BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………
BỘ NỘI VỤ
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
ĐÀO THỊ THƯ
TỔ CHỨC GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUÂN SỰ
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 60 34 04 03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. TRẦN THỊ DIỆU OANH
HÀ NỘI – NĂM 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu nêu trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn
chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Đào Thị Thư
quân sự ............................................................................................................... 31
Chương 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO
SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUÂN SỰ TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI ........................................................................................... 35
2.1. Khái quát chung các trường đại học quân sự trên địa bàn Thành phố Hà Nội và
đặc thù sinh viên các trường Đại học Quân sự .................................................. 35
2.1.1. Khái quát các trường đại học quân sự trên địa bàn Thành phố Hà Nội......... 35
2.1.2. Đặc thù sinh viên các trường đại học quân sự trên địa bàn Thành phố
Hà Nội ..................................................................................................... 37
2.2. Tình hình tổ chức giáo dục pháp luật cho sinh viên các trường đại học
quân sự trên địa bàn Thành phố Hà Nội ............................................................ 39
2.2.1. Về nhận thức của lãnh đạo, chỉ huy các trường ĐHQS đối với tổ chức
giáo dục pháp luật trong các trường đại học quân sự trên địa bàn
Thành phố Hà Nội .................................................................................. 39
2.2.2. Tổ chức ây dựng chương trình, học liệu và nội dung giáo dục pháp luật
trong các trường đại học quân sự trên địa bàn Thành phố Hà Nội ......... 41
2.2.3. Chủ thể tham gia tổ chức giáo dục pháp luật trong các trường đại học
quân sự trên địa bàn Thành phố Hà Nội ................................................. 48
2.2.4. Hình thức, phương pháp tổ chức giáo dục pháp luật cho sinh viên
trong các trường đại học quân sự trên địa bàn Thành phố Hà Nội ......... 54
2.3. Đánh giá chung về tổ chức giáo dục pháp luật cho sinh viên các trường
đại học quân sự trên địa bàn Thành phố Hà Nội ............................................... 58
2.3.1. Kết quả ..................................................................................................... 58
2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân .......................................................................... 60
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM TỔ CHỨC GIÁO DỤC
PHÁP LUẬT CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUÂN SỰ
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI ............................................................. 64
3.1. Quan điểm bảo đảm tổ chức giáo dục pháp luật cho sinh viên các trường
Đại học Lục quân 1
ĐHQS
Đại học quân sự
GDPL
Giáo dục pháp luật
HVKTQS
Học viện Kỹ thuật Quân sự
HVKHQS
Học viện Khoa học Quân sự
QĐND
Quân đội nhân dân
TCGDPL
Tổ chức giáo dục pháp luật
VHPL
Văn hóa pháp luật
những năm 80, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương đưa GDPL vào nhà trường,
được thể chế bằng nhiều văn bản quy phạm pháp luật. Bám sát chủ trương,
định hướng của Đảng, pháp luật của Nhà nước, GDPL chính thức được đưa
vào nhà trường từ năm học 1987 - 1988. Đến nay, công tác này đã đạt được
những kết quả nhất định, trở thành nội dung giáo dục văn hóa không thể thiếu
trong việc đào tạo, giáo dục toàn diện cho học sinh, sinh viên, chiếm một vị trí
đặc biệt quan trọng trong việc bảo đảm thực hiện mục tiêu đổi mới căn bản và
1
toàn diện giáo dục - đào tạo; đóng vai trò then chốt trong giáo dục phẩm chất
đạo đức nhân văn, ý thức thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, tạo lập, nâng cao
trình độ văn hóa pháp luật của thế hệ trẻ - thế hệ tương lai của đất nước.
Thành phố Hà Nội là trung tâm chính trị - kinh tế - văn hóa ã hội của đất
nước. Là lực lượng đáng kể trong dân số thanh niên Thành phố, nhìn chung sinh
viên các trường quân sự trên địa bàn Thành phố Hà Nội có trình độ văn hoá cao,
chấp hành nghiêm nội quy, kỷ luật, năng động, thích ứng nhanh với cơ chế mới,
đặc biệt là việc tiếp thu khoa học, công nghệ mới, có ý chí vươn lên để lập thân
và lập nghiệp, không cam chịu nghèo nàn, lạc hậu. Tuyệt đại đa số sinh viên
trường quân sự tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, con đường đi lên chủ nghĩa
ã hội, ủng hộ và hăng hái tham gia vào công cuộc đổi mới, sự nghiệp đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa Thành phố và đất nước.
Tuy nhiên, trước những biến động phức tạp của tình hình chính trị kinh tế thế giới, sự tác động từ mặt trái của cơ chế thị trường, trước yêu cầu
ngày càng cao của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước sinh viên các trường đại học quân sự (ĐHQS) trên địa bàn Thành phố
vẫn còn một số hạn chế như: một bộ phận sinh viên sống thiếu lý tưởng, thiếu
trách nhiệm, thực dụng, coi nhẹ đạo lý, thuần phong mỹ tục; suy thoái về
phẩm chất, đạo đức, lối sống; ý thức chấp hành pháp luật kém, dễ bị lôi kéo
vào các tệ nạn ã hội ... Quá trình tổ chức giáo dục pháp luật (TCGDPL) cho
ngh a vụ tuân thủ pháp luật, tạp chí Lý luận chính trị, số 10/2006) nghiên cứu
vai trò tác động của giáo dục pháp luật đối với việc hình thành và nâng cao ý
thức pháp luật cho các tầng lớp dân cư đồng thời nêu những đặc điểm cơ bản
- Nguyễn Duy Lãm (2012), Sự c n thiết và quan điểm chỉ đạo xây dựng
Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật, Tạp chí Dân chủ và pháp pháp luật- số
chuyên đề tháng 10 năm 2012, Bộ Tư pháp, Hà Nội.
- Đỗ Văn Dương: “ iáo dục pháp luật cho cán bộ chính quyền cấp xã
ở tỉnh Đắc Lăk hiện nay”, luận văn thạc sĩ Luật học năm 2003.
- PGS. TS. Trần Ngọc Đường và TS. Dương Thanh Mai: "Bàn về giáo
dục pháp luật", N b. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995.
- TS. Nguyễn Đình Đặng Lục: "Giáo dục pháp luật trong nhà trường, giáo
dục pháp luật và quá trình hình thành nhân cách", N b Pháp lý, Hà Nội, 1990.
3
- Hoàng Thế Nhân: "Giáo dục pháp luật cho bộ đội đặc công, thực
trạng và giải pháp", luận văn thạc sĩ Luật học, năm 2003.
- Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp: "Một số vấn đề lý
luận và thực tiễn về giáo dục pháp luật trong công cuộc đổi mới", Hà Nội, 1995.
- Vụ phổ biến giáo dục pháp luật - Bộ Tư pháp “Một số vấn đề giáo
dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay”, N b Thanh niên, Hà Nội, 1997
Thứ hai, những công trình nghiên cứu về giáo dục pháp luật cho những
đối tượng cụ thể như:
- Lê Văn Bền, (1998),
iáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc
Khơme Nam Bộ, Luận văn thạc sĩ Luật học.
- Nguyễn Tiến Hải, (2008), Giáo dục pháp luật đối với cư dân nông
thôn đồng bằng sông Cửu Long, Luận văn Thạc sĩ Hành chính công.
- Đinh Thị Hương, (2008),
iáo dục pháp luật cho phụ nữ nông thôn
trên địa bàn Thành phố Hưng Yên, Luận văn thạc sĩ Luật học.
- Nguyễn Thị Phượng, (2008),
iáo dục pháp luật hôn nhân gia đình
cho nông dân trên địa bàn Thành phố Bến Tre, Luận văn thạc sĩ Luật học.
- Nguyễn Quốc Sửu, (2010), iáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức
hành chính trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ ngh a
Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật.
- Nguyễn Thị Thu Ba (2012), “Nâng cao chất lượng tuyên truyền, giáo
dục pháp luật cho công nhân tại các doanh nghiệp ở Thành phố Đồng Tháp
giai đoạn hiện nay”, Luận văn thạc sĩ Luật học.
- Báo cáo tham luận “Coi trọng giáo dục pháp luật cho thanh, thiếu
niên trong bối cảnh toàn c u hóa” của Thạc sĩ Đỗ Thanh Hương – Trường
Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh tại hội thảo “Thực trạng và giải
pháp ngăn chặn bạo lực học đường” (2015) được tổ chức tại Thành phố Hồ
Chí Minh trong tháng 6/2015.
Khảo cứu các công trình khoa học cho thấy những vấn đề liên quan đến
GDPL đã được rất nhiều tác giả nghiên cứu, tiếp cận và giải quyết dưới những
góc độ khác nhau. Các tác giả đề cập, đi sâu nghiên cứu lý luận GDPL, tìm
hiểu GDPL qua hoạt động cụ thể, GDPL cho những đối tượng cụ thể. Tuy
nhiên, có thể nói rằng, cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu
một cách đầy đủ và có hệ thống về TCGDPL đối với sinh viên trong các
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Phương pháp luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của
chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật,
đường lối đổi mới của Đảng trên lĩnh vực nhà nước và pháp luật, đặc biệt là
các quan điểm đổi mới về giáo dục, TCGDPL, về ây dựng quân đội nhân
dân (QĐND) cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại.
6
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng kết hợp nhiều phương
pháp nghiên cứu để làm sáng tỏ, trong đó tập trung một số phương pháp sau:
Phương pháp khảo cứu tài liệu, phương pháp chuyên gia, phương pháp phỏng
vấn trực tiếp, phương pháp kiểm tra, phương pháp phân tích, tổng hợp…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu luận văn sẽ là những bổ sung cần thiết và quan
trọng vào lý thuyết quản lý công, góp phần làm sáng tỏ những quan điểm của
Đảng và Nhà nước ta về TCGDPL.
Làm rõ tính đặc thù và yêu cầu khách quan của TCGDPL cho đối
tượng sinh viên trong các trường ĐHQS
Những giải pháp được nêu trong luận văn có thể áp dụng phục vụ cho
công tác TCGDPL trong toàn quân, đặc biệt là cho công việc giảng dạy môn
nhà nước và pháp luật ở các trường ĐHQS
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức giáo dục pháp luật cho sinh viên
các trường ĐHQS
Chương 2: Thực trạng tổ chức giáo dục pháp luật cho sinh viên các
trường ĐHQS trên địa bàn Thành phố Hà Nội
trường quân sự về mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch đào tạo” [1, tr.10].
Cục nhà trường - Bộ Tổng tham mưu là cơ quan đầu ngành quản lý về công tác
8
giáo dục trong quân đội, chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng Bộ Quốc phòng,
Tổng Tham mưu trưởng và Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị về công tác quản lý
giáo dục đào tạo ở các nhà trường trong QĐND Việt Nam.
Trong hệ thống trường quân đội thì các trường đại học là nơi trực tiếp
đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, sĩ quan cấp phân đội cho toàn quân. Để
đáp ứng yêu cầu của hoạt động quân sự khẩn trương, chính ác nên ngay từ
đầu khi thành lập các nhà trường quân đội đã đề cao việc giáo dục, ây dựng
cho học viên nền nếp chính quy, tác phong quân sự và sự chấp hành kỷ luật
nghiêm minh trong quá trình học tập, rèn luyện tại trường để khi học viên ra
trường: “Có phẩm chất chính trị vững vàng và đạo đức cách mạng trong sáng;
có mặt bằng kiến thức trình độ đại học theo các nhóm nghành tương ứng của
Nhà nước; có kiến thức quân sự chuyên ngành, ngoại ngữ, tin học, năng lực tư
duy và thực hành nhiệm vụ theo chức trách ban đầu” [10, tr.14].
Trường quân đội có đặc thù là vừa mang tính chất của một cơ sở đào tạo
và nghiên cứu khoa học, vừa mang tính chất một tổ chức hành chính quân sự. Về
tổ chức điểm khác biệt giữa trường quân đội đối với trường ngoài quân đội là
sinh viên ngay từ khi vào trường và cả trong thời gian học tập, rèn luyện, được
sắp ếp, biên chế theo tổ chức đơn vị quân đội, gồm có tiểu đội, trung đội, đại
đội và tiểu đoàn (hệ). Từ cấp đại đội trở lên có cán bộ quản lý chuyên trách việc
tổ chức học tập và rèn luyện của sinh viên. Sinh viên trong quá trình học tập, rèn
luyện luôn có sự quản lý chặt chẽ của đội ngũ cán bộ các cấp để bảo đảm mọi
hoạt động của sinh viên tuân theo quy định của điều lệnh, điều lệ quân đội, pháp
luật Nhà nước. Sinh viên trong quá trình học tập, rèn luyện ở nhà trường được
quân đội bảo đảm nơi ăn, ở, mặc và các phương tiện sinh hoạt.
là lực lượng sĩ quan tương lai hùng hậu của quân đội trong sự nghiệp ây
dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN. Sau khi ra trường họ sẽ trở thành các sĩ quan
chỉ huy có nhiệm vụ quản lý, tổ chức mọi hoạt động của cơ quan đơn vị theo
đúng đường lối quan điểm của Đàng, pháp luật của Nhà nước, điều lệnh Quân
đội, vì vậy khi còn ngồi trên ghế giảng đường đòi hỏi quân nhân phải phục
10
tùng nghiêm túc pháp luật Nhà nước, điều lệnh, điều lệ quân đội, chế độ, nền
nếp, trật tự đã quy định trong tập thể, họ cần được giáo dục hình thành ý thức
pháp luật, thái độ tích cực và chủ động trong thực hiện, chấp hành các quy
định của pháp luật của Nhà nước, các quy tắc về công tác quản lý bộ đội cũng
như chỉ thị của người chỉ huy.
1.1.2. Đặc điểm sinh viên các trường đại học quân sự
Từ khái niệm sinh viên các trường ĐHQS như trên, ét dưới góc độ đối
tượng để GDPL thì sinh viên các trường ĐHQS là một bộ phận của sinh viên
nói chung và có các đặc điểm cơ bản sau:
Một là, sinh viên hầu hết có động cơ học tập, rèn luyện đúng đắn và u
hướng nghề nghiệp rõ ràng, có khả năng nhận thức nhanh
Để được học tập, rèn luyện tại các trường ĐHQS, mọi sinh viên hệ
quân sự phải trải qua quá trình nỗ lực phấn đấu, được lựa chọn và trải qua sơ
tuyển, thi tuyển nghiêm túc, chặt chẽ. Những thí sinh có đủ điểm trúng tuyển,
được gọi nhập học và được công nhận là sinh viên đào tạo sĩ quan theo mô
hình, mục tiêu đào tạo của từng trường đều nhận thức đầy đủ giá trị của sự
phấn đấu của bản thân, từ đó ây dựng động cơ, thái độ trách nhiệm học tập,
rèn luyện đúng đắn, ác định u hướng nghề nghiệp rõ ràng, mong muốn
được phục vụ lâu dài trong Quân đội.
Hơn nữa, kết quả, chất lượng học tập, rèn luyện của sinh viên đào tạo sĩ
quan ở các trường ĐHQS sẽ liên quan trực tiếp đến việc sắp ếp, bố trí sử
quan trọng. Xét từ góc độ tâm - sinh lý thì đây là giai đoạn con người chuyển
biến từ một đứa trẻ thành một người trưởng thành với sự hoàn thiện cơ thể về
mặt sinh học và những chuyển biến về tâm - sinh lý, tình cảm rất điển hình của
“tuổi dậy thì”. Xét từ góc độ “con người - ã hội” thì tuổi thanh niên chính là
giai đọan mỗi con người chuẩn bị hành trang cho toàn bộ cuộc đời mình: học
vấn, nghề nghiệp, thử nghiệm và lựa chọn văn hóa, kinh nghiệm, lối sống trên
12
cở sở định hình dần hệ giá trị của riêng mình, trở thành công dân thực thụ với
đầy đủ những quyền lợi và nghĩa vụ do luật định. Tuy nhiên, vì họ là thế hệ của
những người trẻ tuổi, là sản phẩm đích thực của thời đại mà họ đang sống chứ
không phải thuần túy chỉ là sản phẩm đào tạo, bồi dưỡng của thế hệ đi trước. Vì
vậy họ là lớp người vô cùng năng động, luôn luôn chủ động, tích cực trong việc
chuẩn bị hành trang cho tương lai của bản thân mình và của quốc gia - dân tộc.
Bên cạnh những gì họ bị ảnh hưởng do tiếp nhận những sự trao truyền, giáo
dục của thế hệ đi trước thì họ luôn luôn có lựa chọn của riêng mình và thế hệ
mình. Ngoài ảnh hưởng của thế hệ “cha chú” trong cộng đồng gia đình hay
quốc gia - dân tộc, trong thời đại toàn cầu hóa, họ còn chịu ảnh hưởng bởi
nhiều yếu tố văn hóa, tri thức, kinh nghiệm, giá trị và lựa chọn của các cộng
đồng và cá nhân khác trên thế giới.
Xuất phát từ lý do này, sinh viên nói chung và sinh viên quân sự
thường có u hướng thử nghiệm nhiều khả năng, nhiều lựa chọn, ngay cả khi
họ còn chưa được chuẩn bị đủ tốt cho những thử nghiệm đó, vì đối với họ, dù
có phạm sai lầm vẫn có thời cơ làm lại, thử nghiệm lại. Hơn nữa, phần đông
sinh viên thường có u hướng kiểm chứng lại những lựa chọn, chế định và
quan niệm của thế hệ đi trước, thậm chí cố tình phủ nhận, làm khác, coi đó
như một phương thức để khẳng định tư cách “người lớn” của mình. Đó là
nguyên nhân thường dẫn đến những “lệch chuẩn” trong suy nghĩ, nhận thức
Theo Từ điển Từ và ngữ Hán - Việt "Giáo dục là quá trình hoạt động có
ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức nhằm bồi dưỡng cho con người
những phẩm chất đạo đức và những tri thức cần thiết để người ta có khả năng
tham gia mọi mặt của đời sống ã hội" [24, tr3].
Theo Từ điển tiếng Việt thì "giáo dục là hoạt động nhằm tác động một
cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào
đó làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất năng lực như yêu
cầu đặt ra" [23, tr.394].
14
So với phổ biến thì giáo dục cũng nhằm nâng cao nhận thức, tình cảm
song nội dung rộng hơn, phương thức tiến hành chặt chẽ hơn, đối tượng ác
định hơn, mục đích lớn hơn. Xét dưới góc độ nhất định thì phổ biến chính là
các phương thức giáo dục cụ thể.
Theo cách hiểu chung nhất về GDPL có hai nghĩa:
- Theo nghĩa hẹp: GDPL là việc truyền bá pháp luật cho đối tượng nhằm
nâng cao tri thức, tình cảm, niềm tin pháp luật cho đối tượng từ đó nâng cao ý
thức tôn trọng pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của đối tượng.
- Theo nghĩa rộng: GDPL là một khâu của hoạt động tổ chức thực hiện
pháp luật, là hoạt động định hướng có tổ chức, có chủ định thông qua các hình
thức giáo dục, thuyết phục, nêu gương... nhằm mục đích hình thành ở đối tượng
tri thức pháp lý, tình cảm và hành vi ử sự phù hợp với các đòi hỏi của hệ thống
pháp luật hiện hành với các hình thức, phương tiện, phương pháp đặc thù.
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả đồng ý với khái niệm
chung nhất: “GDPL là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có dự định của chủ
thể
PL tác động lên đối tượng
đại học quân sự
Tổ chức được hiểu theo hai nghĩa khác nhau
- Tổ chức là một hệ thống : “Tổ chức là một cơ cấu liên kết những cá
nhân trong một hệ thống nhằm thực hiện những mục tiêu của hệ thống dựa
trên những nguyên tắc và quy tắc nhất định” [17, tr. 178].
- Tổ chức là một hoạt động quản lý: Trong 4 chức năng quản lý, tổ
chức là chức năng quan trọng nhất.
Tổ chức là một quá trình sắp ếp, tác động và điều khiển các nhiệm vụ
và nguồn lực để đạt được mục tiêu đã vạch ra [15, tr. 187].
Trong luận văn này tổ chức được dùng với tư cách là một hoạt động
quản lý.
QĐND Việt Nam là lực lượng vũ trang luôn trung thành với Đảng, Nhà
nước có chức năng bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ nhân dân, bảo vệ chế độ
ã hội chủ nghĩa, bảo vệ chủ quyền và thống nhất toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc
Việt Nam XHCN. Để thực hiện tốt các chức năng đó thì không chỉ bằng sức
16
mạnh quân sự, chính trị mà còn phải cần có cả năng lực về pháp luật. Vì vậy,
các cán bộ, chiến sĩ trong quân đội cần phải được GDPL một cách thường
uyên, liên tục, vững chắc tạo điều kiện cho họ nắm vững và tự giác chấp
hành pháp luật trong quá trình học tập, quản lý bộ đội, trong đời sống hàng
ngày và khi tham gia các hoạt động ã hội.
Đối với QĐND Việt Nam, công tác TCGDPL được coi là một bộ phận
của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nhằm ây dựng thái độ, động cơ, bản
lĩnh chính trị, ý thức pháp luật cho mỗi quân nhân. Thông qua hoạt động
TCGDPL để mọi quân nhân nắm được các quy định của pháp luật, từ đó điều
chỉnh hành vi ử sự của mình phù hợp với các yêu cầu của pháp luật.
Từ những đặc điểm và thực tiễn hoạt động TCGDPL trong QĐND Việt
luật của cán bộ, nhân dân (Chỉ thị số 32-CT/TW) đã khẳng định: “Phổ biến,
GDPL là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, là nhiệm vụ
của toàn bộ hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng”.
Thứ hai, TCGDPL đối với sinh viên các trường quân sự có mối liên hệ
chặt chẽ với công tác ây dựng, thực hiện pháp luật.
Nếu không nhận thức đầy đủ vị trí quan trọng và không thực hiện tốt
công tác GDPL thì dù công tác ây dựng pháp luật có làm tốt đến mấy cũng
không đạt được hiệu quả thực thi pháp luật. GDPL là cầu nối để chuyển tải
pháp luật vào cuộc sống. Nói cách khác, quá trình đưa pháp luật vào cuộc
sống được bắt đầu bằng hoạt động phổ biến, GDPL. Thực hiện pháp luật dù
bằng hình thức nào - tuân thủ, thi hành (chấp hành) pháp luật, sử dụng (vận
dụng) pháp luật hay áp dụng pháp luật.
Pháp luật của Nhà nước không phải khi nào cũng được mọi người trong
ã hội biết đến, tìm hiểu, đồng tình ủng hộ và thực hiện nghiêm chỉnh. Tuy
rằng bản chất pháp luật của Nhà nước ta là tốt đẹp, nó phản ánh ý chí, nguyện
vọng, mong muốn của đông đảo quần chúng nhân dân trong ã hội. Tuy nhiên,
18