Biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên âm nhạc Trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2011 2015 - Pdf 24

LỜI CẢM ƠN
Người viết đề tài xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Học viện Quản lý giáo
dục, lãnh đạo các phòng, ban của Học viện đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi
trong quá trình học tập, nghiên cứu khoa học giáo dục, công tác quản lí giáo
dục và quá trình viết luận văn.
Xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo đã tận tình chỉ bảo trong quá
trình học tập và nghiên cứu viết luận văn Thạc sĩ khoa học giáo dục, chuyên
ngành Quản lí giáo dục. Đó là thời gian vô cùng quý báu, bổ ích về chuyên
môn, nghiệp vụ, về phương pháp nghiên cứu khoa học và cũng là quá trình
rèn luyện phẩm chất nhà giáo, phẩm chất người làm công tác nghiên cứu khoa
học.
Xin bày tỏ lòng biết ơn đến PGS.TS Phan Thị Hồng Vinh đã trực tiếp
hướng dẫn tận tình, chỉ bảo để luận văn được hoàn thành đúng thời hạn và đạt
được các yêu cầu của một công trình nghiên cứu khoa học giáo dục ở trình độ
Thạc sĩ.
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Cao đẳng Văn hóa, Thể
thao và Du lịch Nguyễn Du, Phòng GD-ĐT TP Hà Tĩnh. Các đồng chí, đồng
nghiệp đã quan tâm, giúp đỡ toàn diện trong quá trình nghiên cứu và hoàn
thiện luận văn.
Người viết đề tài sẽ tiếp tục phấn đấu để đáp lại sự quan tâm, giúp đỡ
của các cấp lãnh đạo, các thầy cô giáo, các đồng chí, các bạn đồng nghiệp để
góp phần thiết thực vào sự nghiệp giáo dục.
Một lần nữa xin chân thành cảm ơn!
Tác giả: Dương Kim Thạch
1
MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
BẢNG KÍ HIỆU VIẾT TẮT 6
DANH MỤC BẢNG BIỂU 7
MỞ ĐẦU 8
1. Lí do chọn đề tài 8

nhạc THCS 32
1.4. Yêu cầu phát triển đội ngũ giáo viên âm nhạc THCS 34
1.4.1. Đáp ứng yêu cầu về số lượng 34
1.4.2. Đồng bộ về cơ cấu 36
1.4.3. Nâng cao về chất lượng 37
1.5. Nội dung phát triển đội ngũ giáo viên âm nhạc THCS 39
2
1.5.1. Quy hoạch, lập kế hoạch phát triển đội ngũ giáo viên âm nhạc
THCS 39
1.5.2. Tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên âm nhạc THCS
40
1.5.3. Sử dụng có hiệu quả đội ngũ giáo viên âm nhạc THCS 44
1.5.4. Tạo môi trường, động lực làm việc và khuyến khích sự phát triển
đội ngũ giáo viên âm nhạc THCS 45
1.5.5. Xây dựng cơ chế, chính sách đãi ngộ giáo viên âm nhạc THCS. .46
1.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển đội ngũ giáo viên âm nhạc THCS
46
1.6.1. Công tác đào tạo giáo viên âm nhạc THCS 46
1.6.2. Công tác tuyển dụng và sử dụng giáo viên âm nhạc THCS 47
1.6.3. Cơ chế chính sách đối với giáo viên âm nhạc THCS 47
Tiểu kết chương 1 47
Chương 2: THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN VÀ CÔNG TÁC PHÁT
TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN ÂM NHẠC THCS Ở THÀNH PHỐ HÀ
TĨNH, TỈNH HÀ TĨNH HIỆN NAY 49
2.1. Tổng quan về sự phát triển kinh tế - xã hội - giáo dục của thành phố Hà
Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh 49
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội 49
2.1.1.1. Vị trí địa lí 49
2.1.1.2: Điều kiện kinh tế xã hội 50
2.1.2. Giáo dục và đào tạo trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh 50

64
2.5.3. Thực trạng về công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên âm nhạc
THCS 65
2.5.4. Thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá, phát triển đội ngũ giáo
viên âm nhạc 67
2.5.5. Đánh giá tổng hợp thực trạng các biện pháp phát triển đội ngũ giáo
viên âm nhạc THCS 69
2.6. Nguyên nhân của thực trạng 70
2.6.1. Nguyên nhân của những mặt mạnh 70
2.6.2. Nguyên nhân của những hạn chế 71
Tiểu kết chương 2 72
Chương 3:
BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN ÂM NHẠC THCS
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ TĨNH GIAI ĐOẠN 2011 - 2015 73
3.1. Những nguyên tắc đề xuất các biện pháp 73
3.1.1. Nguyên tắc mục tiêu 73
3.1.2. Nguyên tắc toàn diện 73
3.1.3. Nguyên tắc hiệu quả 73
3.2. Các biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên âm nhạc THCS ở địa bàn
thành phố Hà Tĩnh giai đoạn 2011 - 2015 74
3.2.1. Phòng GD & ĐT lập quy hoạch, phát triển đội ngũ giáo viên âm
nhạc THCS trên địa bàn TP Hà Tĩnh 74
3.2.1.1. Ý nghĩa 74
3.2.1.2. Nội dung 74
3.2.1.3. Cách tiến hành 75
3.2.1.4. Điều kiện thực hiện 75
3.2.2. Đổi mới phương thức tuyển dụng giáo viên âm nhạc THCS trên
địa bàn TP Hà Tĩnh 77
3.2.2.1. Ý nghĩa 77
3.2.2.2. Nội dung 77

Chữ viết tắt Xin đọc là
BDTX Bồi dưỡng thường xuyên
BCHTW Ban chấp hành Trung ương
BGH Ban giám hiệu
BTV Ban thường vụ
CNTT Công nghệ thông tin
CNH, HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
ĐT Đào tạo
GD- ĐT (GD&ĐT) Giáo dục và Đào tạo
GD Giáo dục
GDTX Giáo dục thường xuyên
GV Giáo viên
KT- XH Kinh tế - xã hội
NQ Nghị quyết
NXB Nhà xuất bản
PPDH Phương pháp dạy học
QLGD Quản lí giáo dục
SGK Sách giáo khoa
SKKN Sáng kiến kinh nghiệm
TB Trung bình
TBDH Thiết bị dạy học
THCS Trung học cơ sở
UBND Uỷ ban nhân dân
6
DANH MỤC BẢNG BIỂU
TT
Số
bảng
Tên bảng biểu
1 2.1 Số liệu giáo dục của Hà Tĩnh năm học 2011-2012

Ý kiến đánh giá tổng hợp các vấn đề về thực trạng phát triển đội
ngũ GV âm nhạc THCS trên địa bàn TP Hà Tĩnh
16 3.1
Kết quả khảo sát tính cần thiết và khả thi của các biện pháp
phát triển đội ngũ giáo viên âm nhạc THCS Trên địa bàn TP Hà
Tĩnh.
7
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Ngay từ thời cổ đại, vai trò của giáo dục và đào tạo đối với sự phát triển
toàn diện con người cũng như sự tồn tại, phát triển của mỗi quốc gia và toàn
thể nhân loại đã được khẳng định; trong xã hội hiện đại, hơn bao giờ hết, vai
trò đó càng được thể hiện rõ nét. Bản chất con người không bẩm sinh mà là
kết quả tương tác của nhiều yếu tố, trong đó vai trò của giáo dục đóng vai trò
đặc biệt quan trọng. Con người xã hội là sản phẩm của nền giáo dục xã hội.
Trình độ giáo dục của mỗi nước là biểu hiện trình độ phát triển của đất nước
đó.
Nhận thức một cách sâu sắc vai trò của giáo dục đối với sự tồn vong của
đất nước, ngay từ khi mới giành được chính quyền, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ
“một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Vì thế, xuyên suốt tư tưởng đó của Hồ
Chủ tịch, trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng, Đảng và Nhà nước ta
đã luôn quan tâm đến sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Nghị quyết của Đại hội
lần thứ IV của Đảng (1979) đã ra quyết định số 14-NQTƯ về cải cách giáo
dục với tư tưởng: Xem giáo dục là bộ phận quan trong của cuộc cách mạng tư
tưởng; thực thi nhiệm vụ chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ từ nhỏ đến lúc
trưởng thành; thực hiện tốt nguyên lí giáo dục học đi đôi với hành, giáo dục
kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội. Tư tưởng chỉ
đạo trên được phát triển bổ sung, hoàn thiện cho phù hợp với yêu cầu thực tế
qua các kỳ Đại hội VI, VII, VIII, IX, X của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đặc
biệt, sự nghiệp Giáo dục và Giáo dục lí luận chính trị được Đại hội toàn quốc

của Đảng được thể hiện trong Luật giáo dục hiện hành.
Luật Giáo dục được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam khóa XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005, điều 2 Mục
tiêu giáo dục: đã xác định: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam
phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp,
trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và
9
bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu
của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Con người Việt Nam mới chính
là con người phát triển toàn diện các phẩm chất tâm lực, trí lực, thể lực; đức -
trí - thể - mĩ.
Để đào tạo được những con người phát triển toàn diện, con người mới xã
hội chủ nghĩa đáp ứng được yêu cầu cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước đòi hỏi ngành giáo dục phải thực hiện đồng bộ nhiều biện
pháp. Một trong những biện pháp hàng đầu đó chính là hoàn thiện chương
trình đào tạo, sao cho chương trình đó phải đảm bảo tính kế thừa, tính phù
hợp, tính hiện đại, khả thi và tính toàn diện. Chương trình giáo dục toàn diện
thể hiện trước hết ở nội dung giáo dục, các môn học được giảng dạy trong
trường học. Chương trình đó không chỉ quan tâm giảng dạy các bộ môn khoa
học tự nhiên, kỹ thuật; giáo dục chính trị tư tưởng; khoa học xã hội nhân văn
mà còn phải chú trọng đến giáo dục thẩm mĩ cho người học.
Nền giáo dục cách mạng của chúng ta được hình thành ngay từ sau Cách
mạng tháng Tám năm 1945, tuy nhiên do điều kiện, hoàn cảnh cụ thể lúc đó,
mục đích giáo dục trước mắt chính là “diệt giặc dốt”, chính là “xóa mù chữ”,
nâng cao nhận thức của nhân dân. Sau ngày hòa bình lập lại, thống nhất đất
nước, chúng ta đã hướng đến nền giáo dục toàn diện, tuy nhiên, do những khó
khăn nhiều mặt của thời hậu chiến, thời bao cấp nên chương trình giáo dục
phổ thông của chúng ta chưa thật sự toàn diện. Vấn đề giáo dục thẩm mĩ như
âm nhạc, mĩ thuật cho HSPT nói chung hoàn toàn chưa được quan tâm, nhất
là giáo dục phổ thông. Vì thế có thể nói nhiều thế hệ học sinh Việt Nam

này đã được ngành Giáo dục quan tâm ngày từ cấp học tiểu học, trung học cơ
sở.
Trong những năm gần đây, giáo dục nghệ thuật trong nhà trường phổ
thông đã trở thành một môn học không thể thiếu trong sự nghiệp giáo dục con
người mới Việt Nam phát triển toàn diện. Cùng với các môn học khác, môn
học âm nhạc, mĩ thuật trong chương trình Trung học cơ sở (THCS) nhằm mục
11
đích giáo dục thẩm mĩ, nâng cao đời sống tinh thần cho lớp trẻ nên đã thu hút
được sự chú ý của nhà trường, của học sinh. Sau một thời gian sách giáo
khoa, chương trình âm nhạc, mĩ thuật ở THCS được triển khai đồng bộ từ lớp
6 đến hết học kỳ I lớp 9 đã phần nào đáp ứng được nhu cầu của nhà trường
phổ thông và của xã hội. Mặc dù cũng còn có một vài ý kiến trái ngược nhau,
nhưng nhìn chung, nội dung của chương trình SGK âm nhạc, mĩ thuật THCS
đã thể hiện được những tiêu chí giáo dục thẩm mĩ hết sức cụ thể, có tính khoa
học và liên ngành cao. Có lẽ, chưa có thời điểm nào mà các trường phổ thông
lại hăng hái đăng ký tham gia giờ dạy tốt, giáo viên dạy giỏi môn âm nhạc, mĩ
thuật như giai đoạn hiện nay. Điều đó chứng tỏ sự định hướng đúng đắn của
Đảng và Nhà nước, sự quan tâm của Bộ giáo dục và Đào tạo cũng như các sở,
ngành địa phương đối với môn học này. Do vậy đã khơi dậy được niềm tự tin,
lòng yêu nghề, sự nhiệt tình phấn đấu của những giáo viên giảng dạy âm
nhạc, mĩ thuật.
Rõ ràng, việc đưa âm nhạc vào giảng dạy trong chương trình THCS đã
bước đầu nâng cao nhận thức thẩm mĩ cho đối tượng học sinh, đã thu được
những kết quả bước đầu. Học sinh rất hứng thú đối với môn học âm nhạc.
Tuy nhiên, chất lượng giảng dạy ở các địa phương không đều; nhất là còn
nhiều bất cập trong đội ngũ giáo viên.
Thực tế cho thấy, trong một khoảng thời gian dài môn học âm nhạc
không giảng dạy ở THCS, nên khi trở thành bắt buộc trong chương trình,
nhiều địa phương chưa chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cần thiết, nhất là về đội
ngũ giáo viên. Vì thế, trên thực tế, đặc biệt ở những địa phương điều kiện

giáo viên chưa đạt chuẩn, số lượng chưa đảm bảo và chất lượng giảng dạy
chưa cao, chưa đáp ứng tốt yêu cầu mục tiêu đào tạo.
Nếu xây dựng được một hệ thống các biện pháp khả thi, phù hợp với
điều kiện của địa phương thì sẽ xây dựng, phát triển được đội ngũ giáo viên
âm nhạc THCS trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh đủ về số lượng, đảm bảo về
chất lượng góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy môn âm nhạc trên địa bàn
13
thành phố.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
Sưu tầm, phân tích, tổng hợp các tài liệu, sách báo liên quan đến đề tài
nghiên cứu để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài.
6.2. Nhóm các phương pháp thực tiễn
6.2.1. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Tiến hành nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm của cán bộ quản lí như Ban
Giám hiệu, các bộ phận chức năng của các trường THCS trên địa bàn thành
phố Hà Tĩnh. Chú trọng cả kinh nghiệm thành công và những hạn chế, tìm
hiểu nguyên nhân tồn tại và ưu thế trong việc phát triển đội ngũ giáo viên âm
nhạc.
6.2.2. Phương pháp điều tra
i) Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Mục đích: Thu thập thông tin về thực trạng đội ngũ giáo viên THCS và
công tác quản lí đội ngũ này trên địa bàn TP Hà Tĩnh.
- Đối tượng hỏi: Cán bộ quản lí giáo dục, giáo viên THCS.
ii) Phương pháp điều tra
-Tiến hành phỏng vấn cán bộ quản lý, giáo viên để tìm hiểu thực trạng
những thuận lợi, khó khăn, biện pháp thực hiện, kinh nghiệm quản lý của cán
bộ quản lý và giáo viên về phát triển đội ngũ giáo viên âm nhạc THCS.
- Kĩ thuật: Phỏng vấn trực tiếp theo các nội dung hỏi chuẩn bị trước.
- Cách xử lí: Tập hợp ý kiến, đánh giá, khái quát chung.

chương.
15
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ
GIÁO VIÊN ÂM NHẠC TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Trên thế giới
Ngay từ xa xưa nhân loại đã nhận thức được vai trò to lớn của giáo dục
đối với sự phát triển của mình. Các nhà tư tưởng lớn của thế giới thời cổ đại
kể cả phương Đông và phương Tây đã bàn nhiều về vai trò giáo dục và đào
tạo, đồng thời, bản thân họ là những nhà giáo đầu tiên của nhân loại. Tiêu
biểu như Khổng Tử, Hêđôrôt Ngày nay, nhân loại đã thấy rõ rằng các quốc
gia biết quan tâm và đầu tư xứng đáng cho giáo dục và đào tạo, nghiên cứu
khoa học, đó chính là các quốc gia phát triển. Nhất là các nguồn lực khác cho
phát triển như tài nguyên thiên nhiên, tài chính, điều kiện thuận lợi khác về vị
trí địa lí chứng tỏ rằng không phải là nguồn lực đảm bảo cho sự phát triển
bền vững của quốc gia. Trong lúc đó, các quốc gia tuy không có các điều kiện
thuận lợi về tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lí , nhưng biết phát huy nhân tố
con người, coi trọng giáo dục đào tạo đã phát triển mạnh mẽ. Điều đáng nói là
nguồn lực con người nếu có chiến lược phát triển sẽ không bị cạn kiệt như
nguồn lực tài nguyên thiên nhiên.
Không có một quốc gia phát triển nào lại có nền giáo dục lạc hậu. Bởi lẽ
một nền giáo dục tốt, hiện đại sẽ tạo ra một nguồn nhân lực tốt, nâng cao vị
thế quốc gia, nâng cao khả năng cạnh tranh của quốc gia đó trên thị trường
quốc tế, nhất là trong bối cảnh nền kinh tế tri thức. Báo cáo phát triển con
người của UNDP hàng năm những năm gần đây đều cho thấy phần lớn các
nước có chỉ số phát triển con người - HDI cao là các nước có hệ thống giáo
dục vào loại tốt nhất của thế giới như Nauy, Thụy Điển, Canada, Hà Lan ;
hoặc các nước có trình độ phát triển nhanh ở châu Á như Hàn Quốc, Singapo,
Malayxia
Để có một nền giáo dục tốt, dĩ nhiên các nước đó đã có đầu tư thỏa đáng,

17
1.1.2. Ở Việt Nam
Ngay từ xa xưa ông cha ta đã nhận thức sâu sắc vai trò của giáo dục, vai
trò của người nhà giáo trong xã hội. Điều đó được phản ánh khá rõ nét trong
ca dao, tục ngữ. Trong xã hội truyền thống, tôn sư trọng đạo, hiếu học là
những truyền thống tốt đẹp của người Việt. Nhà giáo chiếm vị trí cao trong
thang bậc giá trị của xã hội. Ngày nay, kế thừa truyền thống, chúng ta vẫn
phần nào kế thừa được tư tưởng coi trọng giáo dục, coi trọng nhà giáo. Đảng
và nhà nước ta đã xác định, cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào
tạo là quốc sách hàng đầu. Tuy nhiên, việc xây dựng một nền giáo dục hiện
đại có chất lượng cao đòi hỏi rất nhiều yếu tố, trong đó đầu tư cơ sở vật chất,
nhất là đầu tư cho giáo viên - nguồn nhân lực cho ngành giáo dục đóng vai trò
quyết định. Nhưng cùng với những khó khăn trong nền kinh tế, việc chậm đổi
mới của ngành giáo dục và nhất là chưa đầu tư thỏa đáng cho đội ngũ nhà
giáo đã triệt tiêu các động lực phát triển của giáo dục. Giáo viên không sống
được bằng nghề đã không động viên họ nhiệt tình hăng say trong giảng dạy,
trong tự học tự nhiên cứu; không thu hút được người giỏi vào công tác trong
ngành giáo dục. Trong các bậc thang giá trị hiện nay, nhà giáo không còn
chiếm vị trí được trân trọng đánh giá cao, thay vào đó là các ngành nghề có
thể kiếm được thu nhập cao. Đó là một hiện tượng đáng lo ngại, góp phần
quyết định chất lượng giáo dục còn thấp và chưa toàn diện của nước ta hiện
nay. Điều đó cũng có nghĩa là nền kinh tế quốc dân, xã hội không được ngành
giáo dục cung ứng đầy đủ nguồn nhân lực chất lượng cao. Đến lượt những
người lao động này lại không thể đưa nền kinh tế phát triển. Cái vòng luẩn
quẩn: nghèo không có đầu tư thỏa đáng cho giáo dục dẫn tới chất lượng
nguồn nhân lực thấp, nguồn nhân lực chất lượng thấp sẽ không thể đáp ứng
được yêu cầu của nền sản xuất tiên tiến, không thể cạnh tranh trên thị trường
lao động quốc tế, dẫn tới nền kinh tế không phát triển được; nền kinh tế
không phát triển sẽ không có tiềm lực tài chính để đầu tư trở lại cho giáo
dục sẽ không có hồi kết nếu không có tư duy đột phá, biện pháp mạnh mẽ,

19
giáo dục quốc dân có vai trò rất quan trọng cho sự thành bại của sự nghiệp
giáo dục Sứ mệnh của đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lí giáo dục có ý
nghĩa cao cả đặc biệt. Họ là bộ phận lao động tinh hoa của đất nước. Lao
động của họ trực tiếp và gián tiếp thúc đẩy sự phát triển của đất nước, cộng
đồng đi vào trạng thái phát triển bền vững.
Các công trình khoa học trên với tầm vóc quy mô về giá trị lí luận và
thực tiễn đã được áp dụng rộng rãi và mang lại những hiệu quả nhất định
trong quản lí giáo dục, quản lí nhà trường. Phần lớn các công trình đó chủ yếu
đi sâu nghiên cứu lí luận có tính chất tổng quan về quản lí giáo dục, quản lí
nhà trường, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên. Tuy nhiên
theo chúng tôi, ít có công trình nghiên cứu đi sâu vào các biện pháp quản lí
nhằm nâng cao chất lượng công tác bồi dưỡng giáo viên THCS nói chung,
giáo viên âm nhạc nói riêng. Điều đó là vì một phần các cấp quản lí giáo dục,
các nhà nghiên cứu chưa thật sự quan tâm đến công tác giáo dục nghệ thuật,
âm nhạc cho học sinh phổ thông.
Tóm lại, vấn đề phát triển giáo dục toàn diện tuy đã được quan tâm
nghiên cứu nhưng mới ở giai đoạn bước đầu. Các quan điểm nền tảng về giáo
dục toàn diện đã được đưa ra nhưng trên thực tế, do nhiều nguyên nhân, điều
kiện khác nhau, trong đó có nguyên nhân từ nhận thức của công tác quản lí,
giáo dục toàn diện chưa được quan tâm trên thực tế. Học sinh chỉ mới được
học các môn khoa học cơ bản, các môn lí luận chính trị, các môn giáo dục đạo
đức còn thực tế chưa được làm quen với các môn âm nhạc, thẩm mĩ nói
chung.
Có thể nói, trong suốt mấy mươi năm phát triển của nền giáo dục cách
mạng, vấn đề đưa âm nhạc vào giảng dạy trong nhà trường phổ thống chưa hề
được quan tâm. Vì thế, học sinh chúng ta không có kiến thức tối thiểu về âm
nhạc nói riêng, về nghệ thuật nói chung; cũng có nghĩa là kiến thức, sự hiểu
biết, năng lực nhận thức thẩm mĩ, trình độ cảm thụ thẩm mĩ là rất thấp.
Trong điều kiện chiến tranh hay thời hậu chiến, chúng ta buộc phải chấp

* Giáo viên trung học cơ sở
1
21
Luật Giáo dục đã quy định tên gọi cụ thể về tên gọi đối với từng đối
tượng nhà giáo căn cứ theo cấp học, bậc giảng dạy và công tác. Theo đó, nhà
giáo dạy ở các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề
nghiệp gọi là giáo viên. Như vậy, giáo viên THCS chính là nhà giáo giảng
dạy ở bậc học THCS.
Bộ GD & ĐT vừa Ban hành Quy định Chuẩn nghề nghiệp giáo viên
trung học cơ sở (THCS), giáo viên (THPT). Mục đích ban hành Quy định
nhằm giúp giáo viên trung học tự đánh giá phẩm chất chính trị, đạo đức lối
sống, năng lực nghề nghiệp, qua đó, làm cơ sở để đánh giá, xếp loại giáo viên
hằng năm phục vụ công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng
và sử dụng đội ngũ giáo viên trung học.
Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học gồm 6 tiêu chuẩn đó là: tiêu
chuẩn phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; năng lực tỡm hiểu đối tượng và
môi trường giáo dục; năng lực dạy học; năng lực giáo dục; năng lực hoạt
động chính trị, xã hội và năng lực phát triển nghề nghiệp. Đi kèm với mỗi tiêu
chuẩn là các tiêu chí rất cụ thể nhằm đánh giá đúng mức độ hoàn thành nhiệm
vụ. Tổng cộng có 25 tiêu chí.
Trong quy định này, vấn đề đạo đức, lối sống, tác phong, ứng xử với học
sinh, với đồng nghiệp được quy định rất cụ thể và được xem là tiêu chuẩn đầu
tiên trong việc đánh giá, công nhận chuẩn nghề nghiệp. Giáo viên trung học
phải yêu thương, tôn trọng, đối xử công bằng với học sinh, giúp học sinh khắc
phục khó khăn để học tập và rèn luyện tốt. Có lối sống lành mạnh, văn minh,
phù hợp với bản sắc dân tộc và môi trường giáo dục; có tác phong mẫu mực,
làm việc khoa học.
Về việc đánh giá, xếp loại giáo viên theo chuẩn, yêu cầu đầu tiên là phải
đảm bảo tính trung thực, khách quan, toàn diện, dân chủ và công bằng, phản
ánh đúng phẩm chất, năng lực dạy học và giáo dục của giáo viên trong điều

trạng thái chất lượng mới.
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo, quản lí giáo dục theo nghĩa tổng quát là
23
hoạt động điều hành phối hợp của các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy công
tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu xã hội. Quản lí là sự tác động liên tục có tổ
chức, có định hướng của chủ thể (người quản lí, tổ chức quản lí) lên khách thể
(đối tượng quản lí) về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế bằng một
hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các
biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của
đối tượng.
Về nội dung, thuật ngữ quản lí có nhiều cách hiểu khác nhau. Có ý kiến
cho rằng: quản lí là một hoạt động thiết yếu nẩy sinh khi con người lao động
và sinh hoạt tập thể nhằm thực hiện các mục tiêu chung của tập thể, tổ chức.
Hoạt động quản lí là nhân tố cần thiết, tất yếu để duy trì sự tồn tại và phát
triển của mọi quy mô và loại hình tổ chức người; từ một gia đình cho đến cấp
quốc gia, quốc tế; từ các tổ chức kinh tế, văn hoá, giáo dục, khoa học…đến
bất kì lĩnh vực hoạt độg nào của con người, nếu không được quản lí sẽ dẫn
đến tình trạng tự phát, hỗn loạn, kém hiệu quả. Trong nhiều trường hợp, hoạt
động quản lí được đồng nhất với hoạt động tổ chức.
Ý kiến khác lại cho rằng: quản lí là các hoạt động được thực hiện nhằm
bảo đảm sự hoàn thành công việc qua những nỗ lực của người khác. Quản lí
là công tác phối hợp có hiệu quả các hoạt động của những người cộng sự khác
cùng chung một tổ chức. Quản lí là một hoạt động thiết yếu đảm bảo những
nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm.
Những định nghĩa trên đây khác nhau về cách diễn đạt, nhưng đều chứa
đựng những nội dung cơ bản của quản lí. Quản lí phải bao gồm các yếu tố
sau:
- Phải có ít nhất một chủ thể quản lí là tác nhân tạo ra các tác động và ít
nhất là một đối tượng bị quản lí tiếp nhận trực tiếp các tác động của chủ thể
quản lí tạo ra và các khách thể khác chịu các tác động gián tiếp của chủ thể

hành một hoạt động nào đó. Thực ra, khái niệm phương pháp có thể được
hiểu rất khác nhau. Trong phạm vi và mức độ nghiên cứu ở đây, có thể hiều
25

Trích đoạn Những tồn tại Thực trạng công tác quy hoạch, lập kế hoạch phát triển đội ngũ Thực trạng công tác tuyển dụng, sử dụng giáo viên âm nhạc THCS Thực trạng về công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên âm nhạc Thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá, phát triển đội ngũ giáo
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status