL cho đồng bào DTIN trên địa
bàn huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên.
Luận văn đề cập, phân tích một trong những vấn đề quan trọng và cấp
thiết những chưa được nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống vấn đề
GDPL cho đồng bào DTIN ở huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên. Kết quả nghiên
cứu của luận văn góp phần làm phong phú thêm lý luận về GDPL cho một đối
tượng, khu vực cụ thể; đồng thời bổ sung thêm những luận cứ khoa học và
thực tiễn cho việc xây dựng, hoàn thiện về lý luận về GDPL cho đồng bào các
DTIN ở tỉnh Phú Yên nói chung và đồng bào DTIN ở huyện Sơn Hòa, tỉnh
Phú Yên nói riêng.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn
được kết cấu thành 3 chương, 10 tiết.
Chương 1: Những vấn đề lý luận về giáo dục pháp luật và giáo dục
pháp luật cho đồng bào dân tộc ít người
Chương 2: Thực trạng giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc ít
người ở huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên
Chương 3: Quan điểm và giải pháp tăng cường giáo dục pháp luật cho



11
công tác thông tin, phổ biến tuyên truyền pháp luật như vậy là có thể làm tốt
công tác GDPL.
- Quan niệm thứ ba: GDPL là lấy "trừng trị" để giáo dục người vi phạm
và răn đe, giáo dục người khác. Thông qua việc xử lý những hành vi vi phạm
pháp luật cũng như áp dụng hình phạt đối với người phạm tội, xử phạt vi
phạm hành chính hay áp dụng các chế độ trách nhiệm dân sự sẽ có tác dụng
GDPL cho mọi người.
- Quan niệm thứ tư cho rằng: công tác GDPL đồng nghĩa với việc dạy
và học pháp luật ở các trường học, còn việc tuyên truyền phổ biến pháp luật ở
ngoài xã hội thì không phải là GDPL.
Các quan niệm trên, mặc dù ở những góc độ khác nhau nhưng đều có
sự nhìn nhận GDPL ở những khía cạnh và mức độ hợp lý nhất định. Song ở
các quan niệm đó đều bộc lộ ít nhiều sự phiến diện; chưa thể hiện được đặc
thù và giá trị vốn có của GDPL. Vì vậy, những quan niệm đó đã hạ thấp vai
trò, vị trí xã hội của GDPL. Mặt khác trong thực tiễn, các quan niệm trên đã
không tạo ra khả năng hoặc thậm chí cản trở việc triển khai hoạt động GDPL
có tổ chức cũng như quy mô việc thực hiện pháp luật; làm cho hiệu lực, hiệu
quả của pháp luật trong thực tế không cao.
Để có quan niệm đúng đắn về GDPL, con đường duy nhất cần tiếp cận
là những thành tựu của khoa học giáo dục học. Giáo dục là một hiện tượng xã
hội và chỉ có trong xã hội loài người thể hiện nền văn minh nhân loại. Giáo
dục luôn luôn là nhu cầu của xã hội, nó có vai trò tác động trở lại xã hội. Vì
thế mà các nhà nước của giai cấp cầm quyền, để bảo vệ quyền lợi của mình
đều thông qua giáo dục. Trong khoa học sư phạm, giáo dục được hiểu theo
hai nghĩa đó là nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
- Theo nghĩa rộng: giáo dục là sự ảnh hưởng, tác động của những điều
kiện khách quan (như chế độ xã hội, trình độ phát triển kinh tế, môi trường


13
- Thứ hai: Từ nghĩa hẹp của khái niệm giáo dục trong khoa học sư phạm
để xây dựng khái niệm GDPL chúng ta nhận thức được mối quan hệ giữa “cái
chung” và “cái riêng”, “cái đặc thù”; trong mối quan hệ với giáo dục nói chung
là “cái chung”, “cái phổ biến”, “cái riêng” vừa phải mang những đặc điểm chung
vừa phải mang tính thể hiện những nét đặc thù. GDPL là “cái riêng” “cái đặc
thù” trong mối quan hệ với giáo dục là “cái chung”, “cái phổ biến”. Tính đặc thù
của GDPL so với các hoạt động giáo dục khác ở một số điểm: về mục đích, nội
dung, về chủ thể, đối tượng, hình thức, phương pháp GDPL.
- Thứ ba: Quan niệm GDPL vận dụng từ nghĩa hẹp của giáo dục có ý
nghĩa quan trọng trong việc phân biệt hai phạm trù: GDPL và ý thức pháp
luật. Hoạt động GDPL là sự tác động của nhân tố chủ quan, mà trước hết là
hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ định về kế hoạch về nội dung,
chương trình, còn sự hình thành ý thức pháp luật là sản phẩm, là kết quả của
các ảnh hưởng của điều kiện khách quan, là sự tác động của nhân tố chủ quan,
nhưng nhân tố chủ quan này lại có vai trò chủ đạo và quyết định đến sự hình
thành ý thức pháp luật.
Tóm lại: Từ phân tích như trên có thể khái quát về GDPL như sau:
Giáo dục pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức, có kế
hoạch, theo nội dung và thông qua những phương pháp, hình thức nhất định
từ phía chủ thể GDPL, tác động đến đối tượng tiếp nhận GDPL nhằm làm
hình thành và phát triển ở họ hệ thống tri thức pháp luật, trình độ hiểu biết về
pháp luật; làm hình thành tình cảm, thói quen và hành vi ứng xử tích cực theo
pháp luật [39, tr.54] và đòi hỏi của nền pháp chế XHCN.
1.1.2. Mục đích của giáo dục pháp luật
Khi tiến hành bất cứ một hoạt động nào đó thì chúng ta phải xác định
mục đích để làm gì? cần đạt được mục đích ấy bằng con đường nào? phải
lựa chọn hình thức và phương pháp nhất định nào? Xác định đúng đắn mục



15
1.1.3. Chủ thể và đối tượng của giáo dục pháp luật
Trong hoạt động GDPL những người (cá nhân, tổ chức) theo chức năng
của mình tham gia vào việc truyền thụ phổ biến pháp luật như giảng dạy, trình
bày, giải thích, pháp luật gọi là chủ thể, những người được truyền thụ học tập,
nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật gọi là (đối tượng).
- Về chủ thể của GDPL:
Trong lý luận về giáo dục học, chủ thể giáo dục là những thầy giáo, cô
giáo và tất cả những người làm công tác giáo dục khác. Theo từ điển Tiếng
Việt: Chủ thể nói chung được hiểu "là đối tượng gây ra hành động mang tính
tác động trong quan hệ đối lập với đối tượng bị chi phối bởi hành động tác
động, gọi là khách thể". Vận dụng vào GDPL, có thể hiểu chủ thể GDPL là
những người hoạt động GDPL. Hay nói khác đi thì chủ thể GDPL được hiểu
là tất cả những người, mà theo chức năng, nhiệm vụ hay trách nhiệm xã hội
đã tham gia góp phần vào việc thực hiện các mục tiêu GDPL. Việc xác định
chủ thể, đối tượng GDPL có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn. Trong mối quan
hệ và sự tác động qua lại giữa chủ thể và đối tượng GDPL trong quá trình
GDPL, chủ thể khi tiến hành mọi hoạt động GDPL thì sự tác động đó có ý
thức, có mục đích, có kế hoạch đến đối tượng giáo dục. Trên cơ sở đó, chủ thể
xác định những nhu cầu, khả năng và điều kiện tiếp nhận tác động GDPL của
đối tượng cũng như các yêu cầu đòi hỏi khách quan đối với các chủ thể GDPL
trong việc xác định nội dung, hình thức, phương pháp phù hợp để tiếp cận
GDPL và tiến hành giáo dục có hiệu quả cao nhất.
- Về đối tượng GDPL:
Vấn đề đối tượng của GDPL có quan hệ chặt chẽ với chủ thể, bởi lẽ
chủ thể khi tiến hành hoạt động GDPL thì phải xác định đối tượng là ai? cơ
quan, tổ chức hay cá nhân, công dân nào? trình độ, tuổi tác?... Trên cơ sở xác
định đúng đắn đối tượng cần GDPL thì chủ thể mới lựa chọn hình thức và



17
phạm thì phương pháp giảng dạy là các con đường, cách thức, biện pháp tác
động để chiếm lĩnh nội dung giảng dạy và đạt được mục đích giảng dạy.
Phương pháp GDPL là cách thức, biện pháp được chủ thể sử dụng để truyền
đạt nội dung pháp luật tác động đến đối tượng nhằm mục đích nâng cao nhận
thức pháp luật, tình cảm và lòng tin cũng như thói quen xử sự theo pháp luật.
1.1.5. Mối quan hệ giữa giáo dục pháp luật với các lĩnh vực giáo dục khác
- GDPL với giáo dục chính trị tư tưởng: Chính trị tư tưởng là một lĩnh
vực thuộc phạm trù ý thức, trong đó lập trường giai cấp, đường lối cách mạng
của Đảng cầm quyền là đường lối chính trị, là bản chất của giai cấp. Pháp luật
là sự cụ thể hóa, thể chế hóa tư tưởng đường lối của Đảng cầm quyền. Vì vậy
khi GDPL cũng hình thành nên ở đối tượng lập trường giai cấp và ý thức
chính trị. Ở nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam “là lực lượng lãnh đạo Nhà
nước và xã hội”. Đường lối chính sách của Đảng là “linh hồn” của pháp luật.
Đường lối nghị quyết của Đảng được thể chế hóa, cụ thể hóa bằng pháp luật.
Đã có thời gian dài trước đây, giáo dục chính trị được coi là nhiệm vụ hàng
đầu, là chủ yếu nên dẫn đến việc xem nhẹ GDPL. Cần phải xác định rằng giáo
dục chính trị tư tưởng khác với GDPL. Song giữa chúng có quan hệ mật thiết
với nhau.
Trong giáo dục chính trị tư tưởng có chứa đựng, đan xen nhất định
trong nội dung của mình những hiện tượng của pháp luật, cũng có những
quan hệ tích cực đối với những đòi hỏi của pháp luật, kích thích lợi ích được
điều chỉnh bằng pháp luật. Mối quan hệ mật thiết qua lại giữa GDPL và giáo
dục chính trị tư tưởng đòi hỏi các chủ thể giáo dục phải biết kết hợp tiến hành
đồng thời GDPL với giáo dục chính trị tư tưởng.
- GDPL và giáo dục đạo đức: Giữa pháp luật và đạo đức có mối quan
hệ chặt chẽ với nhau. Những quy định pháp luật là phù hợp với đạo đức và có
nhiều quy phạm đạo đức được Nhà nước thừa nhận trở thành quy tắc xử sự




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status